Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Ngọc Lan, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Thị Hoài Thu, chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số 9380101.05) tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2022.

Về tính cấp thiết, nghiên cứu xuất phát từ thực trạng hậu quả chiến tranh hóa học do quân đội Hoa Kỳ tiến hành trong chiến dịch Ranch Hand (1961 - 1971). Hóa chất diệt cỏ chứa hàm lượng dioxin cao đã gây tổn thương phức tạp đến sức khỏe thể chất và tâm thần của hàng triệu người dân Việt Nam, kéo dài qua nhiều thế hệ với các chứng bệnh hiểm nghèo, dị tật bẩm sinh, vô sinh và suy giảm khả năng lao động. Nhiều nạn nhân là dân thường không có nguồn thu nhập, chi phí y tế và chăm sóc vượt quá khả năng tài chính của hộ gia đình, khiến họ trở thành nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong xã hội. Mặc dù quyền an sinh xã hội và quyền của người khuyết tật đã được khẳng định trong các văn kiện pháp lý quốc tế như Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (UDHR 1948), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR 1966), Công ước về quyền của người khuyết tật (CRPD 2007) và Hiến pháp Việt Nam năm 2013, khung pháp luật hiện hành của Việt Nam về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam vẫn chưa được quy định trong các văn bản có hiệu lực pháp lý cao như Bộ luật, Luật hay Pháp lệnh riêng biệt. Cơ chế điều chỉnh hiện nay chủ yếu dựa vào các văn bản dưới luật như Nghị định số 20/2021/NĐ-CP, trong đó người nhiễm chất độc da cam chưa được xác định là một chủ thể trợ giúp xã hội độc lập mà vẫn phải lồng ghép gián tiếp qua tư cách người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: trước thời điểm luận án hoàn thành, chưa có công trình khoa học nào tiếp cận một cách hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về pháp luật trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam trên cả phương diện lý luận và thực tiễn dưới góc độ một luận án tiến sĩ chuyên ngành luật học.

Mục tiêu tổng quát của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về trợ giúp xã hội và pháp luật trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam; đánh giá toàn diện thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành tại Việt Nam; từ đó đề xuất hệ thống yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật cùng các biện pháp nâng cao hiệu quả thực thi trong giai đoạn hiện nay. Để đạt được mục tiêu này, luận án giải quyết 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Thu thập, tổng quan và đánh giá các công trình khoa học liên quan để xác định các nội dung đã được giải quyết và các khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu;
  2. Nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về pháp luật trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam phù hợp với bối cảnh phát triển quốc gia và chuẩn mực quốc tế;
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam tại Việt Nam, chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân;
  4. Luận giải các yêu cầu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Luận án xác định 4 câu hỏi nghiên cứu đánh số tương ứng với kết cấu 4 chương:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1: Những quan điểm khoa học nào là nền tảng cho việc nghiên cứu pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia?
  • Câu hỏi nghiên cứu 2: Bản chất và những vấn đề lý luận nào tác động đến pháp luật trợ giúp xã hội và là nền tảng, cơ sở cho việc hình thành khung lý luận về pháp luật trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam?
  • Câu hỏi nghiên cứu 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam như thế nào? Những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó ra sao?
  • Câu hỏi nghiên cứu 4: Những yêu cầu nào đặt ra trong việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam; cần có những kiến nghị cơ bản nào để hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam?

Giả thuyết nghiên cứu của luận án: Hệ thống pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam dù đã được quan tâm và từng bước hình thành qua các thời kỳ lịch sử, song cơ sở lý luận vẫn chưa được làm sáng tỏ đầy đủ; các quy phạm pháp luật hiện hành còn tồn tại nhiều điểm bất cập, bỏ trống, chưa đáp ứng tương xứng với điều kiện kinh tế - xã hội; quá trình thực thi nảy sinh nhiều vướng mắc khiến hiệu quả trợ giúp còn hạn chế. Do đó, việc xác lập hệ thống cơ sở lý luận, chỉ rõ yêu cầu khách quan và đề xuất các kiến nghị lập pháp đồng bộ, bao quát là điều kiện tiên quyết để bảo đảm quyền con người, quyền an sinh xã hội cho người nhiễm chất độc da cam, giúp họ ổn định đời sống và hòa nhập cộng đồng.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam dưới góc độ khoa học pháp lý chuyên ngành Luật Kinh tế. Phạm vi không gian là lãnh thổ Việt Nam, có liên hệ và so sánh với chuẩn mực quốc tế cùng pháp luật của một số quốc gia. Phạm vi thời gian tập trung vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn áp dụng tính đến thời điểm nghiên cứu (trọng tâm là giai đoạn thi hành Nghị định số 20/2021/NĐ-CP). Về giới hạn nội dung, luận án không đi sâu vào diện đối tượng người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, con đẻ bị dị dạng, dị tật của họ và người phục vụ đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2012); nhóm đối tượng này chỉ được xem xét trên bình diện đối chiếu, so sánh nhằm làm sáng tỏ đối tượng hưởng trợ giúp xã hội theo pháp luật an sinh xã hội.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và điểm luận các công trình khoa học trong và ngoài nước theo 4 hướng nghiên cứu chính:

Hướng thứ nhất: Nghiên cứu về chất độc da cam và ảnh hưởng đối với sức khỏe con người.

  • Trong nước: Tác phẩm "Chất độc da cam dioxin và hệ quả" và "Thảm họa da cam ở Việt Nam" đã phân tích thành phần hóa học của chất da cam gồm 2,4,5-T và 2,4-D có lẫn dioxin gây biến đổi gen và enzyme; nghiên cứu của Nguyễn Như Phát và Nguyễn Thị Việt Hương trong "Trách nhiệm và hậu quả chất da cam/dioxin ở Việt Nam" ghi nhận lượng hóa chất rải xuống miền Nam giai đoạn 1961 - 1971 gây độc tế bào gan, thận, não và di truyền; luận án tiến sĩ y học của Trương Quang Đạt khảo sát bất thường sinh sản tại Phù Cát (Bình Định); luận án tiến sĩ kiến trúc của Lê Thị Bích Thuận về giải pháp kiến trúc cho người khuyết tật; luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Thị Báo về quyền của người khuyết tật; đề tài khoa học cấp nhà nước của Nguyễn Thế Lực chỉ ra độc tính của dioxin hòa tan trong mỡ và xâm nhập qua ba con đường (tiêu hóa, tiếp xúc trực tiếp qua da/niêm mạc, hô hấp); các nghiên cứu của Hoàng Bá Thịnh, Lê Thị Nhâm Tuyết, Phạm Hương Thảo, Văn Thị Huệ, Nguyễn Thị Điệp, Nguyễn Thị Huyền Trang, Nguyễn Thị Minh Thủy.
  • Quốc tế: Công trình "Veterans and Agent Orange" của Viện Y học Hoa Kỳ cung cấp danh mục các bệnh liên quan; bài viết của Alvin Lee Young trên tạp chí Military Medicine số 176 phân tích 10 căn bệnh của cựu chiến binh phơi nhiễm; J. Crouse nghiên cứu tác động thần kinh; Paolo Mocarelli cùng cộng sự chứng minh phơi nhiễm dioxin ở người cha làm giảm tỷ lệ sinh con trai; các nghiên cứu của Jason Grotto, Tim Jones, Martha Ann Overland, Nicole Fisher. Bên cạnh đó là các đạo luật của Hoa Kỳ như Đạo luật Cải cách Điều kiện Chăm sóc Sức khỏe của Cựu chiến binh năm 1996 (P.L. 104-262), Đạo luật Dịch vụ Y tế Omnibus năm 2010 (P.L. 111-163), Đạo luật Tiêu chuẩn Bồi thường năm 1984 (P.L. 98-542) và Đạo luật Chất độc da cam năm 1991 (P.L. 102-4).

Hướng thứ hai: Nghiên cứu lý luận pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam. Các tác giả tập trung làm rõ khái niệm bảo trợ xã hội và an sinh xã hội: Hoàng Kim Khuyên trong "Pháp luật về bảo trợ xã hội ở Việt Nam. Những vấn đề lí luận và thực tiễn"; Nguyễn Hiền Phương trong "Pháp luật an sinh xã hội – Những vấn đề lí luận và thực tiễn"; Lê Bạch Dương cùng cộng sự trong "Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam"; Lê Thị Hoài Thu trong "Quyền an sinh xã hội và đảm bảo thực hiện trong pháp luật Việt Nam"; Nguyễn Ngọc Toản nghiên cứu chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng; các bài viết của Nguyễn Ngọc Lan trên các tạp chí luật học chuyên ngành. Hướng nghiên cứu này cũng phân tích kinh nghiệm lập pháp của Armenia (Luật Bảo trợ xã hội người khuyết tật năm 1993, sửa đổi 2002, 2005), Liên bang Nga (Luật Bảo trợ xã hội người khuyết tật năm 1995, sửa đổi ngày 26/5/2021) và Nhật Bản (Đạo luật phúc lợi công, Đạo luật phúc lợi cho người khuyết tật).

Hướng thứ ba: Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành. Các nghiên cứu của Hoàng Kim Khuyên, Nguyễn Hiền Phương, Đỗ Thị Dung, Trần Thị Thúy Lâm, Nguyễn Vân Trang, Phan Thị Thúy, Nguyễn Thị Quỳnh phân tích các quy định về điều kiện hưởng, mức trợ cấp, thủ tục xác định dạng tật, giám sát thực hiện tại địa phương. Về khía cạnh y tế và chăm sóc cộng đồng, có các công trình của Đặng Nam Điền, Trần Ngọc Tâm, Thái Yến, Đức Trân và Carole A. về mô hình quản lý trường hợp.

Hướng thứ tư: Nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành. Nguyễn Như Phát và Nguyễn Thị Việt Hương đề xuất chính sách bồi thường và hỗ trợ y tế; Tô Đức nghiên cứu khung pháp luật cho trẻ em hoàn cảnh đặc biệt; Nguyễn Thế Lực đề xuất chế độ cho nạn nhân thế hệ thứ ba; Trần Thị Phương Anh đề xuất nhóm giải pháp chính sách và huy động nguồn lực; Nguyễn Thanh Hoài và Nguyễn Đức Hoàng kiến nghị mở rộng đối tượng và thành lập quỹ bảo trợ xã hội.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận dưới góc độ y học, môi trường, xã hội học hoặc nếu thuộc khoa học pháp lý thì chỉ nghiên cứu chung về bảo trợ xã hội, quyền của người khuyết tật hoặc chế độ ưu đãi người có công. Chưa có công trình nào xây dựng hệ thống lý luận chuyên biệt về pháp luật trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam, đánh giá toàn diện sự bất cập của cơ chế điều chỉnh hiện hành khi xếp chung nạn nhân da cam vào diện người khuyết tật thông thường, đồng thời thiết kế hệ thống giải pháp lập pháp (đặc biệt là đề xuất xây dựng Luật Trợ giúp xã hội) và tổ chức thi hành nhằm giải quyết quyền lợi cho cả các thế hệ nạn nhân thứ ba và thứ tư.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng hệ thống cơ sở lý thuyết đa ngành và liên ngành để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu:

  • Lý thuyết công bằng (Equity theory): Đòi hỏi hệ thống pháp luật trợ giúp xã hội phải bảo đảm tính tương xứng giữa nhu cầu thực tế của từng nhóm đối tượng với mức độ hỗ trợ của Nhà nước. Người nhiễm chất độc da cam mang tổn thương đặc thù kéo dài qua nhiều thế hệ, do đó nguyên tắc công bằng không phải là cào bằng mức hưởng mà phải phân loại theo mức độ tổn thương, hoàn cảnh kinh tế và vùng miền sinh sống.
  • Lý thuyết về quyền con người (Human rights theory): Xác định quyền được bảo đảm an sinh xã hội và trợ giúp xã hội là quyền cơ bản, vốn có của con người, được ghi nhận trong luật nhân quyền quốc tế và Hiến pháp. Nhà nước có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và thực hiện quyền này đối với nhóm người yếu thế do hậu quả chiến tranh mà không có sự phân biệt đối xử.
  • Lý thuyết xã hội và học thuyết Marx: Phân tích mối quan hệ giữa cơ cấu xã hội, quan hệ sản xuất và sự phân phối lại thu nhập quốc dân nhằm bảo vệ các nhóm yếu thế trước rủi ro sinh kế; kết hợp với các quan điểm xã hội học từ Khổng Tử, Mặc Tử, Montesquieu, Rousseau, Adam Smith, John Millar và Auguste Comte về trách nhiệm của nhà nước trong việc duy trì trật tự và liên kết xã hội.
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội và an sinh xã hội: Luận án quán triệt 5 nội dung căn bản: (1) Lấy con người làm gốc, làm trung tâm của mọi chính sách trợ giúp; (2) Đáp ứng nhu cầu, lợi ích chính đáng của từng nhóm đối tượng, tránh cào bằng; (3) Phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn; (4) Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và thụ hưởng, khắc phục tư tưởng ỷ lại; (5) Kết hợp hài hòa giữa yếu tố quốc gia và chuẩn mực quốc tế theo tinh thần hòa nhập nhưng không hòa tan.

Về phương pháp nghiên cứu: Luận án là công trình nghiên cứu định tính thuộc khoa học pháp lý, vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin cùng cách tiếp cận dựa trên quyền. Các phương pháp thu thập và xử lý thông tin cụ thể gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, hệ thống hóa và phân tích các tài liệu, giáo trình, công trình khoa học trong nước và quốc tế để xây dựng khung lý luận tại Chương 1 và Chương 2.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: Sử dụng tại Chương 2 và Chương 3 nhằm đối chiếu các quy định pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế của ILO, Liên Hợp Quốc và pháp luật của Armenia, Liên bang Nga, Nhật Bản, Hoa Kỳ, cũng như so sánh giữa các văn bản pháp luật qua các thời kỳ.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Triển khai xuyên suốt 4 chương để mổ xẻ nội dung các quy phạm pháp luật, đánh giá thực trạng cơ chế trợ giúp, chỉ ra bất cập và luận giải hệ thống kiến nghị hoàn thiện.
  • Phương pháp thống kê và quan sát: Thu thập, đối chiếu dữ liệu văn bản pháp quy, các số liệu thực tế về quy mô phun rải hóa chất, số lượng nạn nhân qua các thế hệ, mức trợ cấp và nguồn lực thực hiện tại Chương 1, Chương 2 và Chương 3.
  • Phương pháp phỏng vấn và tham khảo ý kiến chuyên gia: Khảo sát, phỏng vấn trực tiếp nạn nhân và thân nhân về thực tiễn thụ hưởng chế độ; tham vấn ý kiến của các chuyên gia pháp lý, nhà quản lý chính sách tại Chương 3 để làm luận cứ thực tiễn cho các đề xuất lập pháp.

Nguồn tư liệu nghiên cứu bao gồm: các văn kiện quốc tế (UDHR 1948, ICESCR 1966, CRPD 2007, các công ước và khuyến nghị của ILO); hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (Hiến pháp năm 2013, Luật Người khuyết tật năm 2010, Nghị định số 20/2021/NĐ-CP và các thông tư liên tịch); số liệu thống kê từ các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam); các báo cáo khoa học của đề tài nghiên cứu cấp nhà nước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu

Chương này trình bày bức tranh toàn diện về lịch sử nghiên cứu chất độc da cam và khung pháp lý trợ giúp xã hội. Tác giả phân tích tính chất đặc biệt nguy hiểm của chất da cam/dioxin, được phun rải trong chiến tranh với quy mô tàn phá môi trường sinh thái và sức khỏe con người kéo dài. Luận án phân tích tổng hợp các nhóm công trình trong nước và quốc tế, chỉ rõ các kết quả đã đạt được trong việc nhận diện bệnh tật và bảo đảm an sinh cho người khuyết tật. Đồng thời, tác giả khẳng định việc thiếu vắng một công trình nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở bậc tiến sĩ luật học là khoảng trống mà luận án tập trung giải quyết. Chương 1 cũng thiết lập khung lý thuyết nghiên cứu gồm lý thuyết công bằng, lý thuyết quyền con người, các học thuyết xã hội và 5 luận điểm cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về an sinh xã hội, làm cơ sở khoa học để trả lời 4 câu hỏi nghiên cứu và kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu đã đặt ra.

Dưới đây là bảng tổng hợp các dữ liệu lịch sử và số liệu thống kê thực tế về quy mô chiến tranh hóa học cùng số lượng nạn nhân được trích xuất trực tiếp từ văn bản luận án:

Tiêu chí thống kê Dữ liệu được ghi nhận trong luận án Nguồn dẫn trong văn bản
Tổng lượng chất diệt cỏ đã phun rải (1961 - 1971) 74,2 triệu lít (trong đó: 43,33 triệu lít chất da cam; 21,8 triệu lít chất trắng; 6,1 triệu lít chất xanh; 2,94 triệu lít chất tím, hồng, xanh lá mạ) [128, tr. 339]
Quy mô phi vụ phun rải 19.905 phi vụ [40, tr. 43]
Tổng diện tích bị ảnh hưởng 1,68 triệu ha đến 3,06 triệu ha (gần 1/4 diện tích miền Nam; 86% bị rải >2 lần, 11% bị rải >10 lần) [37], [40, tr. 43]
Mật độ phun rải bình quân 37,5 kg/ha (gấp 17 lần liều dùng trong nông nghiệp Hoa Kỳ) [37]
Lượng dioxin nguyên chất chứa trong chất da cam 366 kg dioxin [40, tr. 43]
Số lượng làng mạc bị phun rải trực tiếp 181 làng mạc [134], [40, tr. 43]
Số lượng dân cư ước tính bị phơi nhiễm Khoảng 2,1 đến 4,8 triệu người [134]
Số lượng nạn nhân thế hệ thứ 2 tại Việt Nam 150.000 người [38, tr. 13]
Số lượng nạn nhân thế hệ thứ 3 tại Việt Nam 35.000 người [38, tr. 13]
Số lượng nạn nhân thế hệ thứ 4 tại Việt Nam 2.000 người [38, tr. 13]

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về pháp luật trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

Chương 2 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm và khung lý luận nền tảng. Tác giả định nghĩa: Chất độc da cam là hỗn hợp hóa chất diệt cỏ gồm 2,4-D và 2,4,5-T chứa tạp chất siêu độc dioxin (TCDD). Người nhiễm chất độc da cam là những người bị phơi nhiễm trực tiếp hoặc gián tiếp với chất độc hóa học do quân đội Hoa Kỳ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam, bị suy giảm khả năng lao động, mắc bệnh tật hiểm nghèo, vô sinh, sinh con hoặc truyền sang các thế hệ con, cháu, chắt di chứng dị dạng, dị tật. Tiêu chí công nhận nạn nhân dựa trên hai yếu tố: nguyên nhân phơi nhiễm và danh mục bệnh tật được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.

Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam được luận án xác định là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân với người nhiễm chất độc da cam trong việc cung cấp các nguồn lực vật chất, chăm sóc y tế, phục hồi chức năng và dịch vụ công tác xã hội nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và hỗ trợ họ hòa nhập cộng đồng. Chương này phân tích 4 hình thức trợ giúp cơ bản: trợ giúp thường xuyên, trợ giúp khẩn cấp, chăm sóc nuôi dưỡng tại cộng đồng và chăm sóc nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội. Tác giả luận giải các nguyên tắc điều chỉnh pháp luật (kết hợp trách nhiệm nhà nước với xã hội hóa, bảo đảm công bằng, tiếp cận dựa trên quyền) và làm rõ 5 nhóm yếu tố tác động đến hiệu quả thực thi: điều kiện phát triển kinh tế, hệ thống chính sách chính trị - pháp lý, nhận thức xã hội, năng lực quản trị công và yếu tố địa lý, văn hóa, lối sống.

Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam

Chương 3 rà soát chi tiết toàn diện hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành và thực tiễn triển khai:

  • Trợ giúp xã hội thường xuyên: Thực hiện qua mức chuẩn trợ giúp xã hội và hệ số hưởng quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP. Điểm bất cập lớn là người nhiễm chất độc da cam chỉ được hưởng khi đáp ứng tiêu chí người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng theo Luật Người khuyết tật năm 2010. Mức trợ cấp còn thấp so với nhu cầu thực tế về thuốc men, chữa bệnh.
  • Trợ giúp xã hội khẩn cấp: Áp dụng khi nạn nhân gặp rủi ro thiên tai, dịch bệnh hoặc biến cố đột xuất, song quy trình rà soát, xét duyệt còn chậm, định mức hỗ trợ còn mang tính tạm thời.
  • Chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng: Chính sách hỗ trợ kinh phí chăm sóc cho gia đình có người khuyết tật đặc biệt nặng còn hạn chế, chưa tính đến gánh nặng bệnh tật kép ở các gia đình có từ 2 đến 3 thế hệ cùng bị phơi nhiễm.
  • Chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội: Điều kiện tiếp nhận vào các trung tâm bảo trợ xã hội công lập còn khắt khe; người nhiễm chất độc da cam chưa được quy định thành một nhóm đối tượng ưu tiên riêng biệt; cơ sở vật chất và trang thiết bị chuyên dụng phục hồi chức năng chưa đáp ứng yêu cầu.
  • Tổ chức thực hiện, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp: Bộ máy quản lý còn phân tán giữa ngành lao động - thương binh và xã hội với ngành y tế; công tác giám định y khoa phức tạp; thủ tục hành chính còn rườm rà; các chế tài xử lý hành vi gian lận hồ sơ và cơ chế giải quyết khiếu nại, tranh chấp chưa thực sự đồng bộ.

Đánh giá tổng quát, tác giả khẳng định hệ thống pháp luật đã tạo lập được lưới an sinh cơ bản cho nạn nhân, nhưng bộc lộ các hạn chế: thiếu văn bản luật thống nhất, mức trợ cấp chưa bảo đảm mức sống tối thiểu, bỏ sót thế hệ thứ ba và thứ tư không thuộc diện người có công, xã hội hóa nguồn lực chưa đạt hiệu quả cao. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ nguồn ngân sách nhà nước có hạn, mức độ di chứng bệnh lý phức tạp và sự chậm trễ trong việc đổi mới tư duy lập pháp an sinh xã hội.

Chương 4: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam

Chương 4 xác lập các yêu cầu có tính nguyên tắc và đề xuất các nhóm kiến nghị cụ thể:

  • Yêu cầu hoàn thiện: Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng về an sinh xã hội; phù hợp với các cam kết quốc tế về quyền con người và quyền của người khuyết tật; tương thích với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; hướng tới mục tiêu bao phủ toàn bộ các thế hệ nạn nhân; đẩy mạnh xã hội hóa và can thiệp y tế sớm.
  • Nhóm kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
    1. Xây dựng và ban hành Luật Trợ giúp xã hội, trong đó dành một chương hoặc các điều khoản riêng quy định địa vị pháp lý, tiêu chí xác định và quyền thụ hưởng của người nhiễm chất độc da cam;
    2. Tách bạch và riêng hóa quy định về trợ giúp xã hội thường xuyên và khẩn cấp phù hợp với đặc thù bệnh tật do dioxin;
    3. Bổ sung quy định cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho toàn bộ các thành viên trực tiếp chăm sóc nạn nhân trong hộ gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;
    4. Đưa người nhiễm chất độc da cam bị suy giảm khả năng tự phục vụ vào danh mục đối tượng được tiếp nhận nuôi dưỡng tập trung tại cơ sở trợ giúp xã hội mà không phụ thuộc vào điều kiện cô đơn không nơi nương tựa;
    5. Tăng mức chuẩn trợ cấp xã hội và tăng mức kinh phí hỗ trợ đối với cá nhân, hộ gia đình nhận chăm sóc, nuôi dưỡng nạn nhân tại cộng đồng;
    6. Hoàn thiện các chế tài hành chính, hình sự đối với hành vi trục lợi chính sách và thiết lập cơ chế tài phán giải quyết khiếu nại, tranh chấp an sinh xã hội minh bạch, thuận tiện.
  • Nhóm kiến nghị nâng cao hiệu quả thi hành:
    1. Đổi mới tổ chức quản lý nhà nước, tăng cường phối hợp liên ngành giữa Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế và Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam;
    2. Đổi mới nhận thức xã hội, loại bỏ định kiến và nâng cao trách nhiệm cộng đồng;
    3. Đẩy mạnh xã hội hóa công tác chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng;
    4. Nâng cấp cơ sở vật chất, nâng cao năng lực chuyên môn và chế độ đãi ngộ cho đội ngũ nhân viên công tác xã hội tại các trung tâm bảo trợ;
    5. Xây dựng và hoàn thiện khung giám sát, đánh giá, theo dõi kết quả thực hiện chính sách trợ giúp xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã tự công bố các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  1. Về mặt lý luận: Luận án đã làm sâu sắc thêm hệ thống lý luận khoa học pháp lý về an sinh xã hội và trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam. Công trình đã chuẩn hóa các khái niệm cơ bản gồm: chất độc da cam, người nhiễm chất độc da cam, trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam, pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam; phân tích rõ nội hàm các nguyên tắc, nội dung điều chỉnh và chỉ ra các nhóm yếu tố khách quan, chủ quan chi phối quá trình thực thi pháp luật.
  2. Về mặt thực tiễn: Luận án đã phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng các quy phạm pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam về: tiêu chuẩn xác định đối tượng, mức chuẩn trợ cấp, hệ số trợ cấp, nguồn quỹ chi trả, chế độ khám chữa bệnh, tổ chức bộ máy và xử lý vi phạm. Qua việc đối chiếu với các chuẩn mực quốc tế, tác giả đã chỉ ra các điểm bất cập, mâu thuẫn trong các quy định hiện hành, tạo lập cơ sở thực chứng khẳng định nhu cầu cấp thiết phải sửa đổi pháp luật.
  3. Về hệ thống yêu cầu: Luận chứng hệ thống các đòi hỏi khách quan đối với việc hoàn thiện pháp luật: đáp ứng mục tiêu bao phủ lưới an sinh xã hội của Nhà nước, bảo đảm tính tương thích với các công ước quốc tế, hài hòa với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm công bằng xã hội và tăng cường cơ chế phát hiện, can thiệp y tế sớm cho nạn nhân.
  4. Về hệ thống giải pháp, kiến nghị: Đề xuất định hướng lập pháp mang tính dài hạn là xây dựng Luật Trợ giúp xã hội; kiến nghị các nội dung sửa đổi cụ thể về riêng hóa chế độ thường xuyên và đột xuất, bổ sung cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người chăm sóc, mở rộng đối tượng thụ dưỡng tại các trung tâm bảo trợ, nâng mức hỗ trợ tài chính; đồng thời đề xuất 6 biện pháp đồng bộ nâng cao hiệu quả thi hành thông qua đổi mới quản lý, xã hội hóa y tế cộng đồng và thiết lập khung giám sát đánh giá chính sách.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án bị giới hạn bởi phạm vi nghiên cứu chuyên ngành Luật Kinh tế:

  • Luận án tập trung tiếp cận người nhiễm chất độc da cam dưới góc độ đối tượng của pháp luật trợ giúp xã hội (thuộc hệ thống pháp luật an sinh xã hội), không đi sâu phân tích chế độ ưu đãi người có công đối với người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng;
  • Nghiên cứu không đi sâu vào các khía cạnh bệnh lý y học thuần túy hoặc đo lường dịch tễ học lâm sàng chi tiết, mà chỉ sử dụng các kết luận y khoa đã được công nhận làm cơ sở xác định tiêu chí pháp lý;
  • Việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế mới dừng lại ở một số quốc gia tiêu biểu (Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Nhật Bản, Armenia) nhằm mục đích đối chiếu, chưa thực hiện so sánh diện rộng với tất cả các quốc gia có chính sách bồi thường chất độc quân sự.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ luận án:

  • Nghiên cứu cơ chế kết nối, chuyển tiếp giữa chính sách ưu đãi người có công với chính sách trợ giúp xã hội đối với nạn nhân chất độc da cam thế hệ thứ ba và thứ tư khi không còn người hưởng chế độ ưu đãi trực tiếp;
  • Nghiên cứu sâu về cơ chế tài chính bền vững và mô hình hợp tác công - tư trong việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội, chăm sóc phục hồi chức năng chuyên biệt cho nạn nhân chất độc da cam;
  • Đánh giá tác động lập pháp chi tiết và xây dựng dự thảo các điều khoản cụ thể của dự án Luật Trợ giúp xã hội trong tương lai.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với nhiều chủ thể:

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn cho Quốc hội, Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong quá trình rà soát, sửa đổi Nghị định số 20/2021/NĐ-CP, xây dựng dự án Luật Trợ giúp xã hội và ban hành các chính sách hỗ trợ nạn nhân da cam.
  • Cơ quan thực thi chính sách và giải quyết chế độ: Hỗ trợ cán bộ quản lý an sinh xã hội, chính quyền địa phương các cấp, ngành y tế và Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin các cấp nắm vững cơ sở pháp lý, từ đó nâng cao chất lượng thẩm định hồ sơ, giám định dạng tật và chi trả trợ cấp đúng đối tượng.
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học: Làm tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu chuyên sâu cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành luật học (Luật Kinh tế, Luật An sinh xã hội), công tác xã hội, xã hội học và chính sách công. Các phân tích về cơ sở lý thuyết và dữ liệu văn bản là nguồn tư liệu học thuật đáng tin cậy cho các nghiên cứu kế thừa.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao luận án khẳng định người nhiễm chất độc da cam chưa có vị thế pháp lý độc lập trong pháp luật trợ giúp xã hội hiện hành?
Trong hệ thống văn bản pháp quy hiện nay, chưa có Bộ luật, Luật hay Pháp lệnh riêng về trợ giúp xã hội. Tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP, người nhiễm chất độc da cam không được định danh là một nhóm đối tượng thụ hưởng độc lập mà phải thông qua diện người khuyết tật nặng hoặc người khuyết tật đặc biệt nặng theo Luật Người khuyết tật năm 2010. Điều này khiến tiêu chí xác định và mức độ hỗ trợ chưa bao quát được các dạng tổn thương sinh học và gánh nặng bệnh tật đặc thù của nạn nhân dioxin.

2. Di chứng chất độc da cam đã được ghi nhận truyền đến thế hệ thứ mấy ở Việt Nam theo số liệu của luận án?
Theo các báo cáo và số liệu thống kê được luận án dẫn dụng (cụ thể từ tài liệu của Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam), di chứng chất độc da cam ở nước ta đã truyền sang thế hệ thứ tư, với thống kê bước đầu gồm: 150.000 nạn nhân thuộc thế hệ thứ hai, 35.000 nạn nhân thuộc thế hệ thứ ba và khoảng 2.000 nạn nhân thuộc thế hệ thứ tư.

3. Khung lý thuyết của luận án dựa trên những trụ cột khoa học nào?
Luận án xây dựng trên 4 trụ cột lý thuyết chính: Lý thuyết công bằng (Equity theory); Lý thuyết về quyền con người (Human rights theory); Lý thuyết xã hội và học thuyết Marx về cơ cấu xã hội và phân phối giá trị thặng dư; cùng hệ thống 5 quan điểm chỉ đạo trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội và an sinh xã hội.

4. Luận án đề xuất giải pháp lập pháp mang tính nền tảng nào để giải quyết triệt để vấn đề trợ giúp xã hội cho nạn nhân da cam?
Kiến nghị lập pháp cốt lõi của luận án là Quốc hội cần sớm xây dựng và ban hành Luật Trợ giúp xã hội. Đạo luật này sẽ luật hóa đầy đủ các quan hệ xã hội về an sinh, trong đó có một chương hoặc các quy định riêng xác lập địa vị pháp lý, tiêu chuẩn xác định, chế độ trợ cấp thường xuyên, trợ giúp khẩn cấp và dịch vụ chăm sóc nuôi dưỡng chuyên biệt cho người nhiễm chất độc da cam.

5. Điểm khác biệt về phạm vi đối tượng giữa luận án này với các nghiên cứu về người có công là gì?
Luận án tập trung vào pháp luật trợ giúp xã hội (thuộc hệ thống bảo trợ xã hội) dành cho nạn nhân nhiễm chất độc da cam nói chung, đặc biệt là dân thường và các thế hệ con cháu bị di chứng. Luận án chủ động loại trừ việc phân tích sâu thực trạng thi hành chế độ ưu đãi người hoạt động kháng chiến và thân nhân đang hưởng trợ cấp theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung 2012).

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Ngọc Lan là công trình nghiên cứu chuyên khảo có tính hệ thống ở cấp độ tiến sĩ luật học về pháp luật trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam tại Việt Nam. Bằng việc phối hợp các phương pháp nghiên cứu định tính, so sánh pháp luật và phân tích thực tiễn, luận án đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, chỉ rõ các khoảng trống và bất cập của khung pháp lý hiện hành, đồng thời luận giải các yêu cầu khách quan trong việc bảo đảm quyền an sinh xã hội cho nạn nhân chiến tranh hóa học. Hệ thống kiến nghị lập pháp, trọng tâm là xây dựng Luật Trợ giúp xã hội cùng các giải pháp đổi mới quản trị và đẩy mạnh xã hội hóa, cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp phục vụ công tác hoàn thiện thể chế an sinh xã hội tại Việt Nam.