Luận án tiến sĩ pháp luật về đăng ký kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Luận án tiến sĩ nghiên cứu pháp luật về đăng ký kinh doanh ở việt nam hiện nay, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực luật học tại Việt Nam.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2016

168
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Luận án tiến sĩ pháp luật này tập trung nghiên cứu về đăng ký kinh doanh tại Việt Nam, một chủ đề quan trọng trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Luận án đã tổng hợp và phân tích các nghiên cứu trước đây về pháp luật Việt Nam liên quan đến thủ tục đăng ký kinh doanh, đồng thời so sánh với các quy định quốc tế. Các nghiên cứu nước ngoài, đặc biệt từ Ngân hàng Thế giới, đã chỉ ra những thách thức và cơ hội trong việc cải thiện môi trường kinh doanh, giúp Việt Nam học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia có quy định pháp luật hiệu quả hơn.

1.1. Nghiên cứu quốc tế

Các nghiên cứu quốc tế, như báo cáo Doing Business của Ngân hàng Thế giới, đã đánh giá thủ tục đăng ký kinh doanh tại nhiều quốc gia. Việt Nam được xếp hạng 108/185 về mức độ thuận lợi trong kinh doanh năm 2013, với 10 thủ tục và 34 ngày để thành lập doanh nghiệp. Các quốc gia như Singapore và Hồng Kông được đánh giá cao nhờ quy trình đơn giản và hiệu quả. Những nghiên cứu này cung cấp cơ sở để Việt Nam cải cách pháp luật kinh doanh, hướng tới môi trường kinh doanh thông thoáng hơn.

1.2. Nghiên cứu trong nước

Trong nước, các nghiên cứu tập trung vào việc phân tích Luật doanh nghiệp qua các giai đoạn (1999, 2005, 2014) và những thay đổi trong quy định pháp luật về đăng ký kinh doanh. Luận án chỉ ra những bất cập trong quy trình hiện tại, như sự phức tạp của thủ tục và thiếu sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật. Điều này gây khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình thành lập và hoạt động.

II. Lý luận về đăng ký kinh doanh

Luận án làm rõ các khái niệm cơ bản về đăng ký kinh doanh, bao gồm ý nghĩa, giá trị pháp lý và các yếu tố ảnh hưởng. Đăng ký kinh doanh được xem là quyền của các chủ thể kinh doanh, được Nhà nước bảo đảm thông qua quy định pháp luật. Luận án cũng phân tích sự điều chỉnh của pháp luật kinh doanh, bao gồm các nguyên tắc cơ bản và nội dung pháp lý liên quan.

2.1. Khái niệm và đặc điểm

Đăng ký kinh doanh là thủ tục pháp lý quan trọng để xác lập tư cách pháp nhân của doanh nghiệp. Nó bao gồm việc đăng ký thành lập, thay đổi nội dung đăng ký và các nghĩa vụ liên quan. Luận án nhấn mạnh rằng đăng ký kinh doanh không chỉ là thủ tục hành chính mà còn là công cụ để Nhà nước quản lý và giám sát hoạt động kinh doanh.

2.2. Nguyên tắc pháp luật

Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về đăng ký kinh doanh bao gồm tính minh bạch, công bằng và hiệu quả. Luận án chỉ ra rằng việc tuân thủ các nguyên tắc này giúp tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, thu hút đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế.

III. Thực trạng pháp luật và thực hiện

Luận án phân tích thực trạng pháp luật về đăng ký kinh doanh tại Việt Nam, từ Luật doanh nghiệp năm 1999 đến 2014. Những thay đổi trong quy định pháp luật đã mang lại nhiều cải tiến, nhưng vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là sự phức tạp của thủ tục và thiếu sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật.

3.1. Thực trạng pháp luật

Luận án chỉ ra rằng pháp luật Việt Nam về đăng ký kinh doanh đã có nhiều tiến bộ, nhưng vẫn còn những hạn chế. Ví dụ, quy trình đăng ký vẫn còn phức tạp, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Ngoài ra, sự thiếu đồng bộ giữa các văn bản pháp luật cũng là một vấn đề cần được giải quyết.

3.2. Thực trạng thực hiện

Việc thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh tại Việt Nam còn nhiều bất cập, như sự chậm trễ trong xử lý hồ sơ và thiếu sự minh bạch trong quy trình. Luận án đề xuất cần có những cải cách mạnh mẽ hơn để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.

IV. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện

Luận án đề xuất các phương hướng và giải pháp để hoàn thiện pháp luật về đăng ký kinh doanh tại Việt Nam. Các giải pháp bao gồm đơn giản hóa thủ tục, tăng cường sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

4.1. Phương hướng hoàn thiện

Luận án đề xuất cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, hướng tới mô hình đăng ký kinh doanh đơn giản và hiệu quả. Đồng thời, cần tăng cường sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật để tránh sự chồng chéo và mâu thuẫn.

4.2. Giải pháp cụ thể

Các giải pháp cụ thể bao gồm áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý đăng ký kinh doanh, đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý và tăng cường giám sát thực thi pháp luật. Những giải pháp này nhằm tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy phát triển kinh tế.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ pháp luật về đăng ký kinh doanh ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài luận án Chƣơng 2: Những vấn đề lý luận về đăng ký kinh doanh và pháp luật về đăng ký kinh doanh Chƣơng 3: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh ở Việt Nam Chƣơng 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đăng ký kinh doanh ở Việt Nam 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước Hoạt động ĐKKD là một hoạt động phổ biến và được thực hiện ở hầu hết các quốc gia. Do đó, việc nghiên cứu những quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh đã thu hút nhiều học giả, các nhà nghiên cứu trên thế giới nghiên cứu về vấn đề này để nhằm cải thiện môi trường kinh doanh với những quy trình, thủ tục đơn giản, linh hoạt hơn. Trên cơ sở đó, học viên đã lựa chọn một số các công trình nghiên cứu tiêu biểu ở các nước dẫn đầu về chỉ số môi trường kinh doanh hay các nước hợp tác toàn diện, cùng khu vực có điều kiện kinh tế đồng đều để giúp Việt Nam học hỏi, tham khảo kinh nghiệm và hoàn thiện pháp luật về đăng ký kinh doanh.

- Cuốn sách“Doing Buisness 2013”: Smarter regulations for small and medium size enterprises”[112]. Dự án và Báo cáo chung của Ngân hàng thế giới và Tổ chức tài chính Quốc tế về Môi trường kinh doanh nghiên cứu năm 2003 với nội dung nghiên cứu áp dụng phương thức đánh giá khách quan sự tác động của các quy định kinh doanh ở tầm vi mô tới các doanh nghiệp. Báo cáo nghiên cứu rất chi tiết với 10 tiêu chí để đưa ra nhận định về MTKD của 185 quốc gia. Khi đánh giá về quy trình, thủ tục ĐKKD bản báo cáo chỉ ra những nước có quy trình thủ tục mất nhiều thời gian gây phiền hà là những nước vùng Trung Đông và Bắc phi gồm: Argentina có 14 thủ tục, Bruniei có 15 thủ tục và mất 101 ngày để thành lập doanh nghiệp… Singapore và Đặc khu Hành chính Hồng Kông (Trung Quốc) tiếp tục có môi trường pháp lý thuận lợi nhất thế giới cho doanh nghiệp.

Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc cũng được xếp vào nhóm 20 nước đứng đầu thế giới về mức độ thuận lợi trong kinh doanh. Còn đối với Việt Nam theo bản báo cáo chỉ số MTKD năm 2013 Việt Nam xếp hạng 108/185 nền kinh tế. Theo bản báo cáo pháp luật quy định về thủ tục ĐKKD ở Việt Nam phải trải qua 10 thủ tục, và 34 ngày để thành lập và đưa doanh nghiệp đi vào hoạt động [112]. 7 Bản báo cáo về môi trường kinh doanh năm 2013 của Ngân hàng thế giới với mục đích chính là mang đến một cơ sở khách quan về hiểu biết và cải thiện môi trường pháp lý cho các doanh nghiệp địa phương thuộc các nền kinh tế trên khắp thế giới.Tuy nhiên, bản báo cáo mới chỉ dừng lại ở việc phân tích đánh giá dựa trên 10 tiêu chí, mà chưa có những phân tích sâu, cụ thể, kiến nghị về những quy định pháp luật trong hoạt động đăng ký kinh doanh.

Cũng là nghiên cứu về môi trường kinh doanh của Ngân hàng thế giới và Tổ chức tài chính Quốc tế năm 2014. Ngày 29/10/2014 World Bank đã phát hành báo cáo thường niên quan trọng về Môi trường kinh doanh lần thứ 12; “Doing business 2014:Understanding regulations for small and medium - size enterprises” Publisher: World Bank Publictions, 2012. Theo báo cáo, chỉ số xếp hạng môi trường kinh doanh thuận lợi của Việt Nam năm 2014 là 72 trên tổng số 189 quốc gia. Đây là kết quả của việc cải thiện hệ thống thông tin tín dụng quốc gia, giảm lãi suất tín dụng.

Đồng thời, trong thời gian qua, Chính phủ Việt Nam đã tạo điều kiện cho các công ty giảm bớt chi phí thuế bằng cách giảm mức thuế thu nhập doanh nghiệp. Những lĩnh vực mà Việt Nam đã cải cách trong quy định kinh doanh bao gồm: vay vốn (thông tin tín dụng), nộp thuế. Đặc khu hành chính Hong Kong Trung Quốc tiếp tục là quốc gia có môi trường kinh doanh với những thủ tục thông thoáng tạo cho doanh nghiệp khởi sự hoạt động nằm trong các nước dẫn đầu bởi họ đã có những cải cách để việc thành lập doanh nghiệp trở nên ít tốn kém hơn bằng việc hủy bỏ thuế vốn đánh vào các công ty nội. Tiếp tục nghiên cứu về MTKD bản báo cáo của Ngân hàng thế giới và Tổ chức tài chính Quốc tế năm 2015 đã bổ sung thêm một thành phố cho 11 nền kinh tế có số dân trên 100 triệu người.

Việc bổ sung thêm một thành phố cho phép có sự so sánh trong một quốc gia và cơ sở đối chiếu với những thành phố lớn khác. Báo cáo năm nay mở rộng phạm vi của 03 trong số 10 chủ đề của bộ chỉ số gồm: giải quyết tình trạng phá sản, bảo vệ nhà đầu tư nhỏ lẻ và tiếp cận tín dụng. Đồng thời bản báo cáo cũng đưa ra cách xếp hạng môi trường kinh doanh thuận lợi hiện nay dựa trên khoảng cách tới điểm cao nhất. Cách đo này cho biết khoảng cách từ mỗi nền kinh tế tới các thông lệ tốt nhất trên thế giới về quy định kinh doanh.

8 Điểm số cao cho thấy một môi trường kinh doanh hiệu quả và thể chế pháp lý mạnh mẽ hơn. Khoảng cách tới điểm cao nhất thể hiện khoảng cách từ kết quả hoạt động trong quy định kinh doanh của một nền kinh tế tới một tiêu chuẩn của thông lệ tốt nhất thông qua 31 chỉ số cho 10 chủ đề của MTKD (không bao gồm các chỉ số về quy định đối với thị trường lao động). Ví dụ: để bắt đầu một hoạt động kinh doanh, Ca-na-đa và Niu-di-lân yêu cầu thực hiện một số lượng thủ tục ít nhất (01), và để hoàn thành thủ tục đó Niu-di-lân cần lượng thời gian ngắn nhất (0,5ngày). Xlô-vê-ni-a có chi phí thấp nhất (0), Úc và Cô- lôm-bi-a cùng 110 nền kinh tế khác không có yêu cầu về số vốn đã góp tối thiểu [113].

Có thể thấy, bản báo cáo về MTKD của WB năm 2015 đã có sự thay đổi rất lớn, bởi lẽ sự thay đổi này nhằm mục đích mở rộng việc sử dụng dữ liệu của các nhà hoạch định chính sách và nhà nghiên cứu bằng cách tập trung nhiều hơn vào chất lượng pháp lý. Ngoài ra, bằng cách tiếp tục dựa vào dữ liệu và tăng cường công tác thu thập dữ liệu, nhóm lập báo cáo phân tích môi trường pháp lý cho kinh doanh và chỉ ra những kiến thức toàn diện để giúp chủ thể kinh doanh hiểu biết những quy định kinh doanh. Qua đó, nhóm báo cáo cũng phân tích những nguyên nhân gây đình trệ và những điểm thiếu linh hoạt trong hệ thống pháp lý và quy định cho các doanh nghiệp, đồng thời chỉ ra những gì cần phải thay đổi khi thiết kế cải cách. Chính phủ các nước có thể rà soát những kinh nghiệm của các nền kinh tế đã áp dụng những thông lệ quy định kinh doanh hiệu quả hơn và thực hiện tốt các chỉ số bằng cách mở rộng phạm vi đo lường về môi trường kinh doanh cũng như những lĩnh vực mới để xem xét cho lịch trình cải cách của họ.

Báo cáo đánh giá về tình hình đơn giản thủ tục hành chính ở Việt Nam do Tổ chức và Hợp tác và Phát triển Kinh tế Châu Âu (OECD) phát hành năm 2011:“Administrativie simplification in Việt Nam: Supporting the competitiveness of the Vietnamese economy” [102]. Đây được coi là bản báo cáo có cái nhìn rất toàn diện về MTKD ở Việt Nam qua các đề án cải cách thủ tục hành chính như Đề án 30 về đơn giản hóa thủ tục hành chính. Theo OECD, nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, do đó cần phải nỗ lực cải cách, hoàn thiện hệ thống pháp luật về môi trường đầu tư, kinh doanh tạo điều kiện, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài hơn nữa, tăng cường có các 9 cuộc đối thoại giữa Chính phủ và các doanh nghiệp trong và ngoài nước; cải thiện phương thức, thủ tục ĐKKD, rút ngắn thời gian, chi phí cho nhà đầu tư kinh doanh. Bản bản cáo chỉ ra rất rõ những ưu điểm và nhược điểm của môi trường kinh doanh, và đây có thể là những căn cứ giúp Việt Nam xây dựng, sửa đổi Luật doanh nghiệp năm 2014.

Cuốn sách “Understanding Company Law” của tác giả Philip Lipton, Abe Herzberg và Michelle Welsh, do Nhà xuất bản Thomson Reuters xuất bản năm 2012. Nội dung cuốn sách được tác giả nghiên cứu về Luật công ty năm 2001 của Australia, trong đó tác giả đã dành một phần để nghiên cứu những quy định của pháp luật về thủ tục thành lập doanh nghiệp tại Australia. Theo đó, chủ thể kinh doanh khi muốn thành lập doanh nghiệp phải làm thủ tục ĐKKD tại Ủy Ban Đầu tư và Chứng Khoán Australia (ASIC) bằng hình thức đăng ký kinh doanh qua mạng và trả phí cho ASIC là AUD 426. Luật công ty Australia quy định chủ thể kinh doanh phải đăng ký những thông tin cơ bản sau: Loại hình công ty, tên công ty, tên và địa chỉ của thành viên, chi nhánh, văn phòng, địa chỉ, trụ sở chính, thời gian bắt đầu hoạt động kinh doanh… sau khi nhận được hồ sơ thành lập công ty ASIC sẽ cấp cho công ty đăng ký một CAN (Australian Compay Number).

Thời gian để chủ thể kinh doanh hoàn thiện việc ĐKKD và nhận được giấy CAN chỉ mất 1 ngày. Theo các tác giả Philip Lipton, Abe Herzberg và Michelle Welsh phân tích quy trình ĐKKD tại Australia được thực hiện rất thông thoáng và không mất nhiều thời gian, kinh phí, là một quốc gia đứng đầu bảng về MTKD. Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ ra quy trình ĐKKD tại Australia từ luật thực định công ty năm 2001, chứ chưa có sự so sánh hoặc nêu ra những ưu điểm và nhược điểm của Luật công ty năm 2001. Bài báo “Licensing regimes East and West” của hai tác giả Anthony Ogus and Qing Zhang, đăng trên tạp chí International Review of Law and Economics số 25 năm 2005.

Nội dung của bài báo các tác giả đã tập trung phân tích, đánh giá vai trò của GPKD đối với hoạt động quản lý của nhà nước. Điều đáng lưu ý hai tác giả đã có cái nhìn đa chiều từ hoạt động quản lý GPKD từ những nước đang phát triển (Trung Quốc) đến những nước phát triển (Mỹ).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ pháp luật với tiêu đề "Đăng ký kinh doanh tại Việt Nam hiện nay" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình và các quy định liên quan đến việc đăng ký kinh doanh trong bối cảnh pháp lý hiện tại của Việt Nam. Tài liệu này không chỉ phân tích các bước cần thiết để thực hiện đăng ký kinh doanh mà còn chỉ ra những thách thức và cơ hội mà doanh nghiệp phải đối mặt. Đặc biệt, luận án còn nêu bật tầm quan trọng của việc tuân thủ pháp luật trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các khía cạnh liên quan đến pháp luật kinh doanh, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về kinh doanh lữ hành quốc tế và thực tiễn thực hiện ở việt nam, nơi cung cấp cái nhìn về quy định pháp lý trong lĩnh vực lữ hành. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định trong ngành bảo hiểm. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Khoá luận tốt nghiệp thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics của nhà đầu tư nước ngoài tại việt nam, để có cái nhìn tổng quát hơn về các quy định liên quan đến đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực logistics. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và nâng cao kiến thức về pháp luật kinh doanh tại Việt Nam.