Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu; Chương 2. Những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại; Chương 3. Thực trạng pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam; Chương 4.
Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM là vấn đề rộng và phức tạp, hiện nay còn có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau về vấn đề này. Với mục đích và trong phạm vi của đề tài luận án, bảo đảm an toàn trong HĐCTD là hoạt động của những chủ thể nhất định nhằm giữ (hay duy trì) được sự an toàn, bảo vệ cho HĐCTD không bị những thiệt hại do các tác nhân bên trong và bên ngoài NH tác động vào, đồng thời duy trì được một mức độ rủi ro có thể chấp nhận được. Bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM thông qua hai nội dung chủ yếu là phòng ngừa rủi ro và xử lý rủi ro.
Từ đó trước hết tác giả khảo sát các công trình nghiên cứu có liên quan đến bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM, tiếp đến là khảo sát các công trình nghiên cứu pháp luật về bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM, sau đó khảo sát các công trình nghiên cứu liên quan đến bảo đảm an toàn trong hoạt động cấp tín dụng tiếp cận ở góc độ phòng ngừa rủi ro và xử lý rủi ro. Tình hình nghiên cứu liên quan đến bảo đảm an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại Bảo đảm an toàn trong HĐCTD của NHTM thu hút sự quan tâm không chỉ của các cơ quan quản lý nhà nước, của các ngân hàng (NH), mà còn nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Trước hết, một số tác giả cố gắng giải mã thuật ngữ “an toàn” trong HĐNH trong mối liên hệ với an ninh tài chính nói chung. Cụ thể, tiến sĩ Vũ Đình Ánh, trong bài viết “An ninh tài chính trong hoạt động ngân hàng”1, cho rằng an ninh tài chính là khái niệm cơ bản để chỉ một tình trạng tài chính ổn định, an toàn và vững mạnh.
“An toàn” được hiểu là trạng thái không bị nguy hiểm từ phía các tác động bên trong và bên ngoài. Cách tiếp cận khác, tiến sĩ Lê Thị Thuỳ Vân trong bài viết “Bảo đảm an toàn tài chính trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam năm 2012-2013 và thách thức chính sách trong những năm tiếp theo”2 cho rằng “an toàn” được hiểu là việc duy trì được sự ổn định (tiếng Anh: stability) và lành mạnh (tiếng Anh: soundness) trên cơ sở đó sẽ giảm thiểu và hạn chế được rủi ro. Khác với các quan điểm trên, tác giả Nguyễn Văn Hưng, trong luận án tiến sĩ Kinh tế: “Giải pháp hoàn thiện quy chế bảo đảm an toàn trong cho vay của các ngân hàng thương mại Việt Nam”3, rút ra quan niệm về an toàn trong hoạt động cho vay là việc NH thu hồi được đầy đủ và đúng hạn số tiền đã cho vay (cả gốc và lãi). Cùng với đó, an toàn 1 Vũ Đình Ánh, “An ninh tài chính trong hoạt động ngân hàng”, Tạp chí Tài chính tháng 9 năm 2001.
2 Lê Thị Thuỳ Vân, “Bảo đảm an toàn tài chính trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam năm 2012-2013 và thách thức chính sách trong những năm tiếp theo”, Tạp chí Ngân hàng, số 1,2 tháng 01 năm 2014. 3 Nguyễn Văn Hưng (2003), Giải pháp hoàn thiện quy chế bảo đảm an toàn trong cho vay của các ngân hàng thương mại Việt Nam”, luận án tiến sỹ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội. 7 trong cho vay còn bao hàm cả việc bảo đảm cho sự phát triển ổn định của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế. Như vậy, hai tác giả Nguyễn Văn Hưng và Lê Thị Thuỳ Vân đều khẳng định khía cạnh quan trọng của an toàn là sự ổn định.
Tuy nhiên tác giả Nguyễn Văn Hưng có đề cập trực tiếp đến an toàn trong cho vay thông qua việc NH thu hồi được số tiền gốc và lãi cho vay. Theo quan điểm của tác giả luận án, “an ninh” và “an toàn” là những thuật ngữ có liên quan mật thiết với nhau, nhiều lúc có thể được sử dụng tương đồng với nhau, nhưng không đồng nhất với nhau, bởi lẽ cả hai thuật ngữ trên đều chỉ một “trạng thái” của một chủ thể (hay một hoạt động) nhất định mà không bị nguy hiểm từ các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động vào. Tuy nhiên thuật ngữ an ninh (tiếng Anh là security) khác với an toàn (tiếng Anh là safety) ở chỗ nó chỉ những mức độ chống lại hoặc bảo vệ từ các tác nhân nguy hại và được sử dụng khá rộng trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, trong khi đó an toàn lại được hiểu ở góc độ được bảo vệ trước những nguy hiểm trong phạm vi rủi ro có thể chấp nhận được. Quan niệm của tác giả Nguyễn Văn Hưng đã phân tích rất cụ thể về tiêu chí an toàn trong cho vay thông qua việc NH thu hồi gốc và lãi cho vay.
Song đây lại là cách tiếp cận khá hẹp về an toàn, vì nếu NH chỉ thu hồi gốc và lãi số tiền đã cho vay thì đó mới chỉ là mục tiêu phòng tránh được rủi ro tín dụng vốn dĩ ảnh hưởng đến khả năng thu hồi vốn gốc và lãi cấp tín dụng. Trong khi đó rủi ro trong HĐCTD bao hàm cả rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro vận hành và các rủi ro khác. Chính vì vậy, vẫn cần phải có một cách tiếp cận khoa học hơn về an toàn trong HĐCTD của NHTM. Bên cạnh những công trình nêu trên, một số nhà khoa học nghiên cứu bản chất của bảo đảm an toàn trong HĐCTD của các NHTM.
Tác giả Phạm Thanh Chung, trong luận văn thạc sĩ “Pháp luật bảo đảm an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam”4, cho rằng: bảo đảm an toàn trong HĐCTD là việc các TCTD thực hiện các biện pháp nhất định theo quy định của pháp luật và yêu cầu của hoạt động tín dụng sao cho bảo đảm cho HĐCTD an toàn và hiệu quả. Khác với cách tiếp cận nêu trên, trong luận văn thạc sĩ “Pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại tại Việt Nam – thực trạng và hướng hoàn thiện”5, tác giả Tạ Chương Lâm không nêu định nghĩa về bảo đảm an toàn trong HĐNH, mà tiếp cận bảo đảm an toàn dưới góc độ quản trị rủi ro trong HĐNH. Một cách tiếp cận khác đáng chú ý về bảo đảm an toàn trong HĐNH là nghiên cứu của tác giả Lê Văn Luyện trong luận án tiến sĩ Kinh tế: “Những giải pháp đảm bảo an Phạm Thanh Chung (2005), Pháp luật bảo đảm an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng 4 ở Việt Nam, luận văn thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. 5 Tạ Chương Lâm (2009), Pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại tại Việt Nam – thực trạng và hướng hoàn thiện, luận văn thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật TP.
Hồ Chí Minh. 8 toàn cho hoạt động ngân hàng Việt Nam trong điều kiện hội nhập với hệ thống tài chính, tiền tệ quốc tế”6. Theo tác giả Lê Văn Luyện, đảm bảo an toàn cho HĐNH trong điều kiện hội nhập với hệ thống tài chính, tiền tệ quốc tế là việc đảm bảo các điều kiện cần thiết và trợ giúp cho HTNH nâng cao sức cạnh tranh, duy trì được sự phát triển bền vững, hiệu quả trong quá trình hội nhập quốc tế. Cách tiếp cận này phân tích bảo đảm an toàn trong HĐNH gắn với yêu cầu của quá trình hội nhập NH, thông qua đó nhấn mạnh các yếu tố cạnh tranh, phát triển bền vững và hiệu quả trong HĐNH.
Tác giả Kim Thị Huyền, trong luận văn thạc sĩ Luật học “Vấn đề bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng gắn với quyền tự do kinh doanh của các tổ chức tín dụng,7 cho rằng bảo đảm an toàn trong HĐNH là những quy phạm pháp luật mà Nhà nước đặt ra nhằm quản lý, xác lập và tăng cường sự an toàn, hiệu quả trong các hoạt động huy động vốn, cấp tín dụng, kinh doanh ngoại tệ và cung cấp các dịch vụ thanh toán của các TCTD. Theo tác giả luận án, nếu coi an toàn trong HĐCTD là trạng thái không bị nguy hiểm từ các tác nhân bên trong và bên ngoài theo một mức độ rủi ro có thể chấp nhận được, thì bảo đảm an toàn trong HĐCTD là hoạt động của những chủ thể nhất định nhằm giữ (hay duy trì) được sự an toàn, bảo vệ cho HĐCTD không bị những thiệt hại do các tác nhân bên trong và bên ngoài NH tác động vào, đồng thời duy trì được một mức độ rủi ro có thể chấp nhận được. Một vấn đề được đặt ra là những chủ thể nào có trách nhiệm bảo đảm an toàn trong HĐCTD? Tác giả Phạm Thanh Chung khẳng định chỉ NHTM là có trách nhiệm bảo đảm an toàn trong HĐCTD. Ngược lại, tác giả Nguyễn Văn Hưng (trong luận án mà đã được đề cập ở phần trên) cho rằng trách nhiệm bảo đảm an toàn trong HĐNH không chỉ thuộc về từng NH, mà còn là trách nhiệm của Quốc hội, Chính phủ và Ngân hàng trung ương.
Đây là một vấn đề khá quan trọng nên cần được làm sáng tỏ dưới góc độ lý luận. Đồng thời, không thể coi bảo đảm an toàn trong HĐCTD chỉ là việc quản trị rủi ro như tác giả Tạ Chương Lâm phân tích, bởi lẽ quản trị rủi ro là hoạt động cụ thể của NH nhằm nhận diện, đo lường, kiểm soát và hạn chế rủi ro – vốn dĩ hẹp hơn so với khái niệm bảo đảm an toàn trong HĐCTD. Không những vậy, vấn đề cạnh tranh, phát triển bền vững và hiệu quả HĐNH luôn gắn liền với an toàn trong HĐCTD của NHTM, song nếu tiếp cận sự an toàn trong HĐCTD dưới các góc độ nêu trên của tác giả Lê Văn Luyện thì sẽ cần được tiếp tục nghiên cứu rõ hơn.