Tổng quan về luận án
Nghiên cứu về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước và mở rộng dân chủ trực tiếp là một trong những trọng tâm hàng đầu của khoa học pháp lý hiện đại. Luận án tiến sĩ Luật học chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính (Mã số: 9.02) với đề tài "Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ thực tiễn các tỉnh Đông Nam Bộ" do nghiên cứu sinh Vũ Văn Phong thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lê Thị Hương tại Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2022), là công trình tiên phong tiếp cận toàn diện hoạt động phản biện xã hội (PBXH) dưới góc độ thể chế hiến định và pháp luật hành chính thực thi.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi xuất phát từ sự bất cập giữa quy định pháp lý và hiệu lực thực tế: dù Điều 9 Hiến pháp năm 2013 và Điều 32 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 đã hiến định và luật hóa chức năng PBXH, nhưng trong thực tiễn tại các địa phương trọng điểm kinh tế phía Nam, hoạt động này vẫn còn "khá mờ nhạt, còn nhiều hạn chế", mang tính hình thức, hành chính hóa và chủ yếu dừng lại ở mức độ góp ý văn bản thụ động khi có yêu cầu. Luận án đặt ra hệ thống 03 câu hỏi nghiên cứu và 02 giả thuyết khoa học:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Cơ sở lý luận hiến pháp - hành chính và các yếu tố cấu thành nào bảo đảm tính độc lập, khách quan và hiệu lực pháp lý bắt buộc của PBXH do Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) thực hiện?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Thực tiễn triển khai PBXH đối với dự thảo văn bản của chính quyền địa phương tại 6 tỉnh, thành phố vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2014–2021 bộc lộ những điểm nghẽn thể chế và sự chênh lệch năng lực giữa ba cấp chính quyền (tỉnh, huyện, xã) như thế nào?
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Cần thiết lập mô hình thể chế, cơ chế giải trình bắt buộc và quy trình pháp lý nào nhằm nâng cao giá trị thực thi của các văn bản kiến nghị sau phản biện?
- Giả thuyết nghiên cứu 1 (H1): Mức độ độc lập về tổ chức - ngân sách và sự minh bạch trong quy chế phản hồi - giải trình của cơ quan soạn thảo tương quan thuận với hiệu lực thực tế của các kiến nghị PBXH.
- Giả thuyết nghiên cứu 2 (H2): Việc phân định ranh giới pháp lý minh thị giữa "góp ý hành chính thông thường" và "phản biện xã hội có giá trị phản hồi bắt buộc" sẽ xóa bỏ căn bản tính hình thức trong quy trình ban hành chính sách công tại địa phương.
Khung lý thuyết của luận án tích hợp học thuyết chủ quyền nhân dân, lý thuyết nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), lý thuyết phê phán xã hội và lý thuyết hành vi thể chế. Về phạm vi nghiên cứu, luận án tập trung khảo sát hoạt động PBXH trực tiếp của hệ thống Ủy ban MTTQ Việt Nam ở 3 cấp hành chính (tỉnh, huyện, xã) đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), quy hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của chính quyền địa phương trên địa bàn 6 tỉnh, thành phố vùng Đông Nam Bộ (TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh) trong khung thời gian từ ngày 01/01/2014 (khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực) đến tháng 12/2021.
Literature Review và Positioning
Tổng quan y văn trong và ngoài nước cho thấy sự phát triển đa tầng của các dòng tư tưởng về dân chủ và phản biện:
Dòng nghiên cứu triết học chính trị và dân chủ phương Tây: Jean-Jacques Rousseau trong tác phẩm kinh điển Bàn về khế ước xã hội [45] đã đặt nền móng cho học thuyết chủ quyền nhân dân tối thượng, coi hội nghị toàn dân là cơ chế "bộ hãm hữu hiệu" ngăn ngừa sự lạm quyền của chính quyền ủy thác. Tiếp nối mạch tư duy này, Thomas Meyer và Nicole Breyer trong Tương lai của nền dân chủ xã hội [165] đã phê phán sự phiến diện của dân chủ tân tự do hình thức, đề cao nền dân chủ xã hội thực chất với sự tham gia chủ động của các thiết chế đại diện cộng đồng. Michael Walzer trong Interpretation and Social Criticism [169] xây dựng khung triết học về phê phán xã hội như một hoạt động nội tại của đời sống đạo đức - chính trị, trong khi Roy Van Den Brinkbudgen [105] cung cấp nền tảng phân tích cấu trúc lập luận và chứng cứ trong tư duy phản biện khoa học.
Dòng nghiên cứu thể chế và kiểm soát quyền lực tại Việt Nam: Các học giả hàng đầu như Đào Trí Úc [129, 130], Trần Ngọc Đường và Chu Văn Thành [34], Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương [111] đã phân tích sâu sắc cơ chế giám sát xã hội đối với bộ máy nhà nước, yêu cầu phân định rành mạch 3 khu vực: Đảng (Nhà nước) – Thị trường – Xã hội, đồng thời cảnh báo nguy cơ "nhà nước hóa", "hành chính hóa" tổ chức Mặt trận. Về bản chất và phương thức PBXH, các công trình của Bùi Xuân Đức [33], Trần Hậu [47, 49], Vũ Hồng Anh [1], Hồ Bá Thâm và Nguyễn Thị Tường Vân [112], Phạm Quang Tú và Đặng Hoàng Giang [126], Đoàn Minh Huấn [59] đã làm rõ các chiều kích chính trị - xã hội, khẳng định PBXH là công cụ chuyển tải ý chí nhân dân, kiểm soát quyền lực sau ủy quyền và giải tỏa xung đột xã hội.
Tranh luận khoa học và định vị nghiên cứu: Y văn tồn tại hai luồng quan điểm đối lập: (1) Nhóm tiếp cận pháp lý thực định (Lê Thị Thiều Hoa, Ngô Sách Thực) coi PBXH là chức năng - quyền hiến định đặc thù của MTTQ cần được quy phạm hóa chặt chẽ; (2) Nhóm tiếp cận xã hội học chính trị (Trần Hậu, Đoàn Nam Đàn) nhấn mạnh tính phong trào quần chúng, tính hiệp thương độc lập vượt ra ngoài các rào cản hành chính. Luận án định vị tại điểm giao thoa giữa luật hiến pháp và hành chính học ứng dụng, giải quyết khoảng trống then chốt: thiếu vắng một cơ chế quy trách nhiệm giải trình pháp lý bắt buộc đối với cơ quan soạn thảo khi tiếp nhận phản biện tại các vùng đô thị - công nghiệp phát triển năng động.
So sánh quốc tế:
- So với mô hình Hội đồng Kinh tế, Xã hội và Môi trường (CESE) của Cộng hòa Pháp – một định chế tham vấn hiến định độc lập đại diện cho các nghiệp đoàn, tổ chức dân sự có quyền đưa ra khuyến nghị bắt buộc chính phủ phải phản hồi, cơ chế PBXH của MTTQ Việt Nam sở hữu mạng lưới rộng khắp 3 cấp nhưng lại thiếu các chế tài pháp lý độc lập về thời hạn và trách nhiệm giải trình.
- So với mô hình Tham vấn thể chế kiểu Bắc Âu (Nordic Neo-corporatism) nơi các hiệp hội xã hội tham gia trực tiếp vào việc định hình dự thảo luật với dữ liệu phản biện độc lập, quy trình PBXH ở cấp địa phương của Việt Nam còn phụ thuộc sâu vào nguồn lực tài chính và nhân sự của ngân sách nhà nước cùng cấp.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án đã mở rộng học thuyết kiểm soát quyền lực nhà nước trong nền dân chủ XHCN thông qua việc hệ thống hóa và làm sâu sắc 5 đặc tính cốt lõi của PBXH do MTTQ Việt Nam thực hiện: Tính chính trị, Tính quyền lực nhân dân, Tính pháp lý, Tính xã hội rộng rãi, và Tính độc lập - khách quan - khoa học. Luận án chứng minh luận điểm: PBXH của MTTQ không đại diện cho sự đối kháng quyền lực mang tính đối lập chính trị, mà là phương thức kiểm soát bên ngoài (external social oversight) mang tính xây dựng, nhằm "làm cho các khuynh hướng kinh tế, văn hóa, chính trị trở nên khoa học hơn, đúng đắn hơn và gần gũi với đời sống con người hơn" [127].
[Hiến pháp 2013 & Luật MTTQ 2015]
Lập luận, đối thoại, kiến nghị PBXH
Mô hình lý thuyết của luận án xác lập mối quan hệ tương tác giữa 4 cấu thành: Chủ thể phản biện (Ủy ban MTTQ các cấp) – Khách thể/Đối tượng phản biện (Dự thảo VBQPPL, quy hoạch, đề án kinh tế - xã hội) – Nội dung phản biện (Tính cần thiết, tính hợp hiến, tính khả thi, tác động xã hội) – Cơ chế phản hồi/Chế tài pháp lý (Nghĩa vụ tiếp thu, giải trình của cơ quan hành chính).
Khung phân tích độc đáo
Luận án tích hợp 03 lý thuyết nền tảng: Lý thuyết Khế ước xã hội của Rousseau, Lý thuyết Phê phán xã hội của Walzer và Học thuyết Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Phương pháp tiếp cận phân tích cấu trúc - chức năng kết hợp phân tích thể chế so sánh cho phép đánh giá hiệu năng PBXH qua 3 cấp độ:
- Cấp độ Thể chế (Macro level): Khung pháp lý hiến định, Luật MTTQ 2015, Quyết định số 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị và các nghị quyết liên tịch.
- Cấp độ Tổ chức (Meso level): Cơ cấu bộ máy Ủy ban MTTQ cấp tỉnh, huyện, xã; hoạt động của các Hội đồng tư vấn, Ban tư vấn và việc huy động chuyên gia, nhà khoa học.
- Cấp độ Hành vi - Tác động (Micro level): Thực tế xử lý văn bản, chất lượng các bản kiến nghị phản biện và hành vi tiếp thu/giải trình của Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp.
Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác định rõ: giới hạn trong hoạt động PBXH trực tiếp của hệ thống chuyên trách Ủy ban MTTQ Việt Nam đối với dự thảo văn bản của chính quyền địa phương, không mở rộng sang các hình thức giám sát xã hội tổng quát hay các hoạt động dân nguyện thuần túy.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án vận dụng thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể và thực tiễn. Nghiên cứu sử dụng thiết kế hỗn hợp đa tầng (Multi-level Mixed-Methods Design), kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu tài liệu pháp lý định tính và điều tra xã hội học định lượng diện rộng nhằm đối chiếu giữa quy định pháp luật (law in books) và pháp luật trong thực tiễn hành động (law in action).
Quy trình nghiên cứu rigorous
Chiến lược chọn mẫu điều tra xã hội học được thiết kế phân tầng ngẫu nhiên (stratified random sampling) đại diện cho 3 tiểu vùng phát triển của vùng Đông Nam Bộ: TP. Hồ Chí Minh (đô thị đặc biệt, trung tâm tài chính), Bà Rịa - Vũng Tàu (công nghiệp - cảng biển - dịch vụ dầu khí), Tây Ninh (địa bàn biên giới, công - nông nghiệp đang phát triển).
Tổng quy mô mẫu đạt 1.200 phiếu khảo sát hợp lệ, phân bổ đồng đều 400 phiếu/địa phương. Đối tượng khảo sát bao gồm: cán bộ, công chức làm việc tại cơ quan chính quyền địa phương (HĐND, UBND), cán bộ chuyên trách Đảng, cán bộ cơ quan Ủy ban MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội ở cả 3 cấp hành chính (tỉnh, huyện, xã).
Quy trình bảo đảm độ giá trị và độ tin cậy được thực hiện qua tam giác hóa dữ liệu (data triangulation): đối chiếu chéo giữa kết quả khảo sát 1.200 phiếu với báo cáo tổng kết giai đoạn 2014–2021 của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Ủy ban MTTQ 6 tỉnh ĐNB và văn bản giải trình thực tế của UBND các cấp.
Data và phân tích
Dữ liệu định lượng từ 1.200 phiếu được làm sạch, mã hóa và xử lý bằng phần mềm thống kê chuyên ngành xã hội học (SPSS), sử dụng các kỹ thuật thống kê mô tả (descriptive statistics), phân tích bảng chéo (cross-tabulation) và so sánh tần số tương đối giữa các cấp hành chính:
- Độ bao phủ mẫu: 100% các nhóm đối tượng mục tiêu tại 3 cấp chính quyền (tỉnh, huyện, xã) đều tham gia đầy đủ, bảo đảm độ phân hóa chính xác về mặt địa lý và thẩm quyền hành chính.
- Phân tích độ tin cậy: Thang đo các yếu tố cản trở hiệu quả PBXH và thang đo giải pháp đạt hệ số nhất quán nội tại cao, phản ánh chính xác thực trạng thực thi pháp luật.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Dữ liệu điều tra thực chứng và tổng kết văn bản pháp lý tại 6 tỉnh Đông Nam Bộ đã cung cấp 4 phát hiện đột phá:
1. Nghịch lý thể chế về tính bắt buộc của PBXH: Mặc dù Điều 32 Luật MTTQ Việt Nam năm 2015 khẳng định vai trò bảo đảm tính đúng đắn, khoa học của văn bản, khảo sát 1.200 mẫu chỉ ra rằng việc tiếp nhận phản biện tại cơ sở còn mang nặng tính đối phó. Nhiều cơ quan soạn thảo gửi dự thảo văn bản đến MTTQ quá sát ngày ban hành (thậm chí chỉ trước 2–3 ngày), biến quy trình PBXH thành hoạt động "hợp thức hóa thủ tục hành chính".
2. Khoảng cách phân tầng sâu sắc giữa 3 cấp hành chính: Khảo sát thực tế cho thấy sự phân hóa nghiêm trọng về tần suất và chất lượng PBXH. Cấp tỉnh tổ chức bài bản nhờ hệ thống Hội đồng tư vấn tập hợp chuyên gia, nhà khoa học; ngược lại, ở cấp huyện và đặc biệt là cấp xã, hoạt động PBXH gần như bị tê liệt. Số liệu thực tế ghi nhận nhiều năm liền MTTQ cấp xã tại một số huyện không tổ chức được bất kỳ cuộc PBXH độc lập nào, chỉ dừng lại ở việc chuyển tiếp công văn góp ý kiến.
3. Hiện tượng né tránh, ngại va chạm do xung đột lợi ích tổ chức: Luận án phát hiện nguyên nhân tâm lý - thể chế: cán bộ Mặt trận cấp huyện, xã hưởng lương từ ngân sách địa phương và chịu sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy cùng cấp, dẫn đến tâm lý "e dè, né tránh, ngại đụng chạm" đối với các dự thảo quy hoạch đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng, quản lý trật tự đô thị – vốn là những vấn đề nóng bỏng nhất tại vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ.
4. Hình thức phản biện đơn điệu, thiếu vắng cơ chế phản biện độc lập: Hình thức PBXH chủ yếu (chiếm đa số tuyệt đối) là tổ chức hội nghị lấy ý kiến hoặc gửi văn bản lấy ý kiến đóng góp; hình thức đối thoại trực tiếp hoặc tổ chức phản biện độc lập có phản biện - phản bác đa chiều chưa được vận dụng đầy đủ.
Implications đa chiều
- Về mặt lý luận: Bổ sung vào khoa học luật hiến pháp hệ thống tiêu chí định lượng và định tính nhằm đánh giá mức độ độc lập tương đối của các tổ chức chính trị - xã hội trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
- Về mặt lập pháp: Đặt ra yêu cầu cấp bách phải sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật MTTQ Việt Nam theo hướng luật hóa chế tài: Văn bản quy phạm pháp luật thuộc diện bắt buộc PBXH nếu không có văn bản nhận xét của MTTQ và báo cáo giải trình của cơ quan soạn thảo thì không đủ điều kiện trình HĐND hoặc UBND thông qua.
- Về mặt quản trị công: Cung cấp lộ trình chuẩn hóa quy trình 5 bước thực hiện PBXH tại chính quyền địa phương: Lập danh mục văn bản phản biện hàng năm -> Chuyển giao hồ sơ đúng thời hạn tối thiểu (ít nhất 15-20 ngày) -> Tổ chức nghiên cứu, hội thảo chuyên gia -> Ban hành văn bản kiến nghị PBXH chính thức -> Theo dõi, giám sát văn bản giải trình công khai của UBND.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn chỉ ra các giới hạn nghiên cứu:
- Giới hạn không gian: Địa bàn khảo sát thực chứng chuyên sâu tập trung vào 3/6 tỉnh, thành phố Đông Nam Bộ (TP.HCM, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh); mặc dù có tính đại diện cao cho các mô hình kinh tế, kết quả cần được kiểm chứng thêm tại các vùng sinh thái - chính trị khác (như Tây Bắc, Tây Nguyên hoặc Đồng bằng sông Cửu Long).
- Giới hạn chủ thể: Luận án tập trung chủ yếu vào hoạt động PBXH trực tiếp của bộ máy Ủy ban MTTQ 3 cấp, chưa đi sâu khảo cứu hoạt động phản biện độc lập của các tổ chức thành viên liên minh (như Hội đồng Luật gia, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật).
Chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo (Future Research Agenda) cần tập trung vào:
- Xây dựng chỉ số đánh giá năng lực phản biện xã hội (Social Critique Competency Index - SCCI) áp dụng cho chính quyền các cấp.
- Tác động của chuyển đổi số, mạng xã hội và các nền tảng tham vấn công dân trực tuyến đối với quy trình PBXH của MTTQ.
- Cơ chế bảo vệ pháp lý và khuyến khích kinh tế cho các nhà khoa học, chuyên gia độc lập khi tham gia các Hội đồng PBXH chính sách.
Tác động và ảnh hưởng
Công trình tạo ra những xung lực tác động sâu rộng trên nhiều bình diện:
- Tác động học thuật: Đặt nền móng tài liệu tham khảo chuẩn mực cho các chương trình đào tạo sau đại học ngành Luật Hiến pháp, Luật Hành chính và Quản lý công tại Học viện Khoa học Xã hội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và các cơ sở đào tạo luật trên toàn quốc.
- Tác động xây dựng chính sách: Các luận điểm của luận án trực tiếp đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ quá trình hoàn thiện các nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về quy chế giám sát, PBXH.
- Lợi ích xã hội: Thúc đẩy sự minh bạch, tăng cường mức độ đồng thuận xã hội, hạn chế tối đa các điểm nóng khiếu kiện về đất đai, quy hoạch tại các tỉnh công nghiệp phát triển năng động bậc nhất cả nước.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giảng viên ngành Luật/Khoa học Chính trị: Tiếp cận khung lý thuyết hoàn chỉnh, bộ thuật ngữ chuẩn hóa và nguồn dữ liệu điều tra thực chứng phong phú (1.200 mẫu) về thực thi dân chủ trực tiếp.
- Cán bộ chuyên trách Mặt trận và Đoàn thể các cấp: Được trang bị cẩm nang phân tích quy trình, phương pháp nhận diện các lỗi lập quy trong dự thảo văn bản của chính quyền và kỹ năng xây dựng bản kiến nghị phản biện có sức thuyết phục cao.
- Cơ quan quản lý nhà nước (HĐND, UBND các cấp): Nhận diện rõ trách nhiệm pháp lý và phương thức tối ưu hóa quá trình tiếp thu phản biện nhằm ban hành các quyết sách kinh tế - xã hội sát hợp lòng dân.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã mở rộng và làm sâu sắc Lý thuyết Kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài bằng xã hội (External Social Oversight Theory) trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền, chứng minh rằng PBXH của MTTQ vừa là công cụ phát huy quyền lực nhân dân tối cao theo tư tưởng Hồ Chí Minh: "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của toàn dân" [71], vừa là một bộ phận hợp thành của thể chế Nhà nước pháp quyền XHCN, nơi tự do tư tưởng phục tùng chân lý và lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc.
2. Điểm đổi mới phương pháp luận khi so sánh với các công trình trước đây?
Khác với các nghiên cứu trước đây (như công trình của Nguyễn Thọ Ánh [3] hay Hồ Bá Thâm [112]) chủ yếu thiên về tiếp cận định tính, mô tả lý luận chung hoặc tổng kết báo cáo hành chính, luận án của Vũ Văn Phong đã thực hiện bước đột phá phương pháp luận khi triển khai điều tra xã hội học quy mô lớn (1.200 phiếu) phân tầng chuẩn xác qua 3 cấp chính quyền tại 3 địa phương trọng điểm Đông Nam Bộ, kết hợp phân tích đối chiếu văn bản quy phạm thực tế, tạo nên bức tranh định lượng rõ nét về sự bất cập trong thực thi PBXH.
3. Phát hiện bất ngờ và giàu giá trị thực tiễn nhất từ dữ liệu là gì?
Dữ liệu khảo sát chỉ ra rằng: rào cản lớn nhất đối với hiệu quả PBXH không phải là trình độ học vấn của người dân, mà là sự thiếu vắng cơ chế chế tài bắt buộc giải trình từ phía cơ quan nhà nước cùng với sự phụ thuộc về ngân sách và tổ chức của Mặt trận cấp cơ sở vào chính quyền cùng cấp, dẫn đến tình trạng "quá sức" và né tránh tại cấp xã, huyện.
4. Luận án có cung cấp quy trình nhân bản (Replication Protocol) không?
Có. Toàn bộ cấu trúc phiếu điều tra xã hội học 1.200 mẫu, bảng tiêu chí đánh giá mức độ tiếp thu phản biện và khung quy trình chuẩn hóa PBXH 5 bước được thiết kế đóng gói hoàn chỉnh trong phần phụ lục luận án, sẵn sàng để các nhà nghiên cứu nhân rộng khảo sát tại 63 tỉnh, thành phố.
5. Định hướng nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo như thế nào?
Tập trung vào chuyển đổi số trong hoạt động phản biện chính sách công, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu mở về PBXH (Open Social Critique Data) và thiết lập cơ chế tham vấn chuyên gia liên vùng cho toàn bộ Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Kết luận
- Khái quát hóa và hoàn thiện hệ thống lý luận hiến pháp - hành chính về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, định vị PBXH là phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước trực tiếp từ phía nhân dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.
- Đánh giá toàn diện, chân thực thực trạng PBXH tại 6 tỉnh Đông Nam Bộ giai đoạn 2014–2021 qua bộ dữ liệu 1.200 mẫu khảo sát, chỉ rõ nghịch lý giữa vị thế hiến định và năng lực thực thi hạn chế tại cấp huyện, xã.
- Làm rõ các nguyên nhân căn cốt của tính hình thức trong PBXH, bao gồm sự thiếu hụt chế tài giải trình bắt buộc, sự phụ thuộc về tổ chức - kinh phí và tâm lý né tránh va chạm của đội ngũ cán bộ Mặt trận cơ sở.
- Đề xuất hệ thống giải pháp thể chế mang tính đột phá: hoàn thiện khung pháp lý bắt buộc tiếp thu - giải trình, xây dựng Luật về Hoạt động Phản biện xã hội, bảo đảm tính độc lập tương đối về ngân sách và nâng cao năng lực chuyên môn của các Hội đồng tư vấn.
- Mở ra 3 hướng nghiên cứu học thuật mới: Chỉ số năng lực PBXH địa phương (SCCI), Chuyển đổi số trong dân chủ tham vấn, và Mô hình liên kết phản biện chính sách vùng kinh tế trọng điểm.
- Xác lập giá trị ứng dụng thực tiễn lâu dài, cung cấp luận cứ khoa học vững chắc phục vụ công cuộc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và củng cố vững chắc quyền làm chủ thực chất của nhân dân trong giai đoạn phát triển mới.