Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu. Những vấn đề lý luận về PBXH của MTTQ Việt Nam. Thực trạng PBXH của MTTQ Việt Nam tại các tỉnh ĐNB.
Phương hướng, giải pháp tăng cường hiệu quả PBXH của MTTQ Việt Nam từ thực tiễn các tỉnh ĐNB. 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến phản biện xã hội và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nghiên cứu về vấn đề PBXH và PBXH của MTTQ ở Việt Nam là một vấn đề khá mới, còn ít công trình đề cập bao quát, cụ thể. Tuy nhiên, liên quan đến đề tài nghiên cứu, cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu ở những góc độ khác nhau, có thể tổng quát các công trình có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài như sau: 1.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến lý luận về phản biện xã hội và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài về dân chủ, về phản biện và sự cần thiết của PBXH đối với quyền lực nhà nước nói chung. Một trong những công trình nghiên cứu có ý nghĩa nền tảng về dân chủ là tác phẩm “Chính trị so sánh - về các nền dân chủ Đức, Mỹ, Pháp, Anh, Ý” của Y. Tác phẩm trên cơ sở tổng hợp các phân tích về một số HTCT có tính chất đại diện, điển hình trên thế giới, so sánh và phân tích tính phổ biến và đặc thù của các HTCT, làm rõ các giá trị văn minh chính trị có tính khái quát lý luận. Dưới một góc độ khác, GS, TS Y.
Thomas Meyer và Nicole Breyer trong cuốn “Tương lai của nền dân chủ xã hội” [165] đã phê phán chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa tân tự do với những đặc trưng của nó là phát triển và bảo vệ sở hữu tư nhân, kinh tế thị trường tự do, tự điều tiết, các quyền con người thụ động, nền dân chủ hình thức và không hoàn thiện. Tư tưởng cốt lõi của cuốn sách là dân chủ xã hội ra đời và phát triển trên cơ sở sự không hoàn thiện của dân chủ tự do. Tự do dân chủ xã hội khác với chủ nghĩa tự do thuần túy, bao gồm một hệ thống các giá trị cơ bản, các quan điểm, nguyên tắc và giải pháp cải cách, xã hội vì mục tiêu phát triển và lý tưởng tự do, công bằng, bình đẳng và hạnh phúc của con người trong bối cảnh hiện nay của thế giới. Xuất phát từ lập trường, quan điểm dân chủ xã hội, các tác giả cố gắng lập luận về triển vọng sáng sủa của dân chủ xã hội so với dân chủ tân tự do trong sự phát triển của thế giới 8 đương đại.
Cách nhìn nhận và đánh giá, kể cả một số quan điểm, luận điểm của các tác giả cuốn sách không thể tránh khỏi những khác biệt với cách tiếp cận của chúng ta, song cuốn sách là một tài liệu tham khảo bổ ích và gợi mở cho chúng ta suy ngẫm về những vấn đề mà thế giới đang đặt ra, đồng thời cũng là những vấn đề mà chúng ta đang quan tâm giải quyết cả về lý luận và thực tiễn. Rousseau trong tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội” [45] đề ra tư tưởng quyền lực trực tiếp của nhân dân, tính tối cao của quyền lực nhân dân, từ đó ông đưa ra kết luận về sự không thể chấp nhận việc đại diện nhân dân cản trở nhân dân thực hiện các quyền của mình. Rousseau luận giải yếu tố quyết định của một chế độ xã hội hợp pháp, hợp lý đó là quyền lực thuộc về nhân dân. Ông đưa ra vấn đề: Quốc gia có thể tan rã theo một trong hai trường hợp.
Thứ nhất, khi người cầm quyền không cai trị quốc gia theo luật pháp và cướp quyền của Hội đồng Tối cao. … Thành ra khi mà chính quyền cướp lấy Quyền Tối thượng (của Hội đồng Tối cao), khế ước xã hội bị tan vỡ và mọi công dân đương nhiên lấy lại sự tự do tự nhiên của mình; và lúc đó họ bị bắt buộc chứ không có nghĩa vụ phải tuân lệnh. Trường hợp này cũng xảy ra khi các thành viên của chính quyền riêng rẽ cướp chánh quyền mà đáng lẽ họ phải cùng với nhau phục vụ. Ông cho rằng, chính quyền cũng thường hay có xu hướng làm trái với quyền lực tối cao và ý chí chung của toàn thể dân chúng.
Muốn ngăn chặn nguy cơ chính quyền lạm quyền và cướp quyền, thì phải áp dụng một biện pháp là triệu tập hội nghị định kỳ toàn dân, trong đó cần bàn luận hai câu hỏi: Một là: Toàn dân có muốn giữ nguyên hình thức chính quyền hiện hữu hay không? Hai là: Nhân dân có vừa lòng với sự cai trị của những người hiện đang được ủy thác không? Rousseau coi hội nghị toàn dân là dây cương cho cơ chế chính trị, là bộ hãm hữu hiệu đối với chính quyền. Thông qua ý chí chung của toàn dân, đưa ra các các biện pháp khắc phục, các quyết sách quốc gia. Tư tưởng này đã đưa Rousseau trở thành đại biểu nổi tiếng nhất của lý luận về chế độ dân chủ trực tiếp. Rousseau luôn đặt quyền lực nhân dân với tính cách là quyền lực tối cao ở vị trí cao nhất, chi phối các quyền lực khác.
Nền tảng của tư tưởng chính trị này chính là việc khẳng định tính tối thượng của ý chí chung của toàn dân và sự hiện thân của nó trong khế ước xã hội; là nền tảng lý luận cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước dân chủ. 9 Trong cuốn sách Interpetation and Social Criticism (Chú giải và phê phán xã hội) của Michael Walzer [169] đã phân tích làm sáng tỏ hoạt động phê phán xã hội, đồng thời đưa ra một khuôn khổ triết lý để phân tích phê phán xã hội là một hoạt động xã hội. Cuốn sách phản ánh thực tiễn phê phán xã hội, giải thích nó và việc hình thành các chuẩn mực đạo đức của phê phán xã hội. Nội dung cuốn sách còn đề cập đến tranh luận quan niệm đương đại khác nhau về phê phán xã hội, lý thuyết và vai trò của trí thức trong việc hình thành các phê phán xã hội và tạo nên sự thay đổi xã hội thông qua phê phán xã hội.
Trên nền tảng chung này, phê phán xã hội được nhìn nhận ở nhiều cấp độ khác nhau, cấp vĩ mô là sự hình thành, phát triển các lý thuyết, hệ tư tưởng đang giữ vai trò chủ đạo trong xã hội; ở cấp độ vi mô là sự phê bình, phản ánh, chỉ trích đường lối chính sách cụ thể của nhà nước hoặc các hoạt động của nhà nước, đảng chính trị, phong trào xã hội, trên cơ sở cách nhìn nhận xem xét, đánh giá và hướng tiếp cận khác nhau. Cuốn sách Critical Thinking for Students: Learn the Skills of Critical Assessment and Effective Argument của Roy Van Den Brinkbudgen [105], luận bàn về những kỹ năng cơ bản của tư duy phản biện. Trong đó xác định đặc điểm chính của môn học này là nghiên cứu về những lập luận: Hầu như ở đâu chúng ta cũng thấy xuất hiện những lập luận, làm cách nào để phân tích và đánh giá những lập luận này. Báo chí cũng thường dùng những lập luận nhằm thuyết phục chúng ta tin vào những điều mà họ đưa ra.
Cuốn sách xác định chúng ta cũng phải sử dụng những lập luận nhất định nào đó trong hoạt động hàng ngày của mình: “Tôi không đồng ý với bạn bởi vì…”. Việc xem xét một cách rõ ràng những điều đang diễn ra trong một lập luận là một kỹ năng rất hữu ích. Nó có thể giúp chúng ta nghiên cứu khá kỹ càng bất kỳ đề tài nào, giúp xem xét những chứng cứ và những yêu cầu được thiết lập xung quanh nó. Nó cũng khuyến khích chúng ta tìm kiếm những lý giải tương ứng cho các chứng cứ, và xem xét xem những lý giải này có tác động gì đến lợi thế trong lập luận của người nói hay không.
Bằng cách này hay cách khác, tư duy phản biện có thể giúp chúng ta trở nên năng động hơn trong những nghiên cứu của mình. William Hare với bài viết “Bertrand Russell bàn về tư duy phê phán” (Đinh Hồng Phúc dịch) đăng trên Tạp chí Triết học tháng 4 năm 2013 [166], bài viết nói 10 đến tầm quan trọng của công trình của Russell đối với lý thuyết về giáo dục, một lý thuyết bao gồm thành tố phê phán, trong đó Russell khẳng định: “Chomsky, chẳng hạn, nhắc chúng ta nhớ quan niệm nhân văn của Russell về giáo dục, xem người học là một cá nhân độc lập mà sự phát triển của anh ta đang bị lối học nhồi sọ đe dọa. Woodhouse, trong khi cũng viện đến khái niệm tăng trưởng, chỉ ra mối băn khoăn của Russell về việc bảo vệ sự tự do của trẻ em để thực hành phán đoán cá nhân về các vấn đề trí tuệ và đạo đức. Stander bàn về yêu sách của Russell rằng việc giáo dục trong nhà trường thường hay quá cổ vũ cái tâm tính bầy đàn, với sự cuồng tín và độc đoán của nó, không phát triển được cái mà Russell gọi là một “thói quen phê phán của đầu óc”.
Mối đe dọa của lối học nhồi sọ, tầm quan trọng của phán đoán cá nhân, và sự chiếm ưu thế của các ý kiến cuồng tín, tất cả đều nhấn mạnh nhu cầu cần có điều mà ngày nay gọi là tư duy phê phán; và công trình của Russell là đáng giá cho bất kỳ ai muốn tìm hiểu xem loại tư duy này đòi hỏi những gì và tại sao nó lại quan trọng trong giáo dục”. Trong cuốn “Đổi mới tổ chức và hoạt động của MTTQ và các tổ chức CT - XH ở nước ta hiện nay” do Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương xuất bản [111] đã phân tích, luận giải tính phổ biến và tính đặc thù của các tổ chức CT - XH trong HTCT nước ta; vai trò của xã hội dân sự trong việc xây dựng và phát triển dân chủ XHCN, làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về MTTQ và các tổ chức CT - XH, hệ thống hoá tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về vị trí, vai trò và chức năng, nhiệm vụ của MTTQ Việt Nam và các tổ chức CT - XH, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của các tổ chức này.