đặt vấn đề xem xét nhật ký như một thể loại, bước đầu đặt ra và xem xét các đặc trưng thể loại. Tuy nhiên, với phạm vi và tính chất của một khóa luận tốt nghiệp bậc đại học, sinh viên chỉ khảo sát trong bốn cuốn nhật ký Nhật kí Đặng Thùy Trâm - Đặng Thùy Trâm; Mãi mãi tuổi hai mươi - Nguyễn Văn Thạc; Nhật kí chiến tranh - Chu Cẩm Phong; Nhật kí chiến trường - Dương Thị Xuân Quý. Đồng thời, tác giả chỉ dừng lại ở mức độ bước đầu nhận diện quá trình phát triển của nhật ký ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử, chỉ ra những đặc trưng của nhật ký… Tất nhiên, trong tính chất, phạm vi và yêu cầu của một khóa luận tốt nghiệp đại học, khó có thể chờ đợi những đóng góp đột phá trong nghiên cứu lý luận thể loại. Chúng tôi nêu vấn đề ở đây để khẳng định thêm rằng, cũng như bình diện lý luận, nghiên cứu và phê bình nhật ký ở Việt Nam còn rất mỏng manh, chủ yếu dừng lại ở những vỡ vạc ban đầu.
Thực tế đó vừa là khó khăn đồng thời cũng là sự thôi thúc, vẫy gọi những nghiên cứu tiếp theo. Nhật ký trong một số tư liệu nghiên cứu ở nước ngoài Ở phương Đông, Vương Sung (27-97 TCN) là người đầu tiên dùng thuật ngữ “nhật ký” trong Luận hành để thay thế cho tên gọi “xuân thu”, với ý nghĩa để chỉ các đoạn ghi chép các sự kiện theo mùa. Theo tác giả Ngô Trà My, “về sau, nhật ký trở thành một thể loại ghi chép những gì đã xảy ra, mang tính chất hành chính và quan phương” [92, tr. Đến đời Hán, Lưu Hướng đưa ra định nghĩa về nhật ký như sau: “Nhật ký là những điều ghi chép mỗi ngày về hành vi sai hay đúng của bậc quân chủ” [92, tr.
Như vậy, nhật ký là khái niệm xuất hiện từ rất sớm trong văn tự Trung Hoa, trong suốt quá trình phát triển, nội hàm của nó chủ yếu thiên về các ghi chép mang tính hành chính, quan phương. Ở Nhật Bản, nhật ký (nikki) phát triển rực rỡ và được quan tâm nghiên cứu từ thời Heian. Theo Nguyễn Nam Trân, trong giới quý tộc Nhật Bản thời đó, nikki (nhật ký) được dùng để ghi chép lại các sự việc diễn ra hàng ngày, giống như một 14 thứ tài liệu nhưng vẫn mang tính công cộng do phái nam ghi. Chỉ đến khi Tosa nikki (Thổ tá nhật ký), thì thể loại nhật ký viết bằng quốc âm Kana mới có tính văn chương.
Tác giả cho rằng: Nhật kí thời kì này thường giàu yếu tố nội tâm (jisho = tự chiếu), cũng có đôi khi còn chen cả thơ waka vào nữa. Đến thời nay, tuy người Nhật vẫn tiếp tục viết nhật ký (nikki) nhưng tính chất đã khác, “văn học nikki” của họ đã lùi vào một thời đại quá vãng (thế kỷ X đến XVI)” [155, tr. Không chỉ có ý nghĩa trọn vẹn trong sự phát triển của bản thân thể loại với những luật lệ liên tục được phát triển và hoàn thiện, nhật ký Heian được đánh giá là nguồn của thể loại tùy bút Nhật Bản. Theo đó, có thể kể đến các đặc trưng tiêu biểu của thể loại nhật ký Nhật Bản: “1/ Hầu hết được sáng tác bằng quốc âm nên mang đậm văn phong Nhật Bản; 2/ Đề tài của các tác phẩm nhật ký là những sự kiện thường nhật, được ghi lại dưới cái nhìn trải nghiệm và quan sát của người viết nên tính chất cá nhân là tính chất chủ đạo; 3/ Nhật ký có cấu trúc rất tự do, không bị gò bó bởi chủ đề hay chương mục” [155, tr.
Hiện tượng nhật ký Heian là sự đột khởi trong lịch sử văn học Nhật Bản nói riêng và văn học phương Đông nói chung. Tuy nhiên, trong bối cảnh văn hóa đặc trưng phương Đông, nơi mà cá tính cá nhân luôn có xu hướng hòa tan vào cộng đồng khắc kỷ, ký nói chung và nhật ký nói riêng không được quan tâm và ưu tiên nghiên cứu. Nhà nghiên cứu văn học cổ Trung Quốc, Trần Dược Hồng cho rằng: “Trên tầm quan sát vĩ mô, người ta nhận thấy trong truyền thống, văn luận phương Tây thiên về mô phỏng, tả chân, tái hiện, cầu thực, cầu chân, còn văn luận phương Đông (ở đây cụ thể là văn luận cổ Trung Quốc) thiên về vật cảm, biểu hiện, trữ tình, cầu tự (tìm sự giống nhau)” [143]. Nhà nghiên cứu Đồng Khánh Bính cũng cho rằng Trung Quốc cổ đại và phương Tây có sự khác biệt lớn.
Đây là hai hệ tư tưởng văn luận khác nhau nên không dùng quan niệm này để áp đặt quan niệm kia. Với đặc điểm văn hóa phương Đông, những thể loại giàu tính sự thật nhất cũng chỉ là những cảm thán về bản thân, về thế thái nhân tình [143]. Trong không gian văn hóa và truyền thống văn luận như vậy, nhật ký không được quan tâm nghiên cứu như là đối tượng độc lập cũng là hiện tượng hợp quy luật. Ở phương Tây, từ thế kỷ XVIII, cùng với sự phát triển và khẳng định vai trò của con người cá nhân trong đời sống văn hóa, nhật ký được coi trọng và có bước phát triển mạnh mẽ.
Tuy vậy, nghiên cứu lý luận về thể loại này chưa được quan tâm đúng 15 mức. Trong tiểu luận The Diary: A neglected genre (Nhật ký: Một thể loại bị lãng quên), William Matthews đã đánh giá sự quên lãng đối với nhật ký là một “tội lỗi”: “Tội lỗi của sự lãng quên đối với vô số điều mà không thèm đếm xỉa tới giá trị quý giá của chúng đã tiếp tay cho việc làm hủy diệt phần lớn những di sản ấy – trong đó có những phần tốt đẹp, và cả những phần xoàng xĩnh, tầm thường. Nhưng những gì còn sót lại cũng vẫn đủ để nhật ký trở thành một thể loại có thể thách thức lại với tiểu thuyết – về số lượng chứ chưa nói về chất lượng” [183]. Nhận thấy vai trò quan trọng đã bị bỏ quên của nhật ký, giới lý luận văn học phương Tây đã khởi động những nghiên cứu về đặc trưng từ quá trình sáng tạo đến tiếp nhận thể loại.
Về mặt khái niệm, Từ điển tiếng Anh Oxford (The Oxford English Dictionary) quan niệm nhật ký (diary) là: “một ghi chép hằng ngày về những sự kiện hay những công chuyện, đặc biệt hơn cả, đó là một ghi chép thường nhật về những gì tác động đến người viết một cách riêng tư cá nhân nhất”. Đồng thời, cuốn từ điển trên còn đề cập đến thuật ngữ “journal” (ghi chép thường nhật), xem đó là: “một ghi chép về những sự kiện hay những chuyện xảy ra trong ngày, nhưng được một người giữ kín cho riêng mình biết. Giờ đây từ này thường được dùng với hàm ý chỉ những ghi chép riêng tư có sự trau chuốt tỉ mỉ hơn so với nhật ký thông thường (diary)” [183]. Trong tiểu luận The Literary Diary as a Genre (Nhật ký văn học như một thể loại), Bruce Merry đã đưa ra định nghĩa trên cơ sở cho rằng tính riêng tư là đặc trưng số một của nhật ký: “nhật ký là một ghi chép thầm kín, một cuộc đối thoại riêng tư giữa người viết và cái tôi cá nhân của chính anh ta, trong đó, bất cứ điều gì cũng có thể được bàn đến mà không phải chịu bất cứ một chiến lược kéo đẩy nào của khuôn mẫu biên tập” [179].
Như vậy, điểm qua những nỗ lực đưa ra khái niệm về thể loại nhật ký trong giới nghiên cứu phương Tây đã cho thấy phần nào tính chất phức tạp của vấn đề. Bản thân William Matthews cũng đã thừa nhận ngay từ đầu tiểu luận của mình, rằng nhật ký là “một thể loại bất định và thay đổi không ngừng”, trong khi cũng rào đón hệt như thế ở phần mào đầu “nó là thể loại mềm dẻo và linh hoạt bậc nhất”. Đây là lý do khiến cho những nỗ lực đưa đến khái niệm thống nhất về thể loại nhật ký vẫn chưa dừng lại. Giới nghiên cứu phương Tây cũng phải đối mặt với vấn đề xác định đường biên thể loại nhật ký và nhật ký văn học.
William Matthews tiến hành phân biệt nhật ký với tự truyện và truyện tiểu sử: “đặc trưng của nhật ký là khác với các thể loại 16 khác như tiểu sử hay tự truyện, nó thiếu một mô thức chung hay một kiểu trình bày nhất định. Ấy là bởi những cuốn nhật ký ghi chép về đời sống mang một vẻ lộn xộn, mất trật tự một cách tự nhiên, và những gì được sắp đặt lại với ý đồ nghệ thuật hiển nhiên trong tiểu sử hay tự truyện đều bị phá vỡ. Nhật ký chỉ nhấn mạnh duy nhất đến những gì có vẻ như là quan trọng với người viết trong từng ngày riêng lẻ: chứ không phải là những gì có ý nghĩa quan trọng đối với cả cuộc đời anh ta, cũng không phải đối với một khoảng thời gian lịch sử. Nhật ký cũng không để tâm đến tính cân đối chuẩn mực về hình thức, kể cả trong một vấn đề hình thức cơ bản nhất như độ dài của một phần nhật ký: tất cả chỉ tùy thuộc vào sự hứng thú trong một ngày nhất định của người viết” [183].
Mặt khác, ông cũng đi sâu phân biệt sự khác nhau giữa nhật ký văn học và nhật ký không phải văn học. Xuất phát từ hai khái niệm gần gũi trong cuốn từ điển Oxford, William Matthews cho rằng, hai thuật ngữ này thường được dùng thay thế lẫn nhau, nhưng điểm then chốt trong sự khác biệt giữa một ghi chép thường ngày với một cuốn nhật ký nằm ở những vấn đề về quy cách hình thức và tính riêng tư. Một ghi chép thường nhật (journal) thường được viết theo một kế hoạch đã lập ra từ trước: người viết có trước dự định về việc sẽ ghi lại những kiểu sự kiện hay trải nghiệm như thế nào, trong một hình thức thông thường, và ngay từ đầu, anh ta đã luôn luôn có một đối tượng cụ thể và giới hạn để theo đuổi, đã hướng tới một ý tưởng rõ ràng, và đã xác định rõ ràng mục tiêu của việc ghi chép. Thông thường, trong trường hợp này, người viết trông đợi một đối tượng độc giả nhất định, và điều này thường xuyên tác động đến cách viết mà anh ta lựa chọn.
Những ghi chép kiểu này thường được viết bằng văn phong trang trọng và đúng mực, với cách dùng từ ngữ đúng nhưng không mới lạ: trong một số dạng ghi chép, mỗi một lời giải thích hay mô tả thường phải đi kèm với một dấu phẩy. Chuẩn mực, đúng mực, phi cá tính, và có mục đích cụ thể - đó là những đặc tính của một ghi chép thường nhật.