Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (kết hợp lý luận văn học và lịch sử văn học), theo hướng tiếp cận định tính kết hợp liên ngành giữa thi pháp học, phong cách học nghệ thuật, lịch sử văn học và văn hóa học.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Nhà văn Sơn Nam (1926 - 2008) là một gương mặt văn học tiêu biểu của vùng đất Nam Bộ. Ông bắt đầu sự nghiệp văn chương từ năm 1952 với hai tác phẩm văn xuôi đầu tay là truyện vừa Bên rừng Cù lao Dung và ký sự Tây Đầu Đỏ (đều được trao giải thưởng văn học của Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ). Đến năm 1962, với sự xuất hiện của tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau do Nhà xuất bản Phù Sa ấn hành tại Sài Gòn, tên tuổi của ông được khẳng định trên văn đàn và phong cách nghệ thuật bắt đầu định hình rõ nét. Sơn Nam được giới nghiên cứu và người đọc định danh qua các tên gọi như "nhà văn miệt vườn", "pho tự điển sống miền Nam", hay "người tích tụ văn minh miệt vườn".
Văn bản luận án nêu rõ: mặc dù các nhà nghiên cứu, phê bình văn học trước và sau năm 1975 đã dành nhiều bài viết cho sáng tác của Sơn Nam, nhưng phần lớn các công trình chỉ dừng lại ở các bài phê bình báo chí, tiểu luận điểm sách, khảo sát riêng lẻ từng tác phẩm (như Hương rừng Cà Mau, Hình bóng cũ), hoặc chỉ khai thác một vài khía cạnh về nội dung phong tục, phương ngữ. Cho đến thời điểm đề tài được thực hiện, việc nghiên cứu phong cách nghệ thuật Sơn Nam như một hệ thống chỉnh thể, hoàn chỉnh và xuyên suốt sự nghiệp sáng tác của ông vẫn còn là một khoảng trống khoa học. Bên cạnh đó, văn đàn vẫn thiếu vắng những công trình so sánh đối chiếu đầy đủ phong cách Sơn Nam với các nhà văn cùng thời, trong khi tác phẩm của ông có độ mở lớn, tác động đến nhiều cây bút đương đại và đã được đưa vào chương trình giảng dạy từ bậc phổ thông đến đại học.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ các đặc trưng phong cách nghệ thuật của nhà văn Sơn Nam thông qua việc xác định cấu trúc phong cách thể hiện ở cảm quan nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật, hệ thống giọng điệu và ngôn ngữ văn chương.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Xác lập nội hàm thuật ngữ phong cách nghệ thuật và các khái niệm liên quan đến đề tài, từ đó tìm ra mối quan hệ giữa các yếu tố tạo nên hệ thống chỉnh thể trong sáng tác của nhà văn.
- Khảo sát, thống kê, phân tích, khái quát những yếu tố đặc sắc trong thế giới nghệ thuật của Sơn Nam; xác định tư tưởng nghệ thuật, trong đó sự hòa kết giữa cảm quan hiện thực đời thường và cảm quan văn hóa là hạt nhân chủ đạo tạo nên cấu trúc phong cách tác giả.
- Chỉ ra mối quan hệ thống nhất hữu cơ giữa các yếu tố nổi trội: cảm quan hiện thực, cảm quan văn hóa về đời sống và con người, nghệ thuật trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật của Sơn Nam; từ đó rút ra các quy luật chi phối phong cách nghệ thuật của tác giả.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Phong cách nghệ thuật của Sơn Nam trong tính chỉnh thể, bao gồm cảm quan nghệ thuật (cảm quan về thiên nhiên, con người, văn hóa) và các phương tiện nghệ thuật biểu hiện (nghệ thuật trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ văn chương).
- Phạm vi tư liệu: Toàn bộ thể loại văn xuôi của Sơn Nam gồm tiểu thuyết (Xóm Bàu Láng, Bà Chúa Hòn, Vạch một chân trời, Chim quyên xuống đất...), truyện ngắn (tiêu biểu là tập Hương rừng Cà Mau cùng các truyện ngắn in rải rác), ký và hồi ký (4 tập Hồi ký Sơn Nam: Từ U Minh đến Cần Thơ, Ở chiến khu 9, 20 năm giữa lòng đô thị, Bình an), cùng các tập biên khảo (Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Văn minh miệt vườn, Tìm hiểu đất Hậu Giang...).
- Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu đặt sáng tác của Sơn Nam trong dòng chảy văn học miền Nam qua hai giai đoạn lịch sử trước và sau năm 1975; đồng thời khảo sát các yếu tố tiểu sử cuộc đời, môi trường văn hóa - địa lý phương Nam và quan niệm sáng tác của tác giả để giải mã sự hình thành phong cách.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu lý luận về phong cách học
Luận án điểm lại lịch sử phát triển của phạm trù phong cách học nghệ thuật qua hai dòng phương Tây và phương Đông:
- Phương Tây và Nga/Xô Viết: Thuật ngữ phong cách xuất phát từ chữ stylos (Hy Lạp) và stylus (La Mã), sau đó chuyển thành style trong tiếng Pháp. Luận án trích dẫn quan điểm của Aristote trong Thi pháp học và Tu từ học; quan niệm của Platon ("tính cách thế nào thì phong cách thế ấy"), Sénèque ("lời nói là diện mạo của tâm hồn"), Montaigne ("viết tốt tức là suy nghĩ tốt"), Buffon ("phong cách chính là bản thân con người"). Luận án dẫn lý thuyết tiểu sử học của Sainte-Beuve; quan niệm của M. B. Khrapchenko trong Những vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu văn học (2002) về phong cách như phương pháp chiếm lĩnh đời sống bằng hình tượng; các quan niệm của V. Turin, R. Barthes và J. Galsworthy.
- Phương Đông: Luận án nhắc tới Lưu Hiệp với tác phẩm Văn tâm điêu long (đưa ra khái niệm "phong cốt" biểu thị sự thống nhất giữa tư tưởng và ngôn từ), Viên Mai với Tùy Viên thi thoại, cùng các ý kiến của Lỗ Tấn. Ở Việt Nam thời trung đại, luận án điểm lại các phát biểu của Nhữ Bá Sĩ, Cao Bá Quát, Nguyễn Đức Đạt về mối liên hệ giữa tư cách, phẩm chất và văn chương ("văn như kỳ nhân").
- Nghiên cứu phong cách tại Việt Nam hiện đại: Luận án điểm lại các công trình của Hoài Thanh (Thi nhân Việt Nam, 1942); Lê Đình Kỵ (Những nguyên lý về lý luận văn học); Nguyễn Thái Hòa (Dẫn luận phong cách học, Những vấn đề thi pháp của truyện); Trần Đình Sử (Dẫn luận thi pháp học); Phan Ngọc (Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, 1985); Nguyễn Đăng Mạnh (Nhà văn, tư tưởng và phong cách, 1983); Nguyễn Đăng Điệp (Giọng điệu thơ trữ tình); Tôn Thảo Miên (Văn học Việt Nam: Dấu ấn – Giao lưu – Tác động, 2016); cùng các chuyên luận về phong cách của Chu Văn Sơn, Tôn Phương Lan, Mai Thị Nhung, Trương Đăng Dung.
Các hướng nghiên cứu về tác gia Sơn Nam
Văn bản luận án phân chia các tài liệu khảo sát về Sơn Nam theo hai thời kỳ:
- Giai đoạn trước năm 1975 tại miền Nam:
- Nguyễn Ngu Í (1966) trên tạp chí Bách Khoa (sau in trong sách Sống và viết với...) phỏng vấn và ghi nhận tâm huyết của Sơn Nam khi viết về thời kỳ mở đất phương Nam "dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua".
- Tạ Tỵ (1970) trong Mười gương mặt văn nghệ hôm nay khẳng định Sơn Nam mang "hơi thở của miền Nam đất Việt", chỉ ra nét bình dị, chất phác trong văn phong.
- Bình Nguyên Lộc (1973) trong bài viết in ở tập Gốc cây, cục đá và ngôi sao nhận định Sơn Nam là cây bút gìn giữ văn hóa truyền thống phương Đông trước làn sóng đô thị hóa.
- Giai đoạn sau năm 1975:
- Nhóm công trình đánh giá chung về văn nghiệp: Hồ Sĩ Hiệp (1986); Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Đình Chú, Nguyên An (Tác gia văn học Việt Nam, 1992); bài viết "Chủ nhân của rừng tràm" (1997); Lê Minh Đức (2000); Trần Hữu Tá (Nhìn lại một chặng đường văn học, 2000); Chu Văn Sơn (2008, bài viết "Cây đước lớn miền châu thổ Cửu Long"); Đặng Tiến (2008); Lê Văn Thảo (2008); Nguyễn Q. Thắng (Văn học Việt Nam nơi miền đất mới, tập 3, 2008); Lê Phú Khải (chủ biên tập sách Đó là Sơn Nam, 2009 với các bài viết của Đoàn Minh Tuấn, Trần Phỏng Diều); các tham luận tại Tọa đàm "50 năm Hương rừng Cà Mau" (2012) của Lê Minh Quốc, Anh Vân, Đinh Công Tâm; Võ Văn Thành (Văn hóa Nam Bộ qua cái nhìn của Sơn Nam, 2013).
- Nhóm nghiên cứu về thi pháp và ngôn ngữ: Hoàng Thị Ngọc Bích (2009, luận văn về nghệ thuật kể chuyện và thống kê 185 nhân vật trong Hương rừng Cà Mau); Trần Thị Hạnh (về sự hướng thiện của nhân vật tiểu thuyết); Huỳnh Công Tín (2006, 2013, về lối viết như nói và ngôn ngữ Nam Bộ); Nguyễn Phú Cường (2007, về đặc trưng phương ngữ); Nguyễn Văn Nở và Dương Thị Thu Hằng (2011, khảo sát 683 thành ngữ, tục ngữ xuất hiện 1175 lần trong tác phẩm); Phạm Thị Thu Thủy (2012, về truyện Mùa "len" trâu); Nguyễn Văn Hà (2012, về truyện Tây Đầu Đỏ).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án chỉ ra rằng các công trình đi trước phần nhiều mang tính chất nhận định cảm tính, điểm sách báo chí, hoặc chỉ phân tích những khía cạnh riêng lẻ. Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra những điểm hạn chế trong ngòi bút Sơn Nam:
- Nguyễn Quốc Trung (2006) nhận xét tiểu thuyết Sơn Nam có mô típ cũ, thiếu xung đột gay gắt, nhân vật thiếu chiều sâu cá tính.
- Nguyễn Q. Thắng (2008) cho rằng truyện của ông đôi khi kết thúc vội vàng và văn phong biên khảo chứa nhiều yếu tố cảm xúc cá nhân, thiếu độ chuẩn xác khoa học thuần túy.
- Nguyễn Văn Hà (2012) đánh giá truyện ngắn Tây Đầu Đỏ bị ràng buộc bởi thời gian lịch sử, bố cục thiếu cân xứng, lối kết thúc có hậu mang tính công thức.
- Lý Tùng Hiếu (2013) nhận định sự nghiệp biên khảo của Sơn Nam chứa nhiều suy đoán cá nhân.
Vị trí của luận án là công trình chuyên biệt đầu tiên kết nối các nhận định rời rạc đó vào một hệ thống lý thuyết phong cách học hoàn chỉnh. Luận án giải quyết khoảng trống về việc xác lập hạt nhân phong cách nghệ thuật Sơn Nam: chứng minh sự hòa kết giữa cảm quan văn hóa và cảm quan hiện thực đời thường là nguyên lý chi phối toàn bộ thế giới nghệ thuật của nhà văn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên ba trụ cột lý thuyết:
- Lý thuyết phong cách học nghệ thuật: Tiếp cận phong cách như một phạm trù thẩm mỹ, thể hiện sự thống nhất hữu cơ giữa cái nhìn nghệ thuật (tư tưởng, cảm quan) và hệ thống các phương tiện biểu đạt (trần thuật, giọng điệu, ngôn ngữ).
- Lý thuyết cấu trúc - hệ thống: Khảo sát các thành tố trong tác phẩm của Sơn Nam không phải như những hiện tượng tách rời mà đặt trong mạng lưới quan hệ qua lại, chứng minh tính ổn định, lặp lại và nhất quán của phong cách qua thời gian.
- Thi pháp học hiện đại và lý thuyết tiếp nhận: Sử dụng các khái niệm về người trần thuật, điểm nhìn trần thuật, giọng điệu nghệ thuật; đồng thời vận dụng quan điểm của Trương Đăng Dung về tác phẩm văn học như một quá trình giao tiếp thẩm mỹ giữa tác giả, văn bản và độc giả.
- Phương pháp tiểu sử học: Dựa trên quan điểm của Sainte-Beuve nhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa hoàn cảnh xuất thân, cá tính sinh hoạt ngoài đời và cá tính sáng tạo của nhà văn.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án áp dụng các phương pháp nghiên cứu văn học cụ thể:
- Phương pháp logic - lịch sử: Sử dụng xuyên suốt nhằm đặt sự nghiệp sáng tác của Sơn Nam trong bối cảnh lịch sử xã hội miền Nam từ thời thuộc Pháp, qua hai cuộc kháng chiến, giai đoạn 1954 - 1975 tại đô thị miền Nam và sau năm 1975.
- Phương pháp thống kê - phân loại và phân tích - tổng hợp: Thống kê, phân loại các tác phẩm, số lượng nhân vật, lớp từ ngữ địa phương, thành ngữ, tục ngữ để tạo cơ sở định tính chuẩn xác cho các nhận định lý thuyết.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh sáng tác của Sơn Nam với các nhà văn Nam Bộ tiền bối (Nguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu Chánh) và các nhà văn cùng thời (Bình Nguyên Lộc, Phi Vân, Trang Thế Hy, Võ Hồng) để làm nổi bật nét riêng biệt.
- Phương pháp liên ngành: Kết hợp nghiên cứu văn học với tri thức của văn hóa học, địa phương học, dân tộc học và lịch sử học.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn ngữ liệu chính là các văn bản văn xuôi của Sơn Nam được xuất bản qua nhiều thời kỳ, bao gồm truyện ngắn trong tập Hương rừng Cà Mau, các tiểu thuyết, bốn tập hồi ký và các tập biên khảo lịch sử văn hóa (Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Văn minh miệt vườn). Dữ liệu đối chiếu bao gồm các văn kiện lịch sử (như quyết định số 273 năm 1868 của Đô đốc Ohier được trích dẫn trong văn bản), các công trình nghiên cứu văn hóa Nam Bộ của Trịnh Hoài Đức, Vương Hồng Sển và các từ điển chuyên ngành của Huỳnh Công Tín.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN
Chương này dành cho việc tổng kết lịch sử vấn đề nghiên cứu. Tác giả luận án trình bày có hệ thống các quan niệm về phong cách học từ cổ đại đến hiện đại ở phương Tây, phương Đông và Việt Nam; khẳng định phong cách là biểu hiện của cá tính sáng tạo mang tính chỉnh thể và ổn định.
Tiếp đó, chương 1 phân tích chi tiết tình hình nghiên cứu văn nghiệp Sơn Nam theo từng phương diện: văn phong giản dị, nghệ thuật xây dựng nhân vật (đời thường, mang sức sống tiềm tàng), lối kể chuyện tự nhiên, phương ngữ và việc vận dụng thành ngữ, tục ngữ. Tác giả cũng thẳng thắn tổng hợp các ý kiến phê bình về những mặt hạn chế trong văn xuôi và biên khảo của Sơn Nam. Từ việc chỉ ra tính chất tản mạn của các công trình trước đó, chương 1 xác lập lý do khoa học và nhiệm vụ nghiên cứu chuyên biệt của luận án.
Chương 2: PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT SƠN NAM
Chương 2 tập trung lý giải các yếu tố nền tảng cấu thành nên phong cách nghệ thuật của tác giả, chia thành các bình diện chính:
- Bản chất phong cách nghệ thuật nhà văn: Luận giải phong cách là phương thức biểu đạt cách chiếm lĩnh đời sống bằng hình tượng thẩm mỹ, gắn liền với cá tính sáng tạo và quy luật tiếp nhận văn học.
- Thời đại và truyền thống văn hóa: Phân tích bối cảnh lịch sử Nam Bộ - vùng đất mới có lịch sử 300 năm khẩn hoang với môi trường sinh thái sông nước đặc thù. Miền Nam tiếp xúc sớm với văn hóa phương Tây và chữ quốc ngữ, dẫn đến quá trình hiện đại hóa văn học diễn ra nhanh chóng. Nền văn hóa dân gian phong phú kết hợp với truyền thống yêu nước chống ngoại xâm (các cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân...) đã hun đúc nên cốt cách tinh thần của người dân phương Nam và ảnh hưởng trực tiếp đến ngòi bút Sơn Nam.
- Hoàn cảnh xuất thân và cá tính nhà văn: Sơn Nam sinh ra trong gia đình nông dân nghèo tại Rạch Giá (Kiên Giang), từng trải qua hai lần di dân (từ Cù lao Ông Chưởng đến Cù Là, U Minh, rồi đến Tứ giác Long Xuyên). Hoàn cảnh sống khó khăn buộc ông phải nghỉ học năm 15 tuổi, sớm bươn chải khắp các tỉnh miền Tây. Quá trình tham gia kháng chiến chống Pháp tại chiến khu 9 với vai trò cán bộ văn hóa đã định hình lý tưởng sống. Cá tính của ông mộc mạc, thuần phác, ưa quan sát, đi nhiều, ghi chép tỉ mỉ và luôn gắn bó với người lao động nghèo.
- Quan niệm sáng tác văn chương: Sơn Nam quan niệm "viết văn là để viết văn, để yêu nước", người cầm bút phải khảo cứu kỹ lưỡng vùng đất và con người trước khi viết; luôn đề cao lương tâm nghề nghiệp, tôn trọng độc giả và xem người đọc như người bạn đồng hành.
Hoàn cảnh xuất thân (Nông dân nghèo, di dân)
+
Môi trường sống (Châu thổ sông Cửu Long, chiến khu 9)
+
Tri thức văn hóa (Tự học, khảo cứu Đông - Tây)
↓
Hạt nhân phong cách: Hòa kết Cảm quan Văn hóa & Cảm quan Hiện thực đời thường
Chương 3: CẢM QUAN VỀ THIÊN NHIÊN, CON NGƯỜI VÀ VĂN HÓA NAM BỘ TRONG SÁNG TÁC SƠN NAM
Chương này phân tích chiều sâu tư tưởng và cái nhìn nghệ thuật của nhà văn đối với không gian sinh tồn phương Nam:
- Cảm quan thiên nhiên Nam Bộ:
- Khắc họa bức tranh thiên nhiên dữ dội, hiểm trở thời khẩn hoang: rừng tràm rậm rạp, đất bùn lầy lội, nước ngập quanh năm, nhiều thú dữ (cá sấu, cọp, heo rừng) và dịch bệnh, muỗi mòng, đỉa vắt.
- Phản ánh thiên nhiên trù phú, hiền hòa, hào phóng của vùng châu thổ sông Cửu Long với nguồn lợi thủy hải sản, ruộng đồng màu mỡ, gắn bó mật thiết với tâm hồn và sinh kế của con người.
- Cảm quan về con người Nam Bộ trong văn xuôi:
- Con người hoàn cảnh – con người số phận: Những lưu dân tứ xứ trôi dạt đi tìm kế mưu sinh, đối mặt với đói nghèo, áp bức của cường hào và thực dân (Mùa "len" trâu, Tây Đầu Đỏ).
- Con người với tính cách điển hình Nam Bộ: Những con người mang khí chất hào sảng, trọng nghĩa khinh tài, thẳng thắn, kiên cường chống chọi với tự nhiên và nghịch cảnh (tiêu biểu như nhân vật Năm Hên trong Bắt sấu rừng U Minh Hạ).
- Cảm quan về văn hóa Nam Bộ: Tái hiện sinh động nếp sống, tín ngưỡng, phong tục lễ hội, sinh hoạt văn hóa dân gian và tri thức bản địa hình thành từ công cuộc khẩn hoang mở cõi, làm nổi bật bản sắc "văn minh miệt vườn".
Chương 4: NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT, GIỌNG ĐIỆU, NGÔN NGỮ TRONG SÁNG TÁC SƠN NAM
Chương 4 khảo sát hệ thống hình thức mang tính quan niệm của phong cách:
- Nghệ thuật trần thuật:
- Ngôi phát ngôn thường là người trần thuật ở ngôi thứ ba mang dáng dấp người kể chuyện dân gian, hoặc ngôi thứ nhất là người trong cuộc, người chứng kiến giàu trải nghiệm.
- Điểm nhìn trần thuật biến hóa linh hoạt, kết hợp chặt chẽ giữa lối quan sát khách quan với phương pháp miêu tả chân thực, sinh động từng chi tiết đời sống thường nhật.
- Hệ thống giọng điệu nghệ thuật đa dạng:
- Giọng dân dã, mộc mạc, gần gũi như lời tâm tình chuyện trò.
- Giọng trữ tình sâu lắng khi hoài niệm về cảnh cũ, người xưa, nguồn cội quê hương.
- Giọng hóm hỉnh, hài hước, mang sắc thái trào lộng dân gian kiểu truyện cười bác Ba Phi.
- Giọng triết lý, suy ngẫm sâu xa về quy luật thế thái nhân tình và lịch sử thăng trầm.
- Ngôn ngữ nghệ thuật:
- Vận dụng lớp ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày, tự nhiên như lời ăn tiếng nói nơi thôn dã.
- Sử dụng đậm đặc phương ngữ Nam Bộ ở mọi bình diện (từ vựng chỉ sự vật, thổ ngơi, sản vật, cách phát âm, ngữ pháp khẩu ngữ).
- Vận dụng linh hoạt các thể loại văn học dân gian: ca dao, hò vè đối đáp và đặc biệt là hệ thống thành ngữ, tục ngữ cải biên giàu sức gợi cảm.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học
- Về mặt lý luận: Luận án là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên tiếp cận toàn bộ văn nghiệp của Sơn Nam dưới góc độ phong cách học nghệ thuật một cách có hệ thống. Luận án xác lập luận điểm: hạt nhân phong cách nghệ thuật Sơn Nam là sự hòa kết hữu cơ giữa cảm quan văn hóa và cảm quan hiện thực đời thường. Luận điểm này giúp lý giải tính ổn định, thống nhất xuyên suốt trong toàn bộ sáng tác của ông trước và sau năm 1975.
- Về mặt thực tiễn: Khẳng định vị trí lịch sử văn học của Sơn Nam với tư cách là một đại diện tiêu biểu cho dòng văn học Nam Bộ nói riêng và văn học hiện đại Việt Nam nói chung. Luận án chứng minh tác phẩm của ông không chỉ có giá trị thẩm mỹ mà còn là một kho tư liệu địa - văn hóa và lịch sử quý giá về đời sống của cư dân đồng bằng sông Cửu Long.
Dữ liệu định lượng được tổng hợp trong luận án
Luận án kế thừa và tổng hợp các số liệu khảo sát tin cậy từ các công trình nghiên cứu trước đó để làm sáng tỏ các đặc trưng nghệ thuật:
| Đối tượng thống kê |
Nguồn nghiên cứu dẫn chiếu |
Dữ liệu định lượng cụ thể |
Ý nghĩa khoa học trong luận án |
| Nhân vật truyện ngắn |
Hoàng Thị Ngọc Bích (2009) |
185 nhân vật trong tập Hương rừng Cà Mau; mỗi truyện chỉ có từ 2 đến 4 nhân vật; dung lượng mỗi truyện trên chục trang |
Chứng minh đặc điểm nhân vật đời thường, bối cảnh phạm vi hẹp (xóm, ấp nhỏ lẻ), kết cấu cô đọng |
| Thành ngữ, tục ngữ |
Nguyễn Văn Nở & Dương Thị Thu Hằng (2011) |
Khảo sát 5 tác phẩm: 683 thành ngữ, tục ngữ với tần số xuất hiện 1175 lần; 110 ngữ cảnh dùng biến thể ngữ âm; 55 ngữ cảnh dùng từ Hán Việt (chiếm 50% tổng số ngữ cảnh) |
Minh chứng cho việc tái hiện tự nhiên, lịch sử khẩn hoang và phản ánh tính cách, ngôn ngữ giao tiếp đặc trưng Nam Bộ |
| Lệnh truy nã thời kháng Pháp |
Sơn Nam (Lịch sử khẩn hoang miền Nam, dẫn Đô đốc Ohier, 1868) |
Quyết định số 273: giải thưởng 1.000 quan bắt nộp 11 lãnh tụ kháng chiến; 500 quan bắt nộp 2 người |
Cung cấp cứ liệu lịch sử cho thấy hoàn cảnh đàn áp khốc liệt và tinh thần bất khuất của cư dân Nam Bộ |
Kiến nghị và đề xuất
- Đề xuất tăng cường đưa các tác phẩm tiêu biểu của Sơn Nam vào giảng dạy ở các cấp học (trung học phổ thông, cao đẳng, đại học) như một điển phạm về văn học vùng miền.
- Kiến nghị giới nghiên cứu tiếp tục khai thác hướng tiếp cận liên ngành (văn học kết hợp văn hóa học, địa phương học) khi tìm hiểu các tác gia văn học mang đậm tính chất bản địa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế được ghi nhận
- Luận án xác định tiếp cận từ góc độ phong cách nghệ thuật tác giả nên chủ động không đi sâu trình bày toàn bộ lịch sử lý luận phong cách học thế giới cũng như các mối quan hệ phức tạp giữa phong cách học với các phân ngành lý luận văn học khác.
- Phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu vào mảng văn xuôi (truyện ngắn, tiểu thuyết, ký, hồi ký), chưa bao quát trọn vẹn mảng thơ đầu tay (đăng trên báo Lúa reo) và toàn bộ khối lượng bài báo tản văn phong phú của tác giả.
- Đối tượng nghiên cứu có những hạn chế khách quan đã được chỉ ra: một số truyện ngắn và tiểu thuyết của Sơn Nam có cốt truyện lặp lại, thiếu xung đột kịch tính cao trào; phần biên khảo có chứa các nhận định dựa trên cảm tính cá nhân.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh đối chiếu một cách toàn diện phong cách nghệ thuật của Sơn Nam với các nhà văn cùng thời ở cả hai miền Nam - Bắc.
- Tiếp tục khảo sát sự ảnh hưởng và "độ mở" trong phong cách văn chương của Sơn Nam đối với thế hệ các nhà văn trẻ đương đại tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Ngữ văn: Luận án cung cấp một khung phân tích bài bản về phương pháp nghiên cứu tác gia theo lý thuyết phong cách học nghệ thuật; hệ thống hóa các tài liệu phê bình từ năm 1954 đến nay.
- Đối với giảng viên, giáo viên phổ thông: Cung cấp tư liệu phân tích sâu sắc về các tác phẩm thường được trích giảng trong nhà trường như Bắt sấu rừng U Minh Hạ, Hương rừng Cà Mau, giúp làm phong phú bài giảng văn học địa phương và văn học dân tộc.
- Đối với các nhà nghiên cứu văn hóa và lịch sử Nam Bộ: Tác phẩm cung cấp cách tiếp cận liên ngành hữu ích để giải mã các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể, tập tục khẩn hoang và phương ngữ Nam Bộ thông qua lăng kính văn học.
Câu hỏi thường gặp
1. Cột mốc nào đánh dấu sự hình thành phong cách nghệ thuật của Sơn Nam?
Theo luận án, Sơn Nam bắt đầu sáng tác từ năm 1952 với Bên rừng Cù lao Dung và Tây Đầu Đỏ (đạt giải Nhất và giải Nhì của Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ). Tuy nhiên, phong cách nghệ thuật của ông chính thức hình thành và được văn đàn công nhận rộng rãi vào năm 1962, khi tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau được Nhà xuất bản Phù Sa ấn hành tại Sài Gòn.
2. Yếu tố cốt lõi chi phối cấu trúc phong cách nghệ thuật Sơn Nam là gì?
Luận án xác định yếu tố hạt nhân chi phối toàn bộ cấu trúc phong cách của Sơn Nam là sự hòa quyện hữu cơ giữa cảm quan hiện thực đời thường và cảm quan văn hóa Nam Bộ. Cái nhìn nghệ thuật này chi phối từ việc lựa chọn đề tài, xây dựng nhân vật đời thường cho đến phương thức kể chuyện và tổ chức ngôn từ.
3. Tác phẩm của Sơn Nam sử dụng thành ngữ, tục ngữ với mức độ như thế nào?
Theo số liệu nghiên cứu của Nguyễn Văn Nở và Dương Thị Thu Hằng (2011) được luận án dẫn lại, khi khảo sát 5 tác phẩm tiêu biểu của Sơn Nam, tổng số thành ngữ, tục ngữ được sử dụng là 683 đơn vị với tần số xuất hiện lên tới 1175 lần. Trong đó, có 110 ngữ cảnh sử dụng biến thể ngữ âm và 55 ngữ cảnh sử dụng thành ngữ Hán Việt.
4. Giới phê bình đã ghi nhận những hạn chế nào trong sáng tác của Sơn Nam?
Các hạn chế được luận án tổng thuật bao gồm: tiểu thuyết còn theo mô típ cũ, thiếu xung đột gay gắt, nhân vật thiếu cá tính sắc nét (Nguyễn Quốc Trung); truyện đôi khi kết thúc vội vã, tư liệu biên khảo mang nhiều cảm nhận cá nhân hơn là phương pháp khoa học thuần túy (Nguyễn Q. Thắng, Lý Tùng Hiếu); một số truyện đầu tay bố cục chưa cân đối, còn mang tính công thức (Nguyễn Văn Hà).
5. Văn xuôi Sơn Nam biểu hiện những sắc thái giọng điệu chính nào?
Chương 4 của luận án phân tích 4 sắc thái giọng điệu nổi bật trong văn xuôi Sơn Nam: giọng điệu dân dã, mộc mạc đời thường; giọng điệu trữ tình sâu lắng gắn với hoài niệm quê hương; giọng điệu hóm hỉnh, hài hước mang âm hưởng trào lộng dân gian; và giọng điệu triết lý, suy ngẫm sâu xa về số phận con người và lịch sử vùng đất.
Kết luận
Luận án đã giải quyết thỏa đáng một khoảng trống nghiên cứu khi khảo sát có hệ thống, toàn diện phong cách nghệ thuật của nhà văn Sơn Nam dưới góc độ thi pháp học và phong cách học hiện đại. Công trình khẳng định cốt lõi phong cách nghệ thuật của tác giả nằm ở sự hòa quyện giữa cảm quan hiện thực đời thường và cảm quan văn hóa Nam Bộ sâu sắc. Hệ thống phương tiện nghệ thuật từ cách xây dựng nhân vật, phương thức trần thuật, sự đa dạng của giọng điệu đến việc sử dụng đậm đặc phương ngữ và văn học dân gian đã định hình diện mạo riêng biệt của "nhà văn miệt vườn". Luận án là tài liệu tham khảo học thuật giá trị cho công tác nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam cũng như việc giảng dạy tác gia trong các cơ sở đào tạo.