Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ: Hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Nông Văn Ngoan
Người hướng dẫn khoa học: GS. Lã Nhâm Thìn và TS. Nguyễn Minh Hoạt
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm hoàn thành: 2019
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam (Văn học trung đại Việt Nam)

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hiện tượng song ngữ là một hiện tượng phổ biến trong lịch sử văn học trung đại ở cả phương Đông (tiếng Hán song hành với tiếng bản địa tại Triều Tiên/Hàn Quốc, Nhật Bản) và phương Tây (tiếng Latinh song hành với ngôn ngữ bản địa tại Anh, Pháp, Ý, Đức). Trong tiến trình lịch sử văn học trung đại Việt Nam, hiện tượng song ngữ tạo nên đặc điểm riêng biệt với hai thành phần văn học viết: văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm. Mặc dù nhiều công trình nghiên cứu trước đây đã đề cập đến từng tác gia, từng tác phẩm hoặc từng thể loại riêng lẻ, nhưng chưa có một công trình nào khảo sát và nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện về hiện tượng song ngữ như một quy luật phát triển nội tại của văn học trung đại Việt Nam trong mối tương quan liên ngành và so sánh khu vực.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là khảo cứu toàn diện hiện tượng song ngữ trong văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX; qua đó làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hiện tượng song ngữ với lực lượng sáng tác, hệ thống thể loại, ngôn ngữ văn học dân tộc và đặt trong bối cảnh văn học khu vực Đông Á thời trung đại.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định gồm 5 nhiệm vụ:

  1. Giới thuyết khái niệm song ngữ và hiện tượng song ngữ trong văn học, xác định rõ nội hàm các khái niệm và thuật ngữ làm công cụ then chốt trong quá trình khảo sát và nghiên cứu.
  2. Vận dụng các khái niệm, thuật ngữ song ngữ, song thể ngữ và hiện tượng song ngữ vào nghiên cứu quá trình phát triển của lịch sử văn học trung đại Việt Nam, làm rõ những đặc điểm và đặc trưng văn học liên quan tới hiện tượng song ngữ.
  3. Nghiên cứu cơ sở lịch sử, xã hội, tư tưởng - văn hóa và tiền đề văn học hình thành nên hiện tượng song ngữ.
  4. Nghiên cứu đặc điểm, bản chất, quy luật diễn tiến của hiện tượng song ngữ trong lịch sử văn học dân tộc, đặt trong thế so sánh với hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại của một số nước như Triều Tiên/Hàn Quốc và Nhật Bản.
  5. Nghiên cứu các vấn đề liên quan giữa hiện tượng song ngữ với loại hình tác giả (đặc biệt là các tác giả tiêu biểu sáng tác bằng song ngữ), hệ thống thể loại và ngôn ngữ nghệ thuật trong văn học Việt Nam thời trung đại.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Lịch sử hình thành và phát triển của thành phần văn học chữ Hán và thành phần văn học chữ Nôm trong văn học trung đại Việt Nam. Cụ thể gồm: tác giả của hiện tượng song ngữ; tác phẩm, thể loại của hiện tượng song ngữ; ngôn ngữ của hiện tượng song ngữ.
  • Phạm vi thời gian: Từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX.
  • Phạm vi tư liệu: Các tác phẩm chữ Hán đã được dịch nghĩa và các tác phẩm chữ Nôm đã được phiên âm của các tác giả sáng tác bằng song ngữ tiêu biểu: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến; cùng các tác phẩm văn học chức năng và văn học nghệ thuật thuộc các thể loại khác nhau trong giai đoạn trung đại.
  • Phạm vi khoa học: Cơ sở lý thuyết của hiện tượng song ngữ; tiền đề lịch sử - văn hóa - ngôn ngữ; đặc điểm, bản chất và tiến trình diễn tiến; đối chiếu trong bối cảnh khu vực; loại hình tác giả song ngữ; sự phát triển của thể loại và ngôn ngữ nghệ thuật.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã điểm lại các công trình nghiên cứu trước đó theo 4 hướng tiếp cận chính:

  1. Nghiên cứu đặc điểm văn học trung đại Việt Nam đề cập tới hiện tượng song ngữ:
    Các công trình văn học sử tiêu biểu đã khẳng định sự song tồn của hai thành phần chữ Hán và chữ Nôm:

    • Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu (1943) phân tích giá trị từ chương, tư tưởng của Hán văn và tính chất dân dã, phong tục của Việt văn.
    • Kiều Thanh Quế trong Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam (1943) nhấn mạnh vai trò của chữ Nôm từ thời Trần qua sáng tác của Hàn Thuyên nhằm thoát khỏi ách đô hộ tinh thần.
    • Đinh Gia Khánh trong Văn học Việt Nam (thế kỉ X – Nửa đầu thế kỉ XVIII) (1978, tái bản 2002) chỉ ra sự tương đồng và khác biệt về nội dung phản ánh giữa văn học chữ Hán và chữ Nôm.
    • Bùi Duy Tân với bài viết "Văn học chữ Hán trong mối tương quan với văn học chữ Nôm ở Việt Nam" (Tạp chí Văn học, số 2/1995) phân tích sự thống nhất về thế giới quan, quan niệm thẩm mỹ, cấu trúc thi pháp và sự khác biệt về khuynh hướng tư tưởng (văn học chữ Hán trội về chủ nghĩa yêu nước, văn học chữ Nôm trội về chủ nghĩa nhân đạo).
    • Lê Trí Viễn trong Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam và Trần Đình Sử trong Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam phân tích sự phân kỳ văn học, tính chất song ngữ xã hội và song ngữ văn học, tính chất xâm nhập lẫn nhau giữa văn Hán và văn Nôm.
    • Trần Đình Hượu trong Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại chỉ ra xu hướng làm văn chương quốc âm bên cạnh văn chương chữ Hán.
    • Nguyễn Lộc trong Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX đánh giá cao sự phát triển vượt bậc của văn học chữ Nôm giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX.
    • Nguyễn Đăng Na trong Văn học trung đại Việt Nam (tập 1), Trần Nho Thìn trong Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX (2012), Đinh Thị Khang trong Giáo trình văn học trung đại Việt Nam (tập 2) và Lã Nhâm Thìn trong bài viết "Nguyễn Du và hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam" đều xác nhận tính quy luật của hiện tượng song ngữ.
  2. Nghiên cứu thi pháp văn học trung đại Việt Nam đề cập tới hiện tượng song ngữ:

    • Phan Ngọc trong Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều phân tích nghệ thuật xử lý từ Hán - Việt và từ thuần Việt.
    • Trần Đình Sử trong Thi pháp Truyện Kiều khảo cứu thi pháp tác gia song ngữ.
    • Lã Nhâm Thìn trong Thơ Nôm Đường luật và Phân tích tác phẩm văn học trung đại dưới góc nhìn thể loại đưa ra các thống kê cụ thể về tỷ lệ câu khẩu ngữ trong thơ Nôm Đường luật (từ Quốc âm thi tập 1 câu/203,3 câu đến Hồ Xuân Hương 1 câu/12,7 câu và Tú Xương 1 câu/12,1 câu), chỉ ra quá trình dân tộc hóa thể loại tiếp thu.
    • Hoàng Hữu Yên trong Đọc và nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam phân biệt truyện văn xuôi chữ Hán và truyện thơ chữ Nôm.
  3. Nghiên cứu các tác giả sáng tác bằng song ngữ:

    • Tác gia Nguyễn Trãi: Đinh Gia Khánh, Trần Nho Thìn, Nguyễn Đăng Na, Lã Nhâm Thìn; luận văn thạc sĩ của Trần Thị Anh (2015) với đề tài Hiện tượng song ngữ qua sáng tác Nguyễn Trãi.
    • Tác gia Nguyễn Du: Nguyễn Lộc, Trần Nho Thìn, Lã Nhâm Thìn, Vũ Thanh; luận án phó tiến sĩ của Nguyễn Thúy Hồng (1995) về Từ ngữ Việt và từ ngữ Hán Việt trong ngôn ngữ Truyện Kiều.
    • Tác gia Nguyễn Khuyến: Tảo Trang (Nhà thơ kép Hán – Việt), Nguyễn Lộc, Hoàng Hữu Yên, Trần Nho Thìn, Biện Minh Điền (Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến).
    • Các tác gia khác: Hồ Quý Ly, Lê Thánh Tông (Đinh Gia Khánh khảo cứu), Cao Bá Quát, Lý Văn Phức, Nguyễn Công Trứ (Nguyễn Lộc), Hồ Xuân Hương với Lưu hương kí (Lã Nhâm Thìn).
  4. Nghiên cứu so sánh hiện tượng song ngữ với văn học các nước khu vực văn hóa chữ Hán:

    • Đoàn Lê Giang trong "Thời trung đại trong văn học các nước khu vực văn hóa chữ Hán" nêu hiện tượng song tồn hai thành phần Hán văn và văn học tiếng dân tộc, khái niệm "Hòa Hán hỗn hào" ở Nhật Bản và liên hệ với Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông.
    • Ko Mi Sook, Jung Min, Jung Byung Sun trong Văn học sử Hàn Quốc (Jeon Hye Kyung và Lý Xuân Chung dịch) phân tích ba loại văn tự: chữ Hán, chữ Y-Du và chữ Hangeul (Huấn dân chính âm của vua Sejong).
    • Phan Thị Thu Hiền trong Văn học cổ điển Hàn Quốc – Tiến trình và bản sắc nghiên cứu hiện tượng song ngữ tại Triều Tiên/Hàn Quốc.
    • Nguyễn Nam Trân trong Tổng quan lịch sử văn học Nhật Bản và Shuichi Kato trong "Những đặc điểm của văn học Nhật Bản" (Nguyễn Thị Khánh dịch) phân tích văn bản Kojiki (712), Manyoshu và tình trạng song ngữ Nhật - Hán kéo dài đến thời Duy tân Minh Trị.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
Các công trình trước đây phần lớn nghiên cứu hiện tượng song ngữ ở quy mô tác giả đơn lẻ, một thể loại cụ thể hoặc khảo sát tản mạn trong các giáo trình văn học sử. Luận án này là công trình đầu tiên nghiên cứu hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam một cách toàn diện, hệ thống từ cơ sở lý luận, tiến trình lịch sử, đặc điểm bản chất đến loại hình tác giả, thể loại và ngôn ngữ trong cái nhìn đối sánh khu vực.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án xây dựng trên 4 trụ cột lý thuyết:

  • Lý thuyết liên ngành ngôn ngữ và văn học: Xem xét ngôn ngữ như chất liệu của văn học nghệ thuật. Luận án phân tích cơ chế tiếp xúc giữa tiếng Hán và tiếng Việt, quá trình mượn chữ Hán để tạo ra chữ Nôm, sự hình thành âm đọc Hán Việt và sự tương đồng loại hình học giữa hai ngôn ngữ (đều là ngôn ngữ đơn lập, không biến hình, đơn âm, có tính tuyến tính và có thanh điệu).
  • Lý thuyết liên ngành văn hóa và văn học: Vận dụng quan điểm văn hóa học của Gurêvich và Trần Nho Thìn, coi con người là trung tâm của các mối quan hệ văn hóa (với tự nhiên, xã hội và bản thân). Khảo sát tác động của văn hóa Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và quan niệm văn học chức năng ("văn dĩ tải đạo", "thi dĩ ngôn chí") đến sự phân định hai dòng văn học.
  • Lý thuyết so sánh văn học: Đặt hiện tượng song ngữ của văn học trung đại Việt Nam trong quan hệ so sánh nội bộ và so sánh liên quốc gia với các nước đồng văn chịu ảnh hưởng văn hóa chữ Hán (Hàn Quốc/Triều Tiên, Nhật Bản) và văn học phương Tây thời trung đại.
  • Lý thuyết loại hình học (typology): Sử dụng để xác lập và phân tích loại hình tác giả song ngữ cũng như các nhóm thể loại văn học dưới góc nhìn song ngữ.

Giới thuyết khái niệm then chốt

  • Song ngữ (Bilingualism): Hiện tượng sử dụng đồng thời hai hệ thống ngôn ngữ độc lập của một cá nhân hoặc cộng đồng. Luận án kế thừa các định nghĩa của Diệp Quang Ban, Nguyễn Như Ý, Phan Ngọc, Hoàng Phê, Nguyễn Văn Khang, Hoàng Quốc.
  • Hiện tượng song ngữ trong văn học: Luận án định nghĩa là hiện tượng một nền văn học đồng thời được sáng tác bằng hai ngôn ngữ - ngôn ngữ bản địa và ngôn ngữ tiếp thu từ nước ngoài. Trong văn học trung đại Việt Nam, hiện tượng này biểu hiện cụ thể ở việc cùng một lúc nền văn học được sáng tác bằng cả chữ Hán và chữ Nôm.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp thống kê, khảo sát văn bản:

  1. Phương pháp nghiên cứu văn học sử: Tiếp cận hiện tượng song ngữ như một quá trình vận động lịch sử - xã hội theo thời gian từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX.
  2. Phương pháp nghiên cứu liên ngành (Văn học – Ngôn ngữ – Văn hóa – Xã hội học): Phân tích sự tích hợp của các yếu tố ngôn ngữ học, hoàn cảnh xã hội và bối cảnh tư tưởng văn hóa.
  3. Phương pháp nghiên cứu so sánh văn học: So sánh hai thành phần chữ Hán và chữ Nôm; đối chiếu văn học Việt Nam với văn học Nhật Bản, Hàn Quốc và văn học trung đại phương Tây.
  4. Phương pháp nghiên cứu thi pháp học: Khảo sát các bình diện thi pháp thể loại, ngôn ngữ nghệ thuật, quan niệm thẩm mỹ và bút pháp.
  5. Phương pháp loại hình: Phân loại và hệ thống hóa loại hình tác giả và các tiểu hệ thống thể loại.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài

Chương 1 tập trung làm rõ hai nội dung cơ bản:

  • Giới thuyết khái niệm: Phân biệt song ngữ xã hội và song ngữ văn học; phân biệt hiện tượng song ngữ thời trung đại (tiếng Hán và tiếng Việt/chữ Nôm) với hiện tượng đa ngữ thời hiện đại (tiếng Hán, tiếng Việt và tiếng Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX). Tiếp thu quan niệm nghĩa rộng của Trần Đình Sử về sự thâm nhập, pha trộn giữa yếu tố Hán và Nôm ngay trong lòng một tác phẩm.
  • Xác lập khung lý thuyết: Hệ thống hóa 4 lý thuyết bổ trợ gồm lý thuyết liên ngành ngôn ngữ - văn học, văn hóa - văn học, so sánh văn học và loại hình học; điểm luận 4 hướng nghiên cứu của các học giả đi trước để xác lập vị trí khoa học của luận án.

Chương 2: Những vấn đề chung về hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam

Chương 2 trình bày các tiền đề hình thành, đặc điểm bản chất và các giai đoạn phát triển của hiện tượng song ngữ:

  • Tiền đề hình thành:
    • Tiền đề lịch sử - xã hội: Nhu cầu khẳng định ý thức độc lập tự chủ sau năm 938, sự tiếp thu chữ Hán văn ngôn làm văn tự chính thức kết hợp với nhu cầu sáng tạo chữ Nôm để ghi âm tiếng Việt.
    • Tiền đề tư tưởng - văn hóa - văn học: Ảnh hưởng của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo; quan niệm "văn dĩ tải đạo", "thi dĩ ngôn chí"; quan niệm thẩm mỹ ưa chuộng cái tao nhã, cao cả, đăng đối.
    • Tiền đề ngôn ngữ và thể loại: Sự tương đồng loại hình ngôn ngữ đơn lập không biến hình giữa tiếng Hán và tiếng Việt; sự tiếp thu và Việt hóa hệ thống thể loại Trung Quốc.
  • Đặc điểm của hiện tượng song ngữ:
    • Tính chất đa thành phần: Song tồn hai thành phần văn học chữ Hán (chính thống, bác học, quy phạm, giàu tính chức năng và tư tưởng) và văn học chữ Nôm (dân chủ, thông tục, thẩm mỹ, giàu tính nhân đạo và gắn liền đời sống).
    • Tính chất bất bình đẳng: Văn học chữ Hán được đề cao ở vị trí chính thống; văn học chữ Nôm từng bị giới Nho sĩ thủ cựu coi là "nôm na mách qué", mang tính mua vui, giải trí.
  • Các giai đoạn phát triển:
    • Giai đoạn thế kỷ X đến hết thế kỷ XIV: Giai đoạn mở đầu. Văn học chữ Hán hoàn bị các thể loại; văn học chữ Nôm xuất hiện từ thời Trần với Hàn Thuyên (1282), phát triển qua các tác phẩm phú Nôm của Trần Nhân Tông (Cư trần lạc đạo phú), Huyền Quang (Hoa Yên tự phú).
    • Giai đoạn thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVII: Giai đoạn phát triển nở rộ với các tác gia lớn sáng tác bằng cả hai thứ chữ: Nguyễn Trãi (Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập), Lê Thánh Tông và Hội Tao Đàn (Hồng Đức quốc âm thi tập), Nguyễn Bỉnh Khiêm (Bạch Vân am thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi tập).
    • Giai đoạn thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX: Giai đoạn phát triển đỉnh cao của văn học Nôm với các kiệt tác truyện thơ Nôm (Truyện Kiều), ngâm khúc (Chinh phụ ngâm khúc bản dịch Nôm, Cung oán ngâm khúc), hát nói và thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương.
  • Bối cảnh khu vực và quốc tế: So sánh với văn học Nhật Bản (từ văn bản chữ Hán Kojiki đến Manyoshu, văn "Hòa Hán hỗn hào"), văn học Hàn Quốc (chữ Hán, chữ Y-Du, chữ Hangeul) và văn học phương Tây thời trung đại (tiếng Latinh và tiếng bản địa).

Chương 3: Loại hình tác giả song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam

Chương 3 khảo sát diện mạo và đặc trưng của kiểu tác giả song ngữ qua các tác gia tiêu biểu:

  • Khảo cứu cấu trúc tác phẩm, bút pháp nghệ thuật và ý thức sáng tác của các tác giả lớn: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến.
  • Phân tích mối quan hệ giữa hai mảng sáng tác Hán - Nôm trong việc hoàn thiện nhân cách nghệ thuật và tư tưởng của nhà văn trung đại.
  • Khảo sát sự tiếp thu các điển tích, thi liệu Hán học kết hợp với chất liệu ngôn ngữ đời sống, tục ngữ, ca dao dân gian trong sáng tác của từng tác giả.

Chương 4: Một số vấn đề về thể loại và ngôn ngữ dưới góc nhìn của hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam

Chương 4 nghiên cứu sự vận động của hệ thống thể loại và ngôn ngữ văn học:

  • Về phương diện thể loại:
    • Thể loại tiếp thu từ văn học Trung Quốc: Văn học chức năng (chiếu, biểu, hịch, cáo), văn tự sự (truyền kỳ, tiểu thuyết chương hồi, ký sự, tùy bút) chủ yếu được viết bằng chữ Hán.
    • Thể loại dân tộc hóa: Thơ Nôm Đường luật, phú Nôm (tiếp thu thi pháp Đường luật nhưng đưa vào ngôn ngữ, hình ảnh và câu thơ lục ngôn thuần Việt).
    • Thể loại nội sinh: Truyện thơ lục bát, ngâm khúc song thất lục bát, hát nói (chủ yếu được sáng tác bằng chữ Nôm hoặc kết hợp câu chữ Hán trong cấu trúc hát nói).
  • Về phương diện ngôn ngữ: Quá trình xử lý các yếu tố ngoại nhập và nội sinh, sự dung hợp từ ngữ Hán Việt và khẩu ngữ tiếng Việt trong tiến trình phát triển ngôn ngữ văn học dân tộc.

Tổng hợp các bảng khảo sát và phụ lục trong luận án

STT Danh mục Bảng / Phụ lục tiêu biểu trong luận án Nội dung khảo sát chính
1 Bảng khảo sát tác gia song ngữ Khảo sát sáng tác chữ Hán và chữ Nôm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến.
2 Bảng câu lục ngôn trong thơ Nguyễn Trãi Vị trí và số lượng câu lục ngôn trong 125 bài thơ Nôm bát cú có xen câu lục ngôn của Nguyễn Trãi.
3 Bảng thi liệu Hán học và văn học dân gian Khảo sát thi liệu Hán học trong Truyện Kiều; thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong Quốc âm thi tập và ảnh hưởng qua lại với Truyện Kiều.
4 Bảng khảo sát thể loại chức năng và tự sự Thống kê số lượng tác phẩm Hán - Nôm ở các thể loại cáo, chiếu, biểu, hịch, văn tế, thơ kệ, truyện truyền kỳ, tiểu thuyết chương hồi, ký sự, tùy bút.
5 Bảng khảo sát thể loại nội sinh và dân tộc hóa Thống kê tác phẩm ở các thể loại phú, truyện thơ, ngâm khúc và khảo sát câu chữ Hán ở thể loại hát nói của Cao Bá Quát.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về lý luận và thực tiễn

Luận án tự xác định các đóng góp mới cụ thể như sau:

  1. Về cơ sở tiền đề: Chỉ ra một cách có hệ thống những tiền đề lịch sử, xã hội, văn hóa tư tưởng và tiền đề văn học hình thành nên hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam.
  2. Về đặc điểm và tiến trình: Khái quát các đặc điểm bản chất (tính chất đa thành phần, tính chất bất bình đẳng) và quy luật diễn tiến qua 3 giai đoạn lịch sử của hiện tượng song ngữ.
  3. Về loại hình tác giả: Nghiên cứu và xác lập vấn đề loại hình tác giả song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam thông qua các tác gia lớn đại diện cho các giai đoạn.
  4. Về thể loại và ngôn ngữ: Khái quát quá trình phát triển và các biểu hiện cụ thể của hiện tượng song ngữ trên hai bình diện then chốt là hệ thống thể loại (tiếp thu, dân tộc hóa, nội sinh) và ngôn ngữ nghệ thuật (tiếp nhận ngoại nhập và phát huy nội sinh).

Giá trị ứng dụng

Kết quả nghiên cứu cung cấp tư liệu và luận cứ khoa học phục vụ công tác nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử văn học, thi pháp học và ngôn ngữ học lịch sử; đồng thời ứng dụng trực tiếp vào việc giảng dạy các chuyên đề văn học trung đại, tác gia văn học tại các trường đại học, cao đẳng và phổ thông.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án chủ yếu tiến hành khảo sát trên các văn bản chữ Hán đã được dịch nghĩa và các văn bản chữ Nôm đã được phiên âm; đối tượng tác giả tập trung vào 5 tác gia lớn đại diện. Một số di sản thơ văn chữ Nôm giai đoạn sớm (thời Trần như sáng tác của Nguyễn Sĩ Cố, Nguyễn Biểu, Hồ Quý Ly) do hoàn cảnh lịch sử đã bị thất lạc, không còn văn bản nguyên vẹn để khảo sát định lượng chi tiết.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát diện tác giả ngoài 5 tác gia tiêu biểu; tiếp cận trực tiếp các văn bản Hán Nôm nguyên bản chưa dịch/phiên âm; đi sâu nghiên cứu so sánh đối chiếu đa chiều giữa hiện tượng song ngữ ở Việt Nam với các nền văn học trong khu vực văn hóa chữ Hán thời trung đại.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Luận án có giá trị tham khảo thiết thực đối với giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Văn học Việt Nam, Ngôn ngữ học, Hán Nôm và Văn hóa học.
  • Nội dung tham khảo trọng tâm:
    • Hệ thống lý thuyết liên ngành kết hợp ngôn ngữ, văn hóa, thi pháp và loại hình học.
    • Các bảng thống kê, khảo sát văn bản chi tiết về tỷ lệ thi liệu Hán học, câu lục ngôn, thể loại chức năng, thể loại nội sinh trong 14 phụ lục khoa học của luận án.
    • Phương pháp phân tích loại hình tác giả song ngữ và tiến trình dân tộc hóa thể loại văn học tiếp thu.

Câu hỏi thường gặp

1. Hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam được luận án định nghĩa như thế nào?
Luận án định nghĩa hiện tượng song ngữ trong văn học là hiện tượng một nền văn học đồng thời được sáng tác bằng hai ngôn ngữ: ngôn ngữ bản địa và ngôn ngữ tiếp thu từ nước ngoài. Ở Việt Nam thời trung đại, hiện tượng này thể hiện ở việc nền văn học cùng một lúc được sáng tác bằng hai loại văn tự tương ứng là chữ Hán và chữ Nôm.

2. Tính chất bất bình đẳng của hiện tượng song ngữ thời trung đại biểu hiện ở những điểm nào?
Biểu hiện ở sự phân biệt ngôi thứ giữa hai thành phần: Văn học chữ Hán được Nho giáo chính thống và triều đình coi là văn chương cao cả, chính thống, dùng để chở đạo, nói chí, bàn việc quốc gia; trong khi văn học chữ Nôm từng bị xem là "nôm na mách qué", thiên về đời thường, mua vui, giải trí và không được đặt ngang hàng với chữ Hán trong các kỳ thi cử chính thức.

3. Vì sao tiếng Hán và tiếng Việt có thể kết hợp tạo nên hiện tượng song ngữ sâu sắc về mặt ngôn ngữ học?
Theo luận án, hai ngôn ngữ có sự tương đồng loại hình học cơ bản ở 4 phương diện: đều thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, không biến hình, đơn âm, có tính tuyến tính và có thanh điệu. Điều này tạo thuận lợi cho quá trình tiếp thu từ Hán Việt, hình thành âm đọc Hán Việt và tạo lập hệ thống chữ Nôm dựa trên chất liệu chữ Hán.

4. Ba giai đoạn phát triển của hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam diễn ra như thế nào?

  • Giai đoạn 1 (Thế kỷ X - hết thế kỷ XIV): Giai đoạn mở đầu, định hình văn học chữ Hán và khởi đầu văn học chữ Nôm với thể phú Nôm từ thời Trần (Hàn Thuyên, Trần Nhân Tông, Huyền Quang).
  • Giai đoạn 2 (Thế kỷ XV - hết thế kỷ XVII): Giai đoạn phát triển nở rộ với các tác gia lớn sáng tác bằng cả Hán và Nôm như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm.
  • Giai đoạn 3 (Thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX): Giai đoạn toàn thịnh của văn học chữ Nôm với sự phát triển của truyện thơ Nôm, ngâm khúc, hát nói và thơ Nôm của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nông Văn Ngoan đã nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX trên cơ sở tiếp cận liên ngành văn học, ngôn ngữ, văn hóa và so sánh loại hình. Công trình làm sáng tỏ các tiền đề lịch sử - văn hóa hình thành hiện tượng, hai đặc điểm bản chất (tính chất đa thành phần và tính chất bất bình đẳng), cùng tiến trình vận động qua ba giai đoạn lịch sử. Thông qua việc khảo sát các tác gia tiêu biểu, hệ thống thể loại và ngôn ngữ nghệ thuật, luận án đã khẳng định hiện tượng song ngữ là một quy luật nội tại phản ánh sự kết hợp giữa việc tiếp thu tinh hoa văn hóa ngoại sinh và tinh thần tự chủ, sáng tạo của văn hóa dân tộc.