Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Tâm, hoàn thành vào tháng 12 năm 2016 tại Khoa Văn học, Học viện Khoa học Xã hội, tập trung khảo sát hiện tượng tự truyện Việt Nam đương đại dưới hệ hình xã hội học văn học.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự vận động đặc thù của thể loại tự truyện trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam. Tự truyện xuất hiện từ đầu thế kỷ XX với tác phẩm Giấc mộng lớn của Tản Đà (năm 1929) và phát triển tương đối sôi nổi trong giai đoạn 1930 - 1945, nhưng sau đó hầu như vắng bóng trên diễn đàn văn học cho tới những năm cuối thế kỷ XX. Bước sang những thập niên đầu thế kỷ XXI, thể loại này phục hưng và phát triển thành một phong trào xuất bản rộng rãi. Tuy nhiên, tự truyện giai đoạn đương đại bộc lộ nhiều điểm khác biệt: các dấu hiệu thể loại không tập trung thuần nhất mà biến thiên đậm nhạt tùy tác phẩm. Đặc biệt, kể từ năm 2006, sau khi tác phẩm Yêu và Sống của nghệ sĩ Lê Vân ra đời, thể loại bắt đầu chuyển dịch rõ nét: tính chất tiểu thuyết giảm bớt, tính chất phi hư cấu tăng lên, đồng thời cái Tôi cá nhân được mở rộng sang nhiều chiều kích (cái tôi nghề nghiệp, cái tôi khác biệt, cái tôi vượt khó). Sự xuất hiện của các biến thể lai ghép như tự truyện - tiểu thuyết, tự truyện - hồi ký, tự truyện - du ký khiến mô hình thể loại định danh theo quan niệm kinh điển của Philippe Lejeune trở nên chật hẹp.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các phân tích trước đây chủ yếu nhìn nhận tự truyện từ sự vận động nội tại của văn bản tự sự hoặc đưa ra các nhận định khái quát về ý thức hệ (như nhận định của Đoàn Cầm Thi năm 2008 về ảnh hưởng cản trở của Đạo Khổng và chủ nghĩa tập thể) mà chưa triển khai phân tích một cách hệ thống mối quan hệ qua lại giữa văn học và cấu trúc xã hội. Thêm vào đó, việc nghiên cứu tự truyện mới chỉ dừng lại ở khâu tạo lập văn bản mà bỏ qua khâu tiếp nhận xã hội — một mắt xích giữ vai trò kiến tạo giá trị văn học.

Mục đích nghiên cứu của luận án là lý giải các đặc điểm diện mạo của tự truyện Việt Nam đương đại trên cơ sở tiếp cận xã hội học, từ đó bao quát toàn bộ quy luật vận động của thể loại và đề xuất một khung lý thuyết nghiên cứu xã hội học áp dụng cho tự truyện nói riêng cũng như văn học đương đại nói chung.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản phân định thành ba nhiệm vụ cụ thể:

  1. Xác định các đặc điểm của bối cảnh lịch sử, văn hóa, kinh tế làm tiền đề cho sự phát triển của tự truyện;
  2. Phân tích đặc điểm của việc bộc lộ chủ thể trong tự truyện nhằm tìm ra quy luật của sự bộc lộ đó trong bối cảnh xã hội;
  3. Mô tả và phân tích đặc điểm của hoạt động tiếp nhận tự truyện, từ đó làm rõ những tác động của quá trình tiếp nhận đối với sự định hình thể loại.

Đối tượng nghiên cứu là tự truyện Việt Nam đương đại được xem xét như một quá trình xã hội toàn vẹn, bao gồm từ hành động tạo lập của tác giả đến hoạt động tiếp nhận của công chúng và mạng lưới phân phối trong đời sống văn hóa Việt Nam từ sau năm 1986 đến năm 2016. Phạm vi khảo sát bao gồm toàn bộ các hình thức văn bản tự thuật bằng văn xuôi xuất hiện từ năm 1986 đến thời điểm nghiên cứu (ở cả khu vực văn học và phi văn học), thỏa mãn ba tiêu chí đồng thời:

  • Là tác phẩm văn xuôi tự thuật về cuộc đời tác giả;
  • Tác giả, người kể chuyện và nhân vật chính trùng làm một ("tam vị đồng nguyên");
  • Trọng tâm trần thuật hướng vào lịch sử hình thành nhân cách cá nhân người tự thuật.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại các công trình nghiên cứu đi trước thành hai nhóm chuyên biệt: nhóm nghiên cứu về vấn đề thể loại và nhóm nghiên cứu các tác phẩm tự truyện cụ thể, cùng các công trình tiếp cận từ khía cạnh xã hội học.

Trong nhóm nghiên cứu thể loại, hai vấn đề trọng tâm thường xuyên gây tranh luận là định nghĩa tự truyện và câu hỏi văn học Việt Nam có tự truyện hay không. Các tác giả được luận án tổng thuật bao gồm:

  • Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại (1940) được xem là người đầu tiên định danh thể loại qua bài viết về Dã tràng của Thiết Can (Nguyễn Văn Xuân), đồng thời chỉ ra tính chất rụt rè của nhà xuất bản Đời nay khi xếp Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng dưới nhãn tiểu thuyết.
  • Trương Dĩnh (2000) với bài viết Truyện tiểu sử, một loại hình tự sự cần được khẳng định và phát triển, chỉ ra tính chất nhập nhằng thể loại và sự pha trộn giữa tính thẩm mĩ với tiềm năng quy chiếu.
  • Trần Văn Toàn (2003) qua bài viết Viết tự truyện, khi nào và vì sao, nhấn mạnh tự truyện gắn liền với "năng lực nghiệm sinh cuộc sống" của người đã trưởng thành, có độ lùi thời gian để chiêm nghiệm những đổ vỡ và vấp ngã.
  • Lê Tú Anh (2010) với bài viết Phan Bội Châu niên biểu (Phan Bội Châu) và Giấc mộng lớn (Tản Đà) - Những bước đi đầu tiên của tự truyện Việt Nam, khẳng định tự truyện đã chính thức xuất hiện từ chặng 1930 - 1945 và manh nha từ Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản. Tác giả này đặt ra tiêu chuẩn phân định giữa tự truyện văn học và tự truyện "cận văn học" thông qua thao tác tự sự, ý nghĩa nhân sinh và tính nghệ thuật ngôn từ. Quan điểm này tương đồng với nhận định của Triệu Xuân trong bài viết Tự truyện: con nuôi của văn học.
  • Ngược lại, Đoàn Cầm Thi trong tập tiểu luận phê bình Đọc Tôi bên bến lạ (gồm các bài viết từ 2004 đến 2008, xuất bản năm 2016) cho rằng văn học Việt Nam chưa có tự truyện đúng nghĩa theo chuẩn mực của Philippe Lejeune. Tác giả xem các tác phẩm như Những ngày thơ ấu, Bóng (Nguyễn Văn Dũng), Không lạc loài (Thành Trung), Cánh buồm nhỏ (Lê Minh), Tôi mù (Nguyễn Thanh Tú) chỉ là những dạng "tự sự", và nhận định "tương lai tự truyện Việt Nam còn ở phía trước" do ý thức cá nhân còn bị kìm hãm bởi Đạo Khổng và chủ nghĩa tập thể.
  • Đỗ Hải Ninh qua bài viết năm 2009 và luận án Tiểu thuyết có khuynh hướng tự thuật trong Văn học Việt Nam đương đại (2012) đã phân tích mối quan hệ giữa tự truyện và tiểu thuyết, chỉ ra hiện tượng tiểu thuyết tự thuật như một ứng xử của nhà văn nhằm tránh cam kết "chỉ nói thật" trước áp lực tự kiểm duyệt.
  • Các nghiên cứu lý thuyết dịch chuyển từ văn học Pháp của Đặng Thị Hạnh (1998, Tự thuật và tiểu thuyết Pháp ở thế kỷ XX) và Phùng Văn Tửu (2005, chương Tiểu thuyết tự thuật trong công trình Tiểu thuyết Pháp bên thềm thế kỷ XXI) cung cấp các luận cứ về ranh giới giao thoa thể loại dựa trên định nghĩa năm 1971 của Philippe Lejeune.

Ở nhóm nghiên cứu tác phẩm cụ thể, luận án tổng thuật các ý kiến phê bình đa chiều:

  • Đối với Tô Hoài (Cát bụi chân ai, Chiều chiều): Vương Trí Nhàn ghi nhận lối viết "hồi ký như vẫn viết văn xuôi" và khả năng "phân thân trong người có mình"; Nguyễn Đăng Điệp nhấn mạnh cảm quan nghệ thuật không nghiêm trọng hóa mang chất tiểu thuyết Bakhtin; Đặng Tiến phân tích nghệ thuật ngôn từ và sức nặng của chi tiết; Trần Thị Mai Phương và Lê Thị Biên tập trung vào chân dung nhân vật người kể chuyện đa diện (nhà văn, con người đời thường, chứng nhân thời đại).
  • Đối với Nguyễn Khải (Thượng đế thì cười): Đông La xem tác phẩm là hồi ký viết dưới dạng tiểu thuyết để bộc lộ chân dung tác giả; trong khi Đặng Anh Đào và Phạm Xuân Nguyên tiếp cận tác phẩm như một tiểu thuyết mang giọng điệu tự thú và sám hối của nhân vật xưng "hắn".
  • Đối với Bùi Ngọc Tấn (Chuyện kể năm 2000): Thụy Khuê chỉ ra sự đan xen giữa hư cấu tiểu thuyết và tính quy chiếu cuộc đời thật; đối với Dạ Ngân (Gia đình bé mọn), Lê Tú Anh phân tích cấu trúc phức thể của tiểu thuyết mang chất tự truyện.
  • Riêng tác phẩm Yêu và Sống của Lê Vân được John C. Schafer khảo sát độc lập từ góc độ văn hóa học, giới tính và liên văn bản, chỉ ra xung đột giữa ý niệm truyền thống về phụ nữ Việt Nam và nỗ lực khẳng định bản sắc cá nhân.

Về các công trình xã hội học văn học, luận án ghi nhận nhận định của Lockhart về sự trỗi dậy của cái "tôi" cá nhân gắn với biến đổi kinh tế - xã hội, cùng phân tích của Mai Vũ về nhu cầu tâm lý và tư cách phát ngôn lịch sử của chủ thể tự truyện.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: khắc phục tình trạng nghiên cứu phiến diện vốn chỉ xem tự truyện như một nhánh phụ của tiểu thuyết hoặc chỉ quy về phân tích hình tượng tác giả nội văn bản. Luận án xác lập một vị trí độc lập bằng cách khảo sát tự truyện như một quá trình xã hội hai chiều tương tác giữa chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận, kết hợp khảo sát định lượng với định tính nhằm giải mã căn nguyên xã hội của phong trào tự truyện sau năm 1986.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết hành động xã hội, xã hội học văn học, mĩ học tiếp nhận và tự sự học:

Khung lý thuyết / Khái niệm Tác giả tiêu biểu Nội dung vận dụng trong luận án
Lý thuyết Hành động xã hội Max Weber Hành động viết tự truyện và tiếp nhận tự truyện được định vị là các hành động xã hội mang ý nghĩa chủ quan của cá nhân, luôn tính đến hành vi của người khác và phản ánh cách ứng xử của cá nhân trong cấu trúc xã hội.
Xã hội học văn học Jean-Paul Sartre, Robert Escarpit, Pierre Bourdieu Sartre (Văn học là gì, 1948) xác lập quan niệm văn học là một quá trình xã hội kết hợp giữa người viết và người đọc. Phương pháp của Escarpit cung cấp cách tiếp cận về phản hồi và tiếp nhận; phương pháp của Bourdieu cung cấp góc nhìn về vai trò chủ động của chủ thể trong tương quan với các cơ hội xã hội.
Hiệp ước và định nghĩa tự truyện Philippe Lejeune Vận dụng định nghĩa năm 1971 trong cuốn Tự thuật ở Pháp: thể loại văn xuôi nhìn lại dĩ vãng của một người có thật viết về cuộc sống của mình, đặt trọng tâm vào lịch sử hình thành nhân cách; cam kết đồng nhất giữa tác giả, người kể chuyện và nhân vật ("tam vị đồng nguyên").
Thi pháp học và Ký hiệu học cấu trúc Iuri Lotman Vận dụng quan niệm trong Cấu trúc văn bản nghệ thuật: văn bản nghệ thuật là tổ chức tạo nghĩa thứ cấp với đặc tính đa nghĩa; biến cố cốt truyện được định nghĩa là sự vượt qua ranh giới giữa các trường ngữ nghĩa.
Phân tích diễn ngôn tự sự Käte Hamburger Phân biệt diễn ngôn hư cấu và phi hư cấu trong Lôgic học các thể loại văn học: tác giả tự truyện đóng vai trò là một chủ thể phát ngôn về lịch sử, phát ngôn có tính đại diện và khả năng quy chiếu hiện thực thực tế.

Phương pháp nghiên cứu thực tế của luận án được tiến hành theo hướng hỗn hợp, kết hợp đồng bộ các kỹ thuật xã hội học và tự sự học:

  1. Phương pháp xã hội học:
  • Khảo sát điều tra công chúng bằng bảng hỏi: Thu thập dữ liệu trên một mẫu gồm 201 cá thể thuộc nhiều nhóm xã hội khác nhau tại ba không gian thực địa: thư viện, lớp học và trường học vào tháng 3 năm 2016. Phiếu thăm dò gồm 6 câu hỏi, trong đó có 2 câu hỏi đóng (xác định khả năng và mức độ tiếp cận thể loại), 3 câu hỏi nhiều lựa chọn (xác định lý do, mục đích và nhóm tác giả yêu thích) và 1 câu hỏi mở (thu thập dữ liệu định tính về kỳ vọng của người đọc đối với xu hướng phát triển của tự truyện).
  • Thống kê, phân loại xuất bản: Thu thập và hệ thống hóa dữ liệu xuất bản tự truyện và hồi ký giai đoạn 1986 - 1996 và giai đoạn 1997 - 2014, phân chia theo nguồn gốc (trong nước và dịch thuật nước ngoài), đo lường tần suất tái bản và số lần xuất bản của các tác phẩm tiêu biểu.
  • Phỏng vấn sâu có tham dự: Luận án thực hiện phỏng vấn sâu trực tiếp 4 nhà văn đồng thời là tác giả tự truyện giai đoạn sau 1986:
    • Phỏng vấn sâu số 1: Nhà văn Phan Việt
    • Phỏng vấn sâu số 2: Nhà văn Ma Văn Kháng
    • Phỏng vấn sâu số 3: Nhà văn Bùi Ngọc Tấn
    • Phỏng vấn sâu số 4: Nhà văn Tô Hoài Các dữ liệu phỏng vấn này phục vụ việc xác định động cơ chủ quan và nhu cầu tự thân của người viết trong tương quan với bối cảnh xã hội.
  • Phương pháp nghiên cứu tiểu sử: Khảo cứu mối quan hệ giữa cuộc đời tác giả ngoài đời thực và văn bản tự sự.
  1. Nhóm phương pháp tự sự học: Sử dụng các thao tác phân tích văn bản, so sánh - đối chiếu và phương pháp hệ thống nhằm phân tích điểm nhìn trần thuật hồi cố, phân loại các mô hình biểu đạt chủ thể, đo lường sự tương tác giữa thành phần sự thật và yếu tố hư cấu nghệ thuật.

Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu bao gồm: toàn văn các tác phẩm tự truyện, tiểu thuyết tự truyện xuất bản từ 1986 đến 2016; hệ thống 201 phiếu điều tra xã hội học; 4 văn bản ghi âm/biên bản phỏng vấn sâu nhà văn; hệ thống thư mục xuất bản của các nhà xuất bản trong nước giai đoạn 1986 - 2014.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu tự truyện Việt Nam đương đại

Chương này trình bày lịch sử nghiên cứu thể loại từ năm 1940 đến năm 2016. Luận điểm cốt lõi của chương là chỉ ra sự thiếu hụt của một hệ thống lý thuyết xã hội học chuyên biệt dành cho tự truyện tại Việt Nam.

Phát hiện của chương cho thấy:

  • Quá trình nghiên cứu tự truyện ở Việt Nam bị chi phối nặng nề bởi quan niệm định danh thể loại truyền thống. Sự phân vân giữa việc coi tự truyện là một nhánh của tiểu thuyết hay một thể loại văn học phi hư cấu độc lập đã làm chậm quá trình nghiên cứu thể loại này.
  • Các công trình nghiên cứu đi trước (như của Đoàn Cầm Thi, Lê Tú Anh, Đỗ Hải Ninh) đã nhận diện được sự xuất hiện của cái Tôi cá nhân và các rào cản tư tưởng (Đạo Khổng, chủ nghĩa tập thể), song chưa làm rõ được cơ chế vận hành của tự truyện như một hoạt động xã hội kết nối trực tiếp tác giả, nhà xuất bản và độc giả.
  • Tác giả khẳng định rằng tự truyện ở Việt Nam phát triển theo một lộ trình đặc thù: hình thành đầu thế kỷ XX, gián đoạn nhiều thập kỷ trong thời kỳ chiến tranh và xây dựng chủ nghĩa xã hội tập trung, rồi tái xuất hiện mạnh mẽ sau Đổi mới 1986 gắn liền với tiến trình dân chủ hóa và sự chuyển đổi sang kinh tế thị trường.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của việc nghiên cứu tự truyện Việt Nam đương đại

Chương 2 thiết lập hệ thống khái niệm công cụ và phân tích tiến trình lịch sử thể loại qua ba nội dung lớn: quan niệm về tự truyện, hướng nghiên cứu xã hội học về tự truyện và những chặng đường phát triển của tự truyện Việt Nam.

Nội dung lý luận và phát hiện cụ thể gồm:

  • Luận án xác lập quan niệm: Tự truyện là thể loại mang tính giáp ranh, nằm ở giao lộ của văn học, lịch sử, tâm lý học và xã hội học. Luận án phân tích cấu trúc từ nguyên tiếng Hy Lạp gồm ba thành tố: auto (tự thân), bio (đời sống), graphy (văn bản viết).
  • Phân tích ranh giới giữa sự thật và hư cấu: Dẫn chiếu quan niệm của Philippe Lejeune và Iuri Lotman, luận án khẳng định hư cấu trong tự truyện không phủ định tính chân thực mà là phương thức tổ chức nghệ thuật giúp câu chuyện cá nhân đạt tới tính khái quát thẩm mĩ. Ký ức của người viết chịu sự khúc xạ của thời gian, tâm lý và ý thức hiện tại, do đó văn bản tự truyện luôn có độ lệch nhất định so với hiện thực tiểu sử nguyên bản.
  • Xác định quy ước "tam vị đồng nguyên" (sự trùng khít giữa tác giả tiểu sử, người kể chuyện và nhân vật chính) là bản chất định loại của tự truyện, đi kèm với điểm nhìn trần thuật hồi cố (người kể đứng ở hiện tại nhìn lại quá khứ để trả lời câu hỏi "tôi là ai").
  • Vấn đề chấp bút (ghostwriting): Văn bản thừa nhận tính phổ biến của hiện tượng người khác chấp bút trong tự truyện của nghệ sĩ, chính trị gia. Tuy nhiên, luận án chỉ rõ rằng dù qua ngòi bút trung gian, hiệp ước tự truyện vẫn được duy trì khi chủ nhân câu chuyện đứng tên xác nhận trách nhiệm phát ngôn, và độc giả tiếp nhận văn bản với tư cách câu chuyện thật của chính chủ thể đó.
  • Lịch sử tự truyện Việt Nam được phân kỳ gắn liền với sự vận động của ý thức cá nhân: chặng khởi đầu 1929 - 1945 (Giấc mộng lớn, Những ngày thơ ấu, Dã tràng); giai đoạn tạm lắng 1945 - 1986 khi ý thức cộng đồng và nhiệm vụ cách mạng giữ vị trí chủ đạo; giai đoạn phục hồi từ sau 1986 và bùng nổ thành phong trào xã hội từ năm 2006 đến nay.

Chương 3: Những điều kiện tự truyện và sự bộc lộ chủ thể trong tự truyện

Chương 3 phân tích sâu các tiền đề xã hội định hình tự truyện và các phương thức biểu đạt chủ thể văn bản:

  • Các điều kiện tự truyện: Luận án chỉ ra ba tiền đề xã hội cốt lõi:
    1. Quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội và sự đề cao vị thế cá nhân sau năm 1986;
    2. Sự phát triển của kinh tế thị trường và văn hóa đại chúng, biến tự truyện thành một sản phẩm có tính thương mại đáp ứng thị hiếu tò mò của công chúng;
    3. Sự bùng nổ của truyền thông mới và Internet, tạo điều kiện cho các tầng lớp xã hội bình đẳng hóa quyền cất lên tiếng nói cá nhân.
  • Sự bộc lộ chủ thể và các hình thức biểu đạt: Chủ thể tự truyện trong văn bản được chia tách thành hai phương diện: chủ thể tiểu sử ngoài đời thực và chủ thể phát ngôn nghệ thuật. Luận án khảo sát các dạng thức cái Tôi:
    • Cái tôi chứng nhân lịch sử và trải nghiệm nghề nghiệp (trong các tác phẩm của Tô Hoài, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng);
    • Cái tôi chấn thương, mất mát và phản tư thân phận (trong tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn, Vũ Thư Hiên);
    • Cái tôi nữ quyền và giải phóng thân thể (trong Yêu và Sống của Lê Vân, Gia đình bé mọn của Dạ Ngân);
    • Cái tôi dị biệt của các nhóm thiểu số xã hội, người đồng tính (Bóng của Nguyễn Văn Dũng, Không lạc loài của Thành Trung);
    • Cái tôi nghị lực vượt qua nghịch cảnh và bệnh tật (Không gục ngã của Nguyễn Bích Lan, Như hoa hướng dương của Nguyễn Thị Diệu Thuần);
    • Cái tôi ngôi sao giải trí (Bên kia bức tường của Trần Lập, Để gió cuốn đi của Ái Vân).
  • Giới hạn xã hội và sự lựa chọn của chủ thể: Luận án phân tích sự xung đột giữa khát vọng bộc lộ sự thật của cá nhân và sức ép định chế văn hóa (định kiến dư luận xã hội, đạo đức truyền thống). Phản ứng của xã hội đối với cuốn Yêu và Sống của Lê Vân là minh chứng điển hình cho áp lực này, buộc nhiều người viết phải ngần ngại hoặc rút lui ý định công bố tác phẩm (như trường hợp nghệ sĩ Thanh Hoa). Do đó, việc lựa chọn hình thức tự truyện - tiểu thuyết được xem như một ứng xử tự vệ để né tránh áp lực xã hội.

Chương 4: Hoạt động tiếp nhận tự truyện

Chương 4 tiếp cận tự truyện từ góc độ xã hội học tiếp nhận, chia thành ba bình diện: xuất bản, bạn đọc và các mô hình diễn giải.

  1. Bình diện xuất bản: Luận án tổng hợp số liệu xuất bản để chứng minh sự chuyển dịch quy mô của thể loại. Dữ liệu bảng thống kê trong luận án thể hiện cơ cấu nguồn gốc và tiến trình phát triển:
Danh mục bảng thống kê trong luận án Nội dung khảo sát Vị trí trang văn bản
Bảng 1 Số lượng tự truyện và hồi ký xuất bản từ 1986 đến 1996 chia theo nguồn gốc Trang 120
Bảng 2 Số lượng tự truyện và hồi ký được xuất bản từ 1997 - 2014 chia theo nguồn gốc Trang 122
Bảng 3 Lý do đọc tự truyện Trang 130
Bảng 4 Mục đích đọc tự truyện Trang 130
Bảng 5 Mức độ đọc tự truyện Việt Nam Trang 131
Bảng 6 Mức độ đọc tự truyện nước ngoài Trang 131
Bảng 7 Anh/chị thích đọc tự truyện của nhóm tác giả nào Trang 132

Dữ liệu xuất bản phản ánh giai đoạn 1986 - 1996 có số lượng tự truyện khiêm tốn, chủ yếu là hồi ký của cán bộ hoạt động cách mạng và văn nghệ sĩ gạo cội. Giai đoạn 1997 - 2014 ghi nhận sự gia tăng đột biến về số lượng đầu sách tự truyện trong nước và tác phẩm dịch nước ngoài, đi kèm với chỉ số tái bản cao của các ấn phẩm tạo dư luận xã hội.

  1. Bình diện người đọc: Dữ liệu từ 201 phiếu điều tra xã hội học (tháng 3/2016) được luận án phân tích nhằm lượng hóa chân dung công chúng tự truyện. Kết quả từ Bảng 3 đến Bảng 7 chỉ ra:
  • Lý do và mục đích đọc: Người đọc tìm đến tự truyện chủ yếu do nhu cầu khám phá sự thật đời tư của người nổi tiếng (tâm lý "nhìn trộm qua lỗ khóa"), tìm kiếm bài học kinh nghiệm sống, hoặc tìm kiếm sự đồng cảm tinh thần trước những biến cố cuộc đời.
  • Xu hướng lựa chọn nhóm tác giả: Độc giả dành sự ưu tiên cao cho tự truyện của giới văn nghệ sĩ và những người có số phận đặc biệt/vượt khó, trong khi tự truyện chính trị có phạm vi tiếp nhận hẹp hơn.
  • Mức độ đọc: Tự truyện nước ngoài (dịch thuật) có thị phần tiếp nhận cạnh tranh trực tiếp với tự truyện trong nước.
  1. Bình diện các mô hình diễn giải: Luận án phân tích sự phân hóa trong tiếp nhận của công chúng và giới phê bình:
  • Mô hình diễn giải luân lý / đạo đức: Có xu hướng phê phán các tự truyện phơi bày góc khuất gia đình, vi phạm quy phạm đạo đức truyền thống (trường hợp Yêu và Sống).
  • Mô hình diễn giải thẩm mĩ / văn học: Chú trọng tính chân thực nội tâm, kỹ thuật tự sự và khả năng khái quát hóa số phận con người.
  • Mô hình diễn giải xã hội / tư liệu: Xem tự truyện là nguồn tư liệu phản ánh các chuyển biến lịch sử và tâm thức cộng đồng.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn được luận án tự xác định bao gồm:

  • Luận án là công trình tổng quan có tính hệ thống đầu tiên nghiên cứu thể loại tự truyện Việt Nam đương đại với tư cách là một quá trình xã hội. Qua đó, công trình phác họa diện mạo toàn cảnh, làm rõ các nhân tố văn hóa - xã hội chi phối sự vận động của thể loại và dự báo xu hướng vận động của tự truyện trong tương lai.
  • Luận án xây dựng thành công một khung lý thuyết nghiên cứu xã hội học áp dụng cho tự truyện dựa trên ba thành tố cấu trúc tương tác hữu cơ: Những điều kiện tự truyện, Sự bộc lộ chủ thể trong tự truyện và Hoạt động tiếp nhận. Khung lý thuyết này có thể mở rộng ứng dụng để nghiên cứu các hiện tượng văn học đương đại khác.
  • Luận án khẳng định tính khả dụng và hiệu quả thực chứng của phương pháp xã hội học trong nghiên cứu văn học. Việc phối hợp giữa phân tích tự sự học định tính và khảo sát xã hội học định lượng (mẫu điều tra 201 cá thể, thống kê xuất bản) đã gia tăng độ tin cậy khoa học cho các kết luận nghiên cứu văn học.
  • Về mặt thực tiễn, luận án đề xuất việc ứng dụng kết quả nghiên cứu làm tài liệu tham khảo cho công tác đào tạo, giảng dạy các chuyên đề văn học Việt Nam đương đại, xã hội học văn hóa, đồng thời cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng cho các nhà quản lý xuất bản trong việc nắm bắt thị hiếu công chúng và xây dựng chính sách phát triển văn hóa đọc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án nêu rõ một số giới hạn nghiên cứu:

  • Do đặc tính của tự truyện đương đại có một phần lớn là các sản phẩm đại chúng thương mại, không hàm chứa nhiều chủ ý nghệ thuật sâu sắc, nên trong quá trình phân tích văn bản, tác giả chủ động tập trung nhiều hơn vào các tác phẩm có giá trị thẩm mĩ và giá trị nhân sinh nổi trội, thay vì bao quát toàn bộ mọi ấn phẩm bình dân trên thị trường.
  • Về dữ liệu điều tra công chúng, mẫu khảo sát thực địa (201 cá thể) được thực hiện trong phạm vi không gian cụ thể (thư viện, trường học, lớp học) vào thời điểm tháng 3 năm 2016, do đó phản ánh tập trung thị hiếu của nhóm độc giả trẻ và giới học đường.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo mà luận án gợi mở là tiếp tục theo dõi diễn biến của thể loại khi chịu tác động sâu hơn từ các nền tảng truyền thông số, mạng xã hội, và mở rộng diện khảo sát sang các nhóm công chúng đa dạng hơn trong xã hội.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật đối với:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lý luận văn học, Văn học Việt Nam và Xã hội học văn hóa: Phần đáng tham khảo nhất là khung lý thuyết tích hợp giữa hành động xã hội của Max Weber với mỹ học tiếp nhận, cùng chương phân tích chi tiết về bản chất thể loại, ranh giới sự thật - hư cấu và kỹ thuật tự sự trần thuật hồi cố.
  • Các nhà nghiên cứu liên ngành xã hội học và truyền thông: Phần phương pháp luận khảo sát định lượng với 7 bảng số liệu thống kê xuất bản và thăm dò ý kiến độc giả là mô hình thực chứng mẫu mực cho việc ứng dụng công cụ xã hội học vào phân tích hiện tượng văn hóa đại chúng.
  • Biên tập viên các nhà xuất bản và nhà hoạch định chính sách xuất bản: Dữ liệu phân tích Chương 4 về chuỗi tiếp nhận (từ khâu kiểm duyệt, xuất bản, tái bản đến các mô hình diễn giải dư luận) giúp hiểu rõ tâm lý tiếp nhận của công chúng đối với dòng sách tự thuật đời tư.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án giải quyết vấn đề ranh giới giữa tự truyện và tiểu thuyết tự thuật như thế nào? Luận án căn cứ vào tiêu chí sự thật, tính quy chiếu và mô hình "tam vị đồng nguyên". Trong tự truyện, tác giả, người kể chuyện và nhân vật chính trùng làm một, gắn liền với cam kết sự thật và điểm nhìn hồi cố của một con người có thật ngoài đời. Ở tiểu thuyết tự thuật, dù mang đậm chất liệu đời tư, nhà văn vẫn sử dụng hư cấu nghệ thuật như một phương thức ứng xử nhằm từ chối cam kết "chỉ nói thật" trước áp lực xã hội và cơ chế tự kiểm duyệt.

2. Theo tổng thuật của luận án, những yếu tố văn hóa nào từng cản trở sự phát triển của tự truyện Việt Nam? Theo luận giải của nhà nghiên cứu Đoàn Cầm Thi được luận án dẫn dụng, hai bước cản lớn nhất đối với tự truyện trong văn hóa truyền thống là Đạo Khổng và chủ nghĩa tập thể. Các hệ tư tưởng này đề cao tính cộng đồng, tôn ti trật tự, kìm hãm sự bộc lộ cái Tôi cá nhân độc lập và tạo ra định kiến xã hội khắt khe đối với những tác giả công khai phơi bày đời tư hoặc đi ngược lại quan niệm số đông.

3. Công cụ khảo sát định lượng của luận án được thực hiện với quy mô và kỹ thuật như thế nào? Khảo sát định lượng được thực hiện trên mẫu 201 cá thể tại ba không gian: thư viện, lớp học và trường học trong tháng 3 năm 2016. Công cụ thu thập là phiếu trưng cầu ý kiến gồm 6 câu hỏi (2 câu hỏi đóng đo lường khả năng và mức độ đọc; 3 câu hỏi nhiều lựa chọn đo lường lý do, mục đích và nhóm tác giả yêu thích; 1 câu hỏi mở thu thập ý kiến định tính về xu hướng tiếp nhận tự truyện trong tương lai).

4. Luận án nhìn nhận thế nào về hiện tượng tự truyện do người khác chấp bút (ghostwriting)? Luận án chỉ ra rằng dù có sự tham gia của người chép truyện và nguy cơ bị chi phối bởi góc nhìn trung gian, tự truyện chấp bút vẫn giữ nguyên giá trị thể loại khi chủ thể cuộc đời đứng tên xác nhận "đó là câu chuyện của tôi". Đối với người đọc, tính chân thực của câu chuyện về một con người cụ thể bằng xương bằng thịt mới là yếu tố quyết định sự tiếp nhận, chứ không phải hình thức ghi chép văn bản.

5. Vì sao sự xuất hiện của tác phẩm Yêu và Sống (Lê Vân, 2006) được xem là mốc chuyển hướng của tự truyện Việt Nam đương đại? Yêu và Sống đánh dấu bước ngoặt thể loại khi tính chất tiểu thuyết giảm đi và tính chất phi hư cấu tăng lên rõ rệt. Tác phẩm đã phá vỡ khuôn mẫu tự truyện truyền thống khi bộc lộ trực diện cái tôi cá nhân, phơi bày những ẩn ức đời tư và xung đột gia đình, khơi mào cho cuộc tranh luận xã hội sâu rộng về chuẩn mực đạo đức và quyền tự thuật của người phụ nữ, mở đường cho trào lưu tự truyện đại chúng nở rộ sau đó.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Hoàng Thị Tâm là công trình khoa học chuyên khảo vận dụng hệ thống lý thuyết xã hội học văn học để lý giải hiện tượng tự truyện Việt Nam đương đại như một quá trình xã hội hai chiều từ tạo lập đến tiếp nhận. Thông qua sự kết hợp giữa phân tích tự sự học văn bản và các dữ liệu khảo sát thực chứng (điều tra 201 độc giả, thống kê xuất bản 1986 - 2014, phỏng vấn sâu 4 nhà văn), công trình đã giải mã bản chất diện mạo thể loại trong mối quan hệ hữu cơ với sự chuyển biến của ý thức cá nhân và tiến trình dân chủ hóa xã hội sau năm 1986. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị lý luận và phương pháp luận vững chắc cho công tác nghiên cứu, đào tạo văn học và xã hội học văn hóa đương đại.