CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU TỰ TRUYỆN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 1. Tổng quan tài liệu liên quan đến đề tài Ngay từ năm 1940, trong công trình Nhà văn hiện đại, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đã từng quan tâm tới tự truyện với tư cách là một nhóm loại tiểu thuyết hấp dẫn và nhiều thử thách. Các bài viết của ông về Dã tràng của Thiết Can, Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Sống nhờ của Mạnh Phú Tư có thể coi là những nghiên cứu đầu tiên về tự truyện. Do thực tế phát triển của thể loại, nên đến tận thế kỷ thứ 21 này, khi phong trào dân chủ hóa văn học ngày càng trở nên sôi nổi, văn học bắt đầu xuất hiện một loạt tác phẩm lấy cuộc đời riêng của người viết làm đề tài, câu chuyện về tự truyện mới được dịp quay trở lại.
Chính vì thế mà những nghiên cứu về nó cũng mới đang ở giai đoạn bắt đầu. Những vấn đề như: tự truyện là gì, văn học Việt Nam có tự truyện hay không, con đường phát triển của nó là như thế nào, những dấu hiệu của tự truyện trong các tác phẩm cụ thể…đã và đang được đặt ra. Trong phần này, để thuận tiện cho sự trình bày, chúng tôi tạm chia hoạt động nghiên cứu về tự truyện ở Việt Nam thành hai nhóm chính: nhóm tập trung vào những vấn đề thể loại và nhóm quan tâm tới những tác phẩm tự truyện riêng biệt. Những vấn đề thể loại Hai câu hỏi lớn mà những nghiên cứu về tự truyện Việt Nam luôn quan tâm là: thế nào là tự truyện và Văn học Việt Nam có tự truyện hay không.
Đây cũng đồng thời là những vấn đề gây tranh luận khá nhiều kể từ khi thể loại này xuất hiện. Có thể kể đến một loạt các bài viết tiêu biểu như: Truyện tiểu sử, một loại hình tự sự cần được khẳng định và phát triển của Trương Dĩnh năm 2000, Viết tự truyện, khi nào và vì sao của Trần Văn Toàn năm 2003, chùm bài viết của Đoàn Cầm Thi đăng rải rác trên báo văn nghệ từ 2004 đến 2008 sau này tập hợp lại trong cuốn sách mới xuất bản Đọc Tôi bên bến lạ: Cơ hội của chúa - từ nhật ký đến hậu trường văn học (2004), Nỗi buồn chiến tranh: tự truyện bất thành (2004), Đặng Thùy Trâm: biến số và ẩn số (2008), Tương lai tự truyện Việt Nam còn ở phía trước (2008), bài viết của Lê Tú Anh: Phan Bội Châu niên biểu (Phan Bội Châu) và Giấc 7 mộng lớn (Tản Đà) - Những bước đi đầu tiên của tự truyện Việt Nam (2010), của Đỗ Hải Ninh: Mối quan hệ giữa tự truyện - tiểu thuyết và một số dạng tự thuật trong văn học Việt Nam đương đại (2009) và sau này là luận án khá công phu của chị: Tiểu thuyết có khuynh hướng tự thuật trong Văn học Việt Nam đương đại năm 2012. Ngoài ra, việc xác định những đặc điểm của tự truyện không thể không kể đến hai nghiên cứu khá quan trọng là bài viết: Tự thuật và tiểu thuyết Pháp ở thế kỷ XX của Đặng Thị Hạnh năm 1998 và chương Tiểu thuyết tự thuật trong công trình nghiên cứu Tiểu thuyết Pháp bên thềm thế kỷ XXI của Phùng Văn Tửu năm 2005. Mặc dù đối tượng nghiên cứu là tiểu thuyết Pháp nhưng những vấn đề như bối cảnh, hành trình, đặc điểm của thể loại được đề cập đến trong các nghiên cứu này đã giúp cho việc hiểu về tự truyện Việt Nam thêm cụ thể, rõ ràng.
Về câu hỏi thế nào là tự truyện, hầu như các nghiên cứu đều coi định nghĩa của P. Lejeune là cơ sở để xác định các đặc trưng thể loại. Nhà nghiên cứu Đặng Thị Hạnh sau khi mô tả nguồn gốc của việc lấy cái tôi làm đối tượng miêu tả là tinh thần tự thú và hành trình của nó trong văn học Pháp đã nêu định nghĩa về thể loại của P. Lejeune làm cơ sở cho việc nêu ra mối quan hệ giữa nó và tiểu thuyết: “Năm 1971 trong cuốn Tự thuật ở Pháp Philippe Lejeune định nghĩa nó như sau: Truyện kể mang tính nhìn lại dĩ vãng, mà một người có thật viết về cuộc sống của mình, khi người đó đặt trọng âm lên đời sống riêng, nhất là lên sự hình thành nhân cách” [70, 36].
Định nghĩa này được coi là căn cứ lý thuyết quan trọng trong hầu khắp các nghiên cứu về tự truyện. Tại chương Tiểu thuyết Tự Thuật, tác giả Phùng Văn Tửu cũng dẫn định nghĩa này để phân biệt với tiểu thuyết và chỉ ra sự giao thoa giữa hai thể loại. Điều thú vị là ở chỗ, ông có ghi chú thêm: “thể loại tự thuật không chỉ giới hạn ở những nhà văn tuy ở đây ta chỉ xem xét trường hợp nhà văn viết tự thuật” [165, 136] như một sự phân định ranh giới giữa tự thuật của nhà văn và tự thuật nói chung. Tuy vậy, ông không đi sâu phân tích ranh giới này mà chỉ coi đó là một giới hạn cho phạm vi nghiên cứu của mình, đó là mối quan hệ giữa tiểu thuyết và tự thuật, tiểu thuyết tự thuật và tiểu thuyết.
Chú ý tới tác giả song nhấn mạnh một đặc điểm thuộc về chủ thể tự truyện, đó là tuổi tác và độ chín của những trải nghiệm nhân sinh, nhà nghiên cứu Trần Văn Toàn viết: “Tự truyện như ta đã biết, thường được viết vào thời tác giả đã trưởng 8 thành, đã trải qua phần lớn các chặng đường đời. Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt tự truyện với nhật ký. Ở nhật ký, thời gian viết và thời gian được nói tới trùng khít với nhau trong khi đó ở tự truyện giữa hai dòng thời gian này là một khoảng cách rất rõ nét. Vậy thì điều gì đã khiến một tác giả đang sống ở đây, trong hiện tại - lại có nhu cầu nhìn lại quá khứ đã trôi xa của mình.
Vì đâu mà người ta khao khát được tìm lại “thời gian đã mất”? (…) Về phần mình, tôi cho rằng: tự truyện gắn với một năng lực đặc biệt của con người: năng lực nghiệm sinh cuộc sống. Cuộc sống có trải nhưng cũng có nghiệm và không phải lúc nào trải và nghiệm cũng đồng nhất với nhau. Để nghiệm cần có thời gian, cần một sự lịch duyệt nhân sinh, không hiếm khi là những đổ vỡ, vấp ngã trong đường đời để đọc thấu/ để cấp cho những gì đã trải một ý nghĩa nào đó” [167]. Như thế, căn nguyên của sự khác nhau giữa nhật ký và tự truyện chính là sự “lịch duyệt nhân sinh” hay nói khác đi, là tuổi tác, là thời gian đủ để có thể nghiệm sinh cuộc sống của chính tác giả tự truyện.
Từ đây, quá khứ mang một ý nghĩa khác, ý nghĩa của trải nghiệm, của hiện tại viết mà không còn là chính nó tại thời điểm đã diễn ra. Sự lý giải này cho phép người đọc nhận thức đầy đủ hơn về sự tác động của các yếu tố chủ quan của chủ thể tự truyện lên câu chuyện của mình. Các yếu tố chủ quan hiểu rộng ra là tuổi tác, nghề nghiệp, thói quen, là ý thức xã hội. Chúng tác động lên hành động tự truyện, tạo nên đặc điểm riêng của từng tự truyện.
Cùng với việc xác định đặc trưng cơ bản của tự truyện, câu hỏi tự truyện có phải là văn học hay không cũng được đặt ra. Có thể nói nhà nghiên cứu Lê Tú Anh là người quan tâm đến vấn đề này nhiều nhất. Trong các bài viết của mình, việc đưa ra quan niệm về tự truyện và coi tự truyện như một thể loại văn học luôn được nhấn mạnh. Theo đó, tự truyện chỉ được coi là văn học khi nó đạt được các phẩm chất văn học: “Theo tôi, tự truyện như một thể loại văn học hay một tác phẩm tự truyện ngoài việc cần phải có những điểm khả thủ để phân biệt ở một mức độ tương đối với hồi ký, nhật ký, tiểu thuyết; cần phải đáp ứng được những yêu cầu để có thể phân biệt với một tự truyện chưa đạt đến trình độ tác phẩm văn học (cận văn học).
Các yêu cầu cụ thể, là: phải có thao tác tự sự, có ý nghĩa nhân sinh và ngôn từ có tính nghệ thuật” [5] 9 Những xác định này đã vẽ ra một đường phân giới giữa một bên là tự truyện “cận văn học” và một bên là tự truyện văn học. Sự khác nhau giữa chúng là ở chỗ có/ không có những phẩm chất vừa nêu. Điều này cũng được nhà văn Triệu Xuân nêu ra trong bài viết: Tự truyện: con nuôi của văn học, ông viết: “Tự truyện không hẳn là văn học. Nó là một thể văn viết ghi lại tư liệu có thật nhằm thuật lại cuộc đời, sự nghiệp của một cá nhân hoặc một gia đình, dòng họ.
Tự truyện chỉ có thể là văn học khi nó được viết theo cái cách của văn học. Thông qua số phận của cá nhân ấy, gia đình ấy, phản ánh và biểu hiện tâm thế của một cộng đồng, một dân tộc, một thời đại.các cuốn như Thép đã tôi thế đấy của N.Otxtrovski, Bộ ba tác phẩm: Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi của M. Gorky, Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Cai của Vũ Bằng là tự truyện chính cống. Theo ông, cái cách của văn học, chính là những kỹ thuật của văn học, chúng tạo nên phẩm chất văn học của tác phẩm.
Như thế, sẽ tồn tại những tác phẩm có/ không có chất văn học ở những mức độ khác nhau. Trong khi đó, bản thân những phẩm chất đó phần lớn lại tùy thuộc vào sự cảm nhận của người đọc bên cạnh sự thể hiện giá trị tự thân của văn bản. Trên thực tế, do đặc tính của mình, tự truyện còn có thể được đọc ở nhiều phương diện khác nữa như phương diện tư liệu, phương diện văn hóa, phương diện xã hội…mà không chỉ đọc thuần túy bằng sự cảm nhận văn chương.Vì thế, theo chúng tôi, sẽ cùng lúc tồn tại hai phạm vi của tự truyện: tự truyện mang phẩm chất văn học và những tự truyện mà phẩm chất văn học ít hơn. Điều đó phản ánh chính thực tế của thể loại.
Với chủ đề “văn học Việt Nam có tự truyện hay không”, những nghiên cứu và tranh luận cũng diễn ra khá sôi nổi. Trả lời câu hỏi này tồn tại hai ý kiến trái ngược nhau, một khẳng định và một phủ định. Nhà nghiên cứu Lê Tú Anh, các nhà văn Bảo Ninh, Triệu Xuân, Văn Chinh khẳng định truyền thống văn học Việt Nam đã xuất hiện tự truyện với tư cách một thể loại văn học.