Tổng quan luận án
Dự án đầu tư xây dựng công trình từ giai đoạn chuẩn bị thực hiện đến khi đưa vào khai thác sử dụng là một quá trình phức tạp, đặc trưng bởi tính bất định của các sự kiện tác động đến toàn bộ dự án. Khảo sát của Flyvbjerg (2002) trên 258 dự án đường sắt và cao tốc với tổng giá trị lên đến 90 triệu USD tại 20 quốc gia cho thấy gần 90% số dự án vượt chi phí được duyệt; trong đó, dự án đường sắt có chi phí tăng trung bình 45% so với dự toán ban đầu và dự án đường cao tốc tăng thêm 20%. Tình trạng không đạt được các mục tiêu về chi phí, thời gian và chất lượng là hiện tượng phổ biến tại nhiều quốc gia.
Tại Việt Nam, các dự án đầu tư xây dựng đường sắt đô thị (ĐSĐT) tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) là những dự án trọng điểm quốc gia, sử dụng nguồn vốn Nhà nước kết hợp vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) từ Nhật Bản, Trung Quốc, Đức và Hàn Quốc. Tương tự bối cảnh quốc tế, các dự án ĐSĐT tại Việt Nam đối mặt với tình trạng chậm tiến độ kéo dài và đội vốn gấp 2 đến 3 lần so với phê duyệt ban đầu (Bộ Giao thông Vận tải, 2019). Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ thiếu sót trong công tác nhận dạng và đánh giá rủi ro (QLRR), tiếp cận rủi ro dưới góc nhìn đơn lẻ và thiếu các mô hình định lượng phản ánh mối quan hệ tương tác phi tuyến giữa các yếu tố rủi ro.
Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu về rủi ro dự án đầu tư xây dựng ĐSĐT tại TP.HCM, với trường hợp nghiên cứu cụ thể là Tuyến số 1 TP.HCM (Bến Thành – Suối Tiên). Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Nhận dạng các rủi ro dự án đầu tư xây dựng ĐSĐT tại TP.HCM nói chung và Tuyến số 1 Bến Thành – Suối Tiên nói riêng, bao gồm các vấn đề về kỹ thuật, xã hội, kinh tế, môi trường và chính trị trong giai đoạn thực hiện dự án.
- Đánh giá mức độ ưu tiên tổng hợp của các nhóm rủi ro và từng biến rủi ro cụ thể đến đa mục tiêu dự án, bao gồm chi phí, thời gian và chất lượng.
- Tính toán các chỉ số về mức độ ưu tiên của rủi ro làm cơ sở xếp hạng thứ tự ưu tiên xử lý, xác định những rủi ro có chỉ số ưu tiên cao cần tập trung phân tích và quản lý chuyên biệt.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các dạng rủi ro hình thành trong giai đoạn thực hiện của dự án đầu tư xây dựng ĐSĐT tại TP.HCM, lấy Tuyến số 1 Bến Thành – Suối Tiên làm tình huống nghiên cứu điển hình. Các rủi ro được khảo sát gồm 5 nhóm: rủi ro xã hội, kỹ thuật, kinh tế, môi trường và chính trị, tác động đến 3 mục tiêu là chi phí, thời gian và chất lượng. Đối tượng thu thập dữ liệu là các chuyên gia, nhà quản lý và kỹ sư trực tiếp tham gia quản lý, điều hành và thực hiện dự án.
Phạm vi nghiên cứu được xác định:
- Khách thể nghiên cứu: Tiếp cận dưới góc nhìn của các bên liên quan chính trong giai đoạn thực hiện dự án.
- Không gian nghiên cứu: Các dự án ĐSĐT tại TP.HCM, tập trung nghiên cứu điển hình tại Tuyến số 1 Bến Thành – Suối Tiên.
- Thời gian nghiên cứu: Dữ liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2016 – 2019; dữ liệu sơ cấp thu thập thông qua thảo luận nhóm chuyên gia và khảo sát trong năm 2019.
- Nội dung: Luận án chỉ xem xét các mặt tiêu cực của rủi ro; khía cạnh tích cực được nhìn nhận như cơ hội của các bên liên quan.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan các công trình quốc tế cho thấy rủi ro trong các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông và ĐSĐT có quy mô và tính chất phức tạp hơn các ngành công nghiệp khác. Zou, Zhang và cộng sự (2007) nhận dạng 25 rủi ro ảnh hưởng đến các dự án ĐSĐT tại Trung Quốc; Safer (2003), Tommy, Ivan và cộng sự (2007) chỉ ra các nguyên nhân trễ tiến độ như tài chính, phương thức thanh toán, điều kiện địa chất và nhân lực; Chen, Hao và cộng sự (2004) xác định 15 rủi ro chi phí tại dự án West Rail Project (Hong Kong) phân theo 3 nhóm (nguồn lực, quản lý, chủ đầu tư); Shen và Tam (2002) nhận dạng 8 rủi ro gây chậm trễ tiến độ; Levitt, Logcher và cộng sự (1988) phân loại rủi ro thành yếu tố kinh tế xã hội, quan hệ tổ chức và vấn đề kỹ thuật; Scholten (2009) phân tích các dự án thuộc European Cohesion Funds và nhấn mạnh tác động của các yếu tố bên ngoài; Sunduck (1999) phân chia rủi ro ĐSĐT thành nhóm xã hội - chính trị, thiết kế - thi công và tài chính.
| Nhóm rủi ro |
Biến rủi ro thành phần tiêu biểu |
Tác giả công trình |
| Rủi ro xã hội |
Giải phóng mặt bằng, chi phí đền bù tăng cao, tranh chấp đất |
Hilber và Robert-Nicoud (2013), Funderburg và cộng sự (2010), Glaeser và Ward (2009) |
|
Tranh chấp lao động, an toàn tài sản, sự phản đối của cộng đồng |
Alinaitwe và cộng sự (2007), Jones và Brinkert (2008), Fraser (2002), Al-Momani (2000) |
|
Gia tăng chi phí do tranh cãi pháp lý, khiếu nại xã hội |
Bruzelius, Flyvbjerg và cộng sự (2002), Altshuler và Luberoff (2003), Singh (2010), Galloway (2006) |
|
Xung đột lợi ích và sự tham gia của nhiều bên ra quyết định |
Winch (2010), Olander và Landin (2005), Bourne và Walker (2005), Miller và Lessard (2001) |
| Rủi ro kỹ thuật |
Mơ hồ phạm vi dự án, thay đổi phạm vi |
Miller và Lessard (2001), Ghosh và Jintanapakanont (2004), PAC (2004) |
|
Bất định thông số địa chất, độ phức tạp kỹ thuật chưa phân tích đủ |
Tommy Y. (2000), Audit Scotland (2011), Brockmann (2007), HS2 Ltd (2009), Yasemin N. (2013) |
|
Thay đổi thiết kế, gián đoạn cung ứng vật tư, trễ tiến độ thi công |
Haynes (2008), Norrman và Jansson (2004), NAO (2005), Fugar và Agyakwah-Baah (2010), Safer (2003) |
| Rủi ro kinh tế |
Thay đổi chính sách tài trợ, quy định thuế, lạm phát, tỷ giá |
Hodge (2004), EC (2004), Hertogh và cộng sự (2008), PAC (2004), Ghosh và Jintanapakanont (2004) |
|
Biến động giá vật liệu, suy thoái kinh tế, lãi suất, giá nhiên liệu |
Audit Scotland (2011), Haynes (2008), Smith (2014), Flyvbjerg (2002) |
| Rủi ro môi trường |
Sự cố môi trường do thi công, điều kiện thời tiết bất lợi (mưa, bão) |
Flyvbjerg (2002), Tommy Y. (2000), EC (2004), Ghosh và Jintanapakanont (2004), Hodge (2004) |
| Rủi ro chính trị |
Can thiệp chính trị, thay đổi chính quyền, sự do dự chính trị |
NAO (2005), PAC (2004), Haynes (2008), EC (2004), Flyvbjerg (2002) |
|
Tạm dừng dự án, chậm thẩm định phê duyệt, thay đổi luật pháp |
Perminova và cộng sự (2008), Audit Scotland (2011), Hodge (2004) |
Về phương pháp, các công cụ truyền thống như giá trị kỳ vọng EV (Mak và Picken, 2000; Jannadi và Almishari, 2003), mô phỏng Monte Carlo (Molenaar, 2005), tập mờ fuzzy set (Paek và cộng sự, 1993), phân tích NPV (Ye và Tiong, 2000), hoặc phân tích chi phí dự phòng (Touran, 2003) bộc lộ nhiều hạn chế. Diekmann (1992) và DeRosa, Anne-Marie và cộng sự (2008) chỉ ra rằng các mô hình truyền thống giả định dự án là hệ thống đóng (close system), các thành phần có quan hệ nhân quả tuyến tính và độc lập. Trong thực tế, dự án ĐSĐT có cấu trúc mạng lưới với sự tương tác qua lại, phản hồi liên tục và phi tuyến giữa các yếu tố.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Trần Thu Hương (2016), Bộ Giao thông Vận tải (2019), Trần Quang Phú (2017), Huỳnh Hồng Thanh (2015), Cù Thị Ngọc Lan (2016), Đinh Tuấn Hải và cộng sự (2018), cùng các báo cáo của ADB (2011, 2012) và World Bank (2017) đã chỉ ra các nhóm nguyên nhân gây chậm trễ như thể chế, giải phóng mặt bằng, năng lực quản lý dự án, xung đột thiết kế và khác biệt thủ tục ODA. Wang, Li và cộng sự (2000) từng sử dụng mô hình AHP để đánh giá rủi ro xây dựng. Tuy vậy, các nghiên cứu trong nước chủ yếu dừng lại ở việc liệt kê định tính, xem xét các biến riêng lẻ hoặc chỉ đo lường tác động lên một mục tiêu đơn nhất (hoặc chi phí, hoặc tiến độ).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết bao gồm:
- Nhận dạng toàn diện các yếu tố rủi ro dự án ĐSĐT tại TP.HCM trên cả 5 khía cạnh: xã hội, kỹ thuật, kinh tế, môi trường và chính trị.
- Đánh giá mức độ ưu tiên tổng hợp của rủi ro đối với đồng thời cả ba mục tiêu cốt lõi: chi phí, thời gian và chất lượng.
- Áp dụng mô hình định lượng mạng phân tích (Analytic Network Process - ANP) để lượng hóa các mối quan hệ tương tác mạng, phản hồi và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nhóm rủi ro và các mục tiêu dự án.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý luận, luận án tiếp cận khái niệm rủi ro theo công thức của Rosa (2003): Rủi ro = Sự không chắc chắn + Những thiệt hại; đồng thời tham chiếu các định nghĩa của BSI (2000, 2002, 2011), HM Treasury (2004), AIRMIC (2002), ISO/IEC Guide 73 (1996), ISO 31000:2009, Đinh Tuấn Hải và Nguyễn Hữu Huế (2015), Bùi Ngọc Toàn (2012), Nguyễn Văn Chọn (2004), Đoàn Thị Hồng Vân (2009). Luận án phân biệt rủi ro (đo lường được xác suất và tổn thất) với bất trắc (chưa biết xác suất, mang tính bất định cao hơn - Boardman và Sauser, 2008). Phân loại rủi ro được thực hiện theo: (1) Môi trường tác động (bên trong / bên ngoài); (2) Bản chất (thuần túy / suy tính); (3) Khả năng lượng hóa (tính toán được / không tính toán được); (4) Đối tượng tác động (chi phí, thời gian, chất lượng); (5) Khía cạnh tác động (5 nhóm: xã hội, kỹ thuật, kinh tế, môi trường, chính trị).
| Nhóm rủi ro |
Khái niệm và đặc trưng lý luận |
| Rủi ro xã hội (RRXH) |
Tác động từ cộng đồng dân cư, giải phóng mặt bằng, xung đột lợi ích giữa các bên liên quan, khoảng cách trách nhiệm xã hội của tổ chức dự án (Kytle và Ruggie, 2005; Boateng và cộng sự, 2014). |
| Rủi ro kỹ thuật (RRK) |
Bất định về địa chất công trình, sai sót thiết kế, công nghệ phức tạp, điều chỉnh kỹ thuật thi công, gián đoạn chuỗi cung ứng vật tư thiết bị (Tatum, 1986; Klein và Cork, 1998; Harris, 2013). |
| Rủi ro kinh tế (RRKT) |
Biến động kinh tế vĩ mô, lạm phát, trượt giá nguyên vật liệu, biến động tỷ giá hối đoái, thay đổi lãi suất và rủi ro chậm giải ngân vốn (Hodge, 2004; Smith, 2014). |
| Rủi ro môi trường (RRMT) |
Tác động môi trường thi công (bụi, ồn, rung), biến đổi khí hậu, điều kiện thời tiết cực đoan (mưa bão, ngập lụt đô thị) làm đình trệ công trường (Flyvbjerg, 2002). |
| Rủi ro chính trị (RRCT) |
Thay đổi văn bản quy phạm pháp luật, thay đổi chính sách tài trợ, sự can thiệp hành chính, chậm trễ trong quy trình thẩm định, phê duyệt và cấp phép (NAO, 2005; Perminova và cộng sự, 2008). |
Cơ sở toán học của mô hình ANP (Saaty, 1996, 2005) được sử dụng để giải quyết cấu trúc phi tuyến có phản hồi (feedback) và phụ thuộc vòng (inner dependence, outer dependence) thay thế cho mô hình phân cấp AHP. Quy trình tính toán ANP gồm:
- So sánh cặp các tiêu chí và các biến rủi ro theo thang đo 1-9 của Saaty.
- Kiểm tra tính nhất quán thông qua Tỷ số nhất quán $CR = CI / RI$ (với $CR \le 0.10$ đạt chuẩn; $RI$ là chỉ số ngẫu nhiên theo Saaty).
- Thiết lập Siêu ma trận không trọng số (Unweighted Supermatrix).
- Thiết lập Siêu ma trận trọng số (Weighted Supermatrix) bằng cách chuẩn hóa các cột của siêu ma trận.
- Thiết lập Siêu ma trận giới hạn (Limit Supermatrix) bằng việc nâng lũy thừa siêu ma trận trọng số lên vô hạn ($W^\infty$) đến khi các giá trị hội tụ ổn định.
- Tính toán các chỉ số ưu tiên: TPV (Total Priority Value - Tổng giá trị ưu tiên), NPV (Normalised Priority Value - Giá trị ưu tiên chuẩn hóa) và IPV (Ideal Priority Value - Giá trị ưu tiên lý tưởng) để xếp hạng rủi ro.
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng qua 2 giai đoạn:
| Giai đoạn |
Bước thực hiện |
Mục tiêu và cách thức thực hiện |
Công cụ sử dụng |
| Giai đoạn định tính |
Bước 1 |
Thu thập tài liệu, nghiên cứu thực trạng dự án, thảo luận nhóm chuyên gia ĐSĐT TP.HCM và chuyên gia Tuyến số 1 Bến Thành – Suối Tiên để nhận dạng danh mục các biến rủi ro. |
Bảng tổng hợp tài liệu, biên bản thảo luận chuyên gia |
|
Bước 2 |
Thiết lập và hoàn thiện bảng câu hỏi khảo sát chuyên gia phục vụ thu thập dữ liệu định lượng. |
Bảng câu hỏi cấu trúc, phỏng vấn trực tiếp |
| Giai đoạn định lượng |
Bước 1 |
Thống kê mô tả dữ liệu khảo sát, xác định giá trị trung bình (Mean Value - MV) của các biến rủi ro đối với các mục tiêu dự án. |
Phần mềm SPSS |
|
Bước 2 |
So sánh cặp, thiết lập các siêu ma trận trong mô hình ANP, tính toán chỉ số ưu tiên TPV, NPV, IPV và xếp hạng thứ tự ưu tiên xử lý rủi ro theo đa mục tiêu. |
Mô hình ANP, phần mềm Super Decisions |
Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án bao gồm:
- Dữ liệu thứ cấp: Hồ sơ kỹ thuật, hồ sơ quản lý và báo cáo tiến độ Tuyến số 1 Bến Thành – Suối Tiên từ Ban Quản lý Đường sắt đô thị TP.HCM (MAUR); hệ thống văn bản pháp lý (Luật Đường sắt số 06/2017/QH14; các Quyết định quy hoạch 108/1998/QĐ-TTg, 123/1998/QĐ-TTg, 568/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ); báo cáo nghiên cứu của JICA, ADB, World Bank và Bộ GTVT.
- Dữ liệu sơ cấp: Ý kiến đóng góp từ các cuộc thảo luận chuyên gia và kết quả khảo sát thử nghiệm, khảo sát chính thức năm 2019 với các nhà khoa học, chuyên gia thuộc Trường Đại học Giao thông vận tải, Trường Đại học Giao thông vận tải TP.HCM, đại diện chủ đầu tư MAUR, các kỹ sư, nhà thầu và đơn vị tư vấn trực tiếp tham gia dự án Tuyến số 1.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1 - Tổng quan nghiên cứu về rủi ro dự án đầu tư xây dựng đường sắt đô thị
Chương 1 hệ thống hóa khái niệm ĐSĐT theo Luật Đường sắt số 06/2017/QH14 và các quy hoạch phát triển mạng lưới ĐSĐT tại Hà Nội (Quyết định 519/QĐ-TTg với 8 tuyến, tổng chiều dài 318 km) và TP.HCM (Quyết định 568/QĐ-TTg với 8 tuyến xuyên tâm và vành khuyên). Chương này phân tích 8 đặc điểm ảnh hưởng đến mức độ rủi ro của dự án ĐSĐT: tính phức tạp cao (Simon, 1962; Sheard và Mostashari, 2009); thời gian thực hiện kéo dài hàng thập kỷ (Flyvbjerg, 2002; Stough, 2005); nhu cầu nguồn lực tài chính công lớn; sự tham gia của nhiều bên liên quan có lợi ích mâu thuẫn (Winch, 2010); thách thức về công nghệ cao và liên tục biến đổi (Fraser, 2002); tính đơn chiếc, chuyên biệt (Miller và Lessard, 2001); tác động kinh tế - xã hội diện rộng; và thị trường thiếu nhà thầu, nhân lực trình độ cao. Từ việc điểm luận các nghiên cứu quốc tế và Việt Nam, chương 1 xác lập khoảng trống nghiên cứu và thiết lập khung nghiên cứu tổng thể của luận án.
Chương 2 - Cơ sở lý luận về rủi ro dự án đầu tư xây dựng đường sắt đô thị
Chương 2 phân tích các lý thuyết về rủi ro và quản lý rủi ro, đối chiếu các định nghĩa quốc tế (BSI, HM Treasury, AIRMIC, ISO 31000:2009) và Việt Nam. Tác giả luận giải 5 cách phân loại rủi ro và đi sâu vào bản chất của 5 nhóm rủi ro: xã hội, kỹ thuật, kinh tế, chính trị, môi trường. Chương này phân tích quy trình quản lý rủi ro theo ISO 31000:2009, các công cụ nhận dạng rủi ro, phương pháp ma trận xác suất - tác động (P-I) và ma trận P-I mở rộng. Đồng thời, chương 2 trình bày chi tiết cơ sở toán học của mô hình ANP, cấu trúc siêu ma trận (không trọng số, trọng số, giới hạn), thuật toán so sánh cặp, kiểm tra hệ số $CR$, và phương pháp xác định các chỉ số ưu tiên TPV, NPV, IPV.
Chương 3 - Thiết kế nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu 2 giai đoạn kết hợp định tính và định lượng. Phương pháp định tính được thực hiện thông qua nghiên cứu tài liệu và 2 vòng thảo luận chuyên gia: vòng 1 nhận dạng danh mục rủi ro ĐSĐT tại TP.HCM, vòng 2 hiệu chỉnh và xác lập danh mục rủi ro riêng cho Tuyến số 1 Bến Thành – Suối Tiên, làm cơ sở thiết kế bảng câu hỏi khảo sát. Phương pháp định lượng mô tả quy trình chọn mẫu, kiểm định bảng hỏi qua khảo sát thử nghiệm và khảo sát chính thức năm 2019; sử dụng phần mềm SPSS tính giá trị trung bình (MV) để đánh giá tầm quan trọng riêng lẻ của các biến rủi ro và mục tiêu dự án; sử dụng phần mềm Super Decisions để giải các siêu ma trận ANP, đánh giá mối quan hệ tương tác phụ thuộc đa chiều.
Chương 4 - Kết quả nghiên cứu rủi ro dự án đầu tư xây dựng đường sắt đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 4 phân tích thực trạng triển khai các tuyến ĐSĐT tại TP.HCM, đi sâu vào Tuyến số 1 Bến Thành – Suối Tiên do MAUR làm chủ đầu tư: cơ cấu nguồn vốn ODA (JICA) và vốn đối ứng trong nước, tình hình điều chỉnh tổng mức đầu tư và tiến độ thi công. Chương này trình bày kết quả nhận dạng rủi ro, kết quả khảo sát chuyên gia (đặc điểm mẫu, kinh nghiệm chuyên gia), và kết quả phân tích thống kê mô tả (Mean Value - MV) của các mục tiêu dự án và 5 nhóm rủi ro.
Kết quả giải mô hình ANP trên phần mềm Super Decisions được trình bày qua các ma trận so sánh cặp, ma trận không trọng số, ma trận trọng số và ma trận giới hạn, xác định rõ mức độ ưu tiên của các tiêu chí mục tiêu (chi phí, thời gian, chất lượng), mức độ ưu tiên của 5 nhóm rủi ro và từng biến rủi ro thành phần. Trên cơ sở kết quả tính toán các chỉ số TPV, NPV, IPV, tác giả thảo luận chi tiết tác động của từng nhóm rủi ro và đề xuất hệ thống các giải pháp giảm thiểu rủi ro cho các dự án ĐSĐT tại TP.HCM.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận và khoa học, luận án có những đóng góp mới:
- Hệ thống hóa và làm giàu cơ sở lý thuyết về nhận dạng và đánh giá rủi ro dự án đầu tư xây dựng ĐSĐT trong bối cảnh các nước đang phát triển và thực tiễn Việt Nam.
- Khắc phục hạn chế của các nghiên cứu trước đây (vốn chỉ đánh giá tác động của rủi ro lên từng mục tiêu riêng lẻ như chi phí hoặc thời gian), luận án thiết lập khung tiếp cận đánh giá mức độ ưu tiên tổng hợp của rủi ro đến đa mục tiêu đồng thời gồm chi phí, thời gian và chất lượng.
- Khắc phục giả định truyền thống xem các yếu tố rủi ro và mục tiêu là độc lập tuyến tính, luận án ứng dụng mô hình mạng phân tích ANP (Analytic Network Process) vào việc mô hình hóa các mối quan hệ tương tác đa chiều, phản hồi nội bộ và phụ thuộc lẫn nhau trong hệ thống rủi ro dự án ĐSĐT.
Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các kết quả:
- Nhận dạng toàn diện danh mục các rủi ro phát sinh trong giai đoạn thực hiện dự án ĐSĐT tại TP.HCM và phân loại cụ thể theo 5 nhóm: xã hội, kỹ thuật, kinh tế, môi trường và chính trị.
- Xác lập bảng xếp hạng thứ tự ưu tiên xử lý của các nhóm rủi ro và các biến rủi ro thành phần tại dự án Tuyến số 1 Bến Thành – Suối Tiên thông qua các chỉ số định lượng TPV, NPV và IPV.
- Cung cấp công cụ định lượng hỗ trợ các nhà quản lý dự án, chủ đầu tư (MAUR) và các cơ quan quản lý xác định chính xác các rủi ro trọng yếu để tối ưu hóa nguồn lực kiểm soát, giảm thiểu tình trạng vượt chi phí và kéo dài tiến độ.
- Đề xuất các nhóm giải pháp giảm thiểu rủi ro dựa trên kết quả định lượng, tập trung vào: hoàn thiện công tác giải phóng mặt bằng, nâng cao năng lực quản trị dự án của chủ đầu tư, tối ưu hóa công tác thiết kế - thi công, quản lý chuỗi cung ứng vật tư thiết bị và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các sở ban ngành.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Theo phạm vi và nội dung tác giả trình bày, luận án có các hạn chế:
- Phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào giai đoạn thực hiện (thi công xây dựng) của dự án ĐSĐT, chưa mở rộng đánh giá rủi ro xuyên suốt các giai đoạn chuẩn bị đầu tư ban đầu hoặc giai đoạn vận hành khai thác thương mại lâu dài.
- Luận án chỉ giới hạn xem xét các tác động tiêu cực của rủi ro đối với dự án; khía cạnh tích cực của rủi ro (cơ hội) chưa được tích hợp đồng thời vào mô hình ANP do độ phức tạp tính toán.
- Dữ liệu nghiên cứu định lượng tập trung vào trường hợp nghiên cứu điển hình là Tuyến số 1 Bến Thành – Suối Tiên trong giai đoạn 2016 – 2019, phản ánh các đặc trưng thể chế, kinh tế và địa chất cụ thể của TP.HCM tại thời điểm khảo sát.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ luận án:
- Mở rộng phạm vi đánh giá rủi ro cho toàn bộ vòng đời dự án ĐSĐT, đặc biệt là giai đoạn chuyển giao và vận hành khai thác.
- Áp dụng mô hình ANP để đánh giá và so sánh rủi ro tại các tuyến ĐSĐT khác đang và sẽ triển khai tại TP.HCM (như Tuyến số 2, Tuyến số 5) cũng như các tuyến ĐSĐT tại Hà Nội.
- Nghiên cứu tích hợp việc đánh giá đồng thời cả tác động tiêu cực (rủi ro) và tác động tích cực (cơ hội) trong cùng một khung mô hình toán học.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên thuộc các chuyên ngành Quản lý xây dựng, Kinh tế xây dựng, Quản lý dự án, Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông: tham khảo khung lý thuyết quản lý rủi ro dự án hạ tầng phức tạp, phương pháp thiết kế nghiên cứu kết hợp định tính - định lượng và quy trình ứng dụng mô hình ANP cùng phần mềm Super Decisions.
- Các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng, UBND TP.HCM, Sở GTVT TP.HCM): tham khảo cơ sở khoa học để hoạch định chính sách, hoàn thiện khung pháp lý về quản lý dự án ODA, giải phóng mặt bằng và quy chuẩn kỹ thuật cho hệ thống đường sắt đô thị.
- Chủ đầu tư (Ban Quản lý Đường sắt đô thị TP.HCM - MAUR, Ban Quản lý Đường sắt đô thị Hà Nội - MRB), các ban quản lý dự án, các đơn vị tư vấn quản lý, tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát và các nhà thầu thi công: tham khảo danh mục rủi ro 5 nhóm và bảng xếp hạng thứ tự ưu tiên xử lý rủi ro để xây dựng kế hoạch ứng phó rủi ro hiệu quả cho các dự án ĐSĐT thực tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Trường hợp nghiên cứu điển hình được luận án lựa chọn tại Thành phố Hồ Chí Minh là dự án nào?
Luận án lựa chọn Tuyến ĐSĐT số 1 TP.HCM (Tuyến Bến Thành – Suối Tiên) làm trường hợp nghiên cứu điển hình. Đây là tuyến đường sắt đô thị đầu tiên được triển khai xây dựng tại TP.HCM, do Ban Quản lý Đường sắt đô thị TP.HCM (MAUR) làm chủ đầu tư, sử dụng nguồn vốn vay ODA Nhật Bản (JICA) kết hợp vốn đối ứng trong nước.
2. Các rủi ro trong dự án đầu tư xây dựng ĐSĐT được luận án phân chia thành những nhóm nào?
Luận án phân chia toàn bộ các rủi ro của dự án thành 5 nhóm chính: (1) Rủi ro xã hội (RRXH); (2) Rủi ro kỹ thuật (RRK); (3) Rủi ro kinh tế (RRKT); (4) Rủi ro môi trường (RRMT); và (5) Rủi ro chính trị (RRCT).
3. Vì sao phương pháp phân tích mạng ANP được lựa chọn thay thế cho các phương pháp đánh giá rủi ro truyền thống?
Các phương pháp truyền thống (như PERT, CPM, Monte Carlo, giá trị kỳ vọng EV) giả định dự án là hệ thống đóng, các biến rủi ro độc lập và có mối quan hệ tuyến tính một chiều. Trong khi đó, dự án ĐSĐT có tính phức tạp cao với các mối quan hệ tương tác đa chiều, phản hồi và phi tuyến giữa các yếu tố. Mô hình ANP (Analytic Network Process) có cấu trúc mạng cho phép mô hình hóa sự phụ thuộc nội bộ (inner dependence) và phụ thuộc lẫn nhau (outer dependence) giữa các cụm rủi ro và các mục tiêu dự án.
4. Luận án đánh giá mức độ ưu tiên của rủi ro tác động đến những mục tiêu cụ thể nào của dự án?
Thay vì chỉ xem xét đơn lẻ một mục tiêu, luận án đánh giá mức độ ưu tiên tổng hợp của rủi ro tác động đồng thời lên cả 3 mục tiêu cốt lõi của dự án xây dựng: Chi phí (Cost), Thời gian (Time/Schedule) và Chất lượng (Quality).
5. Những công cụ phần mềm nào được tác giả sử dụng trong quá trình phân tích định lượng?
Tác giả sử dụng 2 công cụ phần mềm chính:
- Phần mềm SPSS: dùng cho phân tích thống kê mô tả dữ liệu khảo sát, tính toán giá trị trung bình (Mean Value - MV) của các biến rủi ro và mục tiêu.
- Phần mềm Super Decisions: dùng để thiết lập mô hình mạng ANP, nhập ma trận so sánh cặp, kiểm tra tỷ số nhất quán $CR$, và giải các siêu ma trận (không trọng số, trọng số, giới hạn) nhằm xuất ra các chỉ số ưu tiên rủi ro (TPV, NPV, IPV).
Kết luận
Luận án của Huỳnh Thị Yến Thảo đã nghiên cứu một cách có hệ thống về rủi ro dự án đầu tư xây dựng đường sắt đô thị tại TP.HCM, lấy Tuyến số 1 Bến Thành – Suối Tiên làm trường hợp điển hình. Bằng việc kết hợp phương pháp định tính và định lượng với mô hình mạng phân tích ANP, công trình đã giải quyết được hạn chế của các cách tiếp cận truyền thống, nhận dạng toàn diện 5 nhóm rủi ro và định lượng mức độ ưu tiên tổng hợp của từng biến rủi ro đối với đa mục tiêu chi phí, thời gian và chất lượng. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và công cụ thực tiễn giúp các nhà quản lý dự án ĐSĐT nhận diện rủi ro trọng yếu và phân bổ nguồn lực xử lý hiệu quả. Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho công tác nghiên cứu, đào tạo và quản lý thực tiễn trong lĩnh vực quản lý xây dựng hạ tầng giao thông đô thị tại Việt Nam.