Luận án tiến sĩ nghiên cứu khả năng loại màu thuốc nhuộm hoạt tính và phân hủy chất diệt cỏ dioxin của vi sinh vật sinh enzyme laccase

Nghiên cứu ứng dụng enzyme laccase từ vi sinh vật trong xử lý màu thuốc nhuộm và phân hủy dioxin, hướng đến giải pháp bền vững cho môi trường.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sỹ

2018

146
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

Lời cảm ơn

MỤC LỤC

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ và đồ thị

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Laccase, laccase-like và vi sinh vật sinh tổng hợp laccase, laccase-like

1.1.1. Giới thiệu chung về laccase

1.1.2. Cấu trúc phân tử của laccase

1.1.3. Cơ chế xúc tác của laccase

1.1.4. Một số đặc tính sinh hóa của laccase

1.1.5. Vi sinh vật sinh tổng hợp laccase

1.1.6. Khả năng của laccase trong phân hủy các hợp chất hữu cơ

1.1.7. Khả năng của laccase trong phân hủy các hợp chất hữu cơ có clo

1.1.8. Giới thiệu về laccase-like

1.2. Đặc điểm ô nhiễm nước thải dệt nhuộm và công nghệ xử lý

1.2.1. Đặc điểm chung của thuốc nhuộm và nước thải dệt nhuộm

1.2.2. Đặc điểm chung của thuốc nhuộm

1.2.3. Đặc điểm chủng của nước thải dệt nhuộm

1.2.4. Các phương pháp xử lý màu thuốc nhuộm

1.2.4.1. Phương pháp hóa lý
1.2.4.2. Phương pháp oxy hóa nâng cao
1.2.4.3. Phương pháp sinh học

1.3. Hiện trạng ô nhiễm chất diệt cỏ/dioxin ở Việt Nam và các công nghệ xử lý

1.3.1. Hiện trạng ô nhiễm

1.3.2. Công nghệ xử lý dioxin và các hợp chất hữu cơ đa vòng thơm

1.3.3. Phương pháp phân hủy sinh học xử lý dioxin và các hợp chất hữu cơ

1.3.4. Phân hủy 2,4-D, 2,4,5-T, dioxin và các hợp chất tương tự bởi laccase

1.3.5. Phân hủy 2,4-D, 2,4,5-T, dioxin và các hợp chất tương tự bởi nấm sinh tổng hợp enzym ngoại bào

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Vật liệu để phân lập vi sinh vật và các chủng nấm kế thừa

2.3. Đối tượng nghiên cứu xử lý

2.4. Môi trường sử dụng trong nghiên cứu

2.5. Thiết bị chính sử dụng trong nghiên cứu

2.6. Phương pháp nghiên cứu

2.7. Phân lập, nuôi cấy vi sinh vật

2.7.1. Phân lập chủng nấm

2.7.2. Phân lập xạ khuẩn

2.7.3. Lựa chọn môi trường nuôi cấy để chủng nấm sinh tổng hợp laccase cao

2.7.4. Nuôi cấy xạ khuẩn sinh tổng hợp laccase-like trên các nguồn chất hữu cơ vòng thơm khác nhau

2.8. Phân loại vi sinh vật

2.8.1. Phân loại VSV theo hình thái khuẩn lạc

2.8.2. Phân loại VSV theo phương pháp sinh học phân tử

2.9. Phương pháp hóa - sinh

2.10. Xác định hoạt tính laccase, laccase-like sử dụng ABTS

2.11. Tinh sạch, nhận diện protein của laccase, laccase-like

2.12. Xác định đặc tính protein của laccase, laccase-like tinh sạch

2.13. Xác định khả năng loại màu thuốc nhuộm

2.13.1. Xác định khả năng loại màu thuốc nhuộm bởi laccase, laccase-like

2.13.2. Xác định khả năng loại màu thuốc nhuộm bởi chủng nấm

2.14. Xác định khả năng phân hủy chất diệt cỏ/dioxin

2.14.1. Thực nghiệm phân hủy chất diệt cỏ/dioxin bằng laccase thô

2.14.2. Thực nghiệm phân hủy chất diệt cỏ/dioxin bằng chủng nấm sinh tổng hợp laccase

2.15. Phương pháp phân tích để xác định khả năng phân hủy chất diệt cỏ/dioxin

2.16. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN

3.1. Phân lập, tuyển chọn và định tên chủng nấm và xạ khuẩn có khả năng sinh tổng hợp laccase, laccase-like

3.2. Phân lập và lựa chọn để phân loại nấm đảm có hoạt tính laccase cao

3.3. Phân lập và phân loại xạ khuẩn có khả năng sinh trưởng trên môi trường chứa chất diệt cỏ/dioxin và sinh tổng hợp laccase-like

3.3.1. Phân lập xạ khuẩn

3.3.2. Phân loại chủng xạ khuẩn XKBHN1 và XKBiR929

3.4. Môi trường để chủng nấm, chủng xạ khuẩn sinh tổng hợp laccase, laccase-like

3.4.1. Môi trường thích hợp để chủng nấm FBV40 sinh tổng hợp laccase

3.4.2. Khả năng sinh tổng hợp laccase-like của XKBHN1 và XKBiR929 trên môi trường chứa các chất hữu cơ clo khác nhau

3.5. Đặc điểm hóa-lý của laccase, laccase-like tinh sạch

3.6. Tinh sạch laccase của nấm đảm Rigidoporus sp. Tinh sạch laccase-like của xạ khuẩn Streptomycese sp. Đặc tính hóa-lý của laccase và laccase-like tinh sạch

3.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến laccase tinh sạch

3.8. Đặc điểm động học của laccase tinh sạch

3.9. Đặc tính hóa-lý của laccase thô

3.10. Đặc tính hóa - lý của laccase-like tinh sạch

3.11. Loại màu thuốc nhuộm và phân hủy chất diệt cỏ chứa dioxin

3.11.1. Loại màu thuốc nhuộm bởi laccase, laccase-like

3.11.2. Loại màu thuốc nhuộm tổng hợp bởi laccase thô của chủng nấm FBV40

3.11.3. Loại màu hoạt tính sử dụng trong quân đội bởi laccase thô

3.11.4. Loại màu thuốc nhuộm hoạt tính MN.FBN bởi Lac1 tinh sạch

3.11.5. Loại màu thuốc nhuộm hoạt tính MN.FBN bởi laccase-like tinh sạch của chủng xạ khuẩn XKBiR929

3.11.6. Loại màu thuốc nhuộm hoạt tính bởi Rigidoporus sp. Khả năng loại màu một số thuốc nhuộm hoạt tính sử dụng để nhuộm vải may quân trang

3.11.7. Loại màu thuốc nhuộm MN.FBN ở các nồng độ khác nhau

3.11.8. Loại màu thuốc nhuộm MN.FBN khi có mặt D-glucose

3.11.9. Loại màu thuốc nhuộm MN.FBN khi có mặt các loại đường khác nhau

3.11.10. Loại màu thuốc nhuộm MN.FBN khi có mặt các nguồn nitơ khác nhau

3.12. Phân hủy chất diệt cỏ/dioxin bởi laccase và nấm sinh tổng hợp laccase

3.12.1. Phân huỷ chất diệt cỏ/dioxin bởi laccase thô

3.12.2. Phân huỷ chất diệt cỏ/dioxin bởi nấm sinh tổng hợp laccase

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về enzyme laccase và ứng dụng

Enzyme laccase là một loại enzyme thuộc nhóm oxidoreductase, có khả năng oxy hóa nhiều hợp chất hữu cơ vòng thơm chỉ với sự hiện diện của oxy tự do. Vi sinh vật sinh tổng hợp laccase đã được nghiên cứu rộng rãi nhờ khả năng phân hủy các chất ô nhiễm hữu cơ. Nghiên cứu enzyme này tập trung vào việc tìm kiếm các chủng vi sinh vật có khả năng sinh tổng hợp laccase để ứng dụng trong xử lý ô nhiễm môi trường, đặc biệt là loại màu thuốc nhuộmphân hủy dioxin. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng laccase có thể phân hủy các hợp chất hữu cơ khó phân hủy như dioxin và thuốc nhuộm, mang lại hiệu quả cao trong công nghệ sinh học.

1.1. Cấu trúc và cơ chế hoạt động của laccase

Enzyme laccase có cấu trúc phân tử gồm bốn nguyên tử đồng, tạo thành trung tâm hoạt động. Cơ chế xúc tác của laccase dựa trên quá trình oxy hóa các hợp chất hữu cơ, tạo ra các gốc tự do và cuối cùng là phân hủy chúng thành các sản phẩm ít độc hại hơn. Vi sinh vật sinh tổng hợp laccase thường là nấm và xạ khuẩn, có khả năng thích nghi cao với môi trường ô nhiễm. Các nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng laccase có thể phân hủy các hợp chất hữu cơ đa vòng thơm, bao gồm cả dioxin và thuốc nhuộm, thông qua quá trình oxy hóa.

1.2. Ứng dụng của laccase trong xử lý ô nhiễm

Ứng dụng enzyme laccase trong xử lý ô nhiễm môi trường đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu. Laccase có khả năng loại màu thuốc nhuộm trong nước thải dệt nhuộm, giảm thiểu tác động của các chất độc hại đến môi trường. Ngoài ra, laccase còn được sử dụng để phân hủy dioxin, một chất độc hại khó phân hủy trong đất và nước. Các nghiên cứu tại Việt Nam đã chỉ ra rằng laccase từ vi sinh vật có thể phân hủy hiệu quả các chất diệt cỏ chứa dioxin, mang lại tiềm năng lớn trong công nghệ sinh học và bảo vệ môi trường.

II. Phương pháp nghiên cứu và kết quả

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân lập và tuyển chọn các chủng vi sinh vật có khả năng sinh tổng hợp enzyme laccase. Các phương pháp nghiên cứu bao gồm phân lập vi sinh vật từ môi trường ô nhiễm, nuôi cấy và đánh giá hoạt tính laccase. Kết quả nghiên cứu đã xác định được các chủng nấm và xạ khuẩn có khả năng sinh tổng hợp laccase cao, đặc biệt là chủng nấm FBV40 và xạ khuẩn XKBiR929. Các chủng này đã được sử dụng để loại màu thuốc nhuộmphân hủy dioxin trong các thí nghiệm thực tế.

2.1. Phân lập và tuyển chọn vi sinh vật

Quá trình phân lập vi sinh vật được thực hiện từ các mẫu đất và nước ô nhiễm. Các chủng nấm và xạ khuẩn được nuôi cấy trong môi trường chứa các chất hữu cơ vòng thơm để kích thích sinh tổng hợp enzyme laccase. Kết quả đã xác định được chủng nấm FBV40 và xạ khuẩn XKBiR929 có hoạt tính laccase cao nhất. Các chủng này đã được sử dụng trong các thí nghiệm tiếp theo để đánh giá khả năng loại màu thuốc nhuộmphân hủy dioxin.

2.2. Đánh giá khả năng loại màu và phân hủy

Các thí nghiệm loại màu thuốc nhuộm được thực hiện với các loại thuốc nhuộm hoạt tính như NY1, NY5 và NY7. Kết quả cho thấy laccase từ chủng FBV40 có khả năng loại màu hiệu quả, đạt hiệu suất trên 80% sau 24 giờ. Đối với phân hủy dioxin, laccase từ chủng FBV40 cũng cho thấy khả năng phân hủy 2,4,5-T và 2,3,7,8-TCDD với hiệu suất cao. Các kết quả này khẳng định tiềm năng ứng dụng của enzyme laccase trong xử lý ô nhiễm môi trường.

III. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu đã chứng minh rằng enzyme laccase từ vi sinh vật có tiềm năng lớn trong loại màu thuốc nhuộmphân hủy dioxin. Các chủng nấm FBV40 và xạ khuẩn XKBiR929 đã được xác định là có hoạt tính laccase cao, có thể ứng dụng trong công nghệ sinh học để xử lý các chất ô nhiễm hữu cơ. Các kết quả nghiên cứu này mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các giải pháp bền vững để xử lý ô nhiễm môi trường, đặc biệt là trong bối cảnh ô nhiễm chất diệt cỏ/dioxin và nước thải dệt nhuộm đang gia tăng tại Việt Nam.

3.1. Giá trị thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này có giá trị thực tiễn cao trong việc ứng dụng enzyme laccase để xử lý chất độc hại như dioxin và thuốc nhuộm. Các kết quả nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của laccase trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đặc biệt là trong các khu vực bị ảnh hưởng bởi chất diệt cỏ/dioxin. Việc phát triển các công nghệ dựa trên enzyme laccase có thể góp phần bảo vệ sức khỏe con người và hệ sinh thái, đồng thời thúc đẩy công nghệ sinh học tại Việt Nam.

3.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu để tối ưu hóa quá trình sản xuất và ứng dụng enzyme laccase từ vi sinh vật. Các nghiên cứu nên tập trung vào việc cải thiện hiệu suất phân hủy các chất ô nhiễm, đồng thời mở rộng ứng dụng laccase trong các lĩnh vực khác như y học và công nghiệp. Ngoài ra, cần phát triển các công nghệ tích hợp để xử lý đồng thời nhiều loại chất ô nhiễm, nhằm đạt hiệu quả cao hơn trong xử lý ô nhiễm môi trường.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Laccase, laccase-like và vi sinh vật sinh tổng hợp laccase, laccase-like 1. Giới thiệu chung về laccase Laccase ngày càng được quan tâm nhiều hơn trong những năm gần đây do tiềm năng của chúng trong việc phân hủy, khử độc các chất ô nhiễm là các hợp chất của phenol và các chất đa vòng thơm [142]. Laccase thuộc nhóm oxidoreductase là một trong số ít các enzyme đã được nghiên cứu từ thế kỷ thứ 19.

Năm 1883, Yoshida là người đầu tiên mô tả laccase từ dịch chiết thân cây Rhus vernicifera ở Nhật Bản [52]. Laccase có hiệu quả oxy hóa với phổ cơ chất rộng và do chỉ sử dụng oxy là tác nhân nhận điện tử cuối cùng nên nó được áp dụng trong nhiều ngành công nghiệp với những mục đích khác nhau như dệt nhuộm, chế biến thức ăn, nhiên liệu sinh học, tổng hợp hữu cơ, xử lý môi trường, giấy và nước thải, dược phẩm và công nghiệp mỹ phẩm. Thực tế, đã có một số sản phẩm laccase thương mại để ứng dụng trong các lĩnh vực chế biến thức ăn, giấy, dệt nhuộm và các ngành công nghiệp khác [89, 155]. Cấu trúc phân tử của laccase Một loài sinh vật có thể sinh tổng hợp có nhiều loại laccase khác nhau (các isozyme) và các isozyme thường khác nhau về trình tự axit amin và tính chất động học xúc tác.

Isozyme laccase khác nhau ở mức độ glycosyl hóa và thành phần các gốc carbonhydrat. Loài nấm đảm Trametes versicolor có 5 loại isozyme chỉ khác nhau về thành phần carbonhydrate, thành phần carbonhydrat của chúng thay đổi từ 10-45% so với khối lượng của protein. Phân tử laccase có khối lượng phân tử dao động trong khoảng 60-100 kDa. Phần lớn laccase của nấm có bản chất là glycoprotein với hàm lượng carbonhydrate chiếm khoảng 10-25% [72].

Tuy vậy, tất cả laccase đều giống nhau về cấu trúc trung tâm xúc tác với 4 nguyên tử đồng. Những nguyên tử đồng này được chia thành ba nhóm: loại 1 (T1), loại 2 (T2) và loại 3 (T3), chúng khác nhau về tính chất hấp thụ ánh sáng và thế điện tử. Các nguyên tử đồng T1 và T2 có tính chất hấp thụ điện tử và tạo thành phổ điện tử mạnh, trong khi cặp nguyên tử đồng T3 không tạo phổ điện tử hấp thụ điện tử và có thể được hoạt hóa khi liên kết với anion mạnh. Hình ảnh cấu trúc 3 chiều của laccase (A) của chủng Bacillus subtilis 168.

Ion màu xanh là 4 nguyên tử đồng. (B) số lượng nghiên cứu công bố về các loại enzyme trong giai đoạn 1940 - 2013 [9] Cấu trúc 3 chiều của laccase bao gồm 3 tiểu phần (vùng A: màu đỏ, vùng B: màu vàng và vùng C: màu xanh lá cây) có khối lượng tương đối bằng nhau, cả ba phần đều đóng vai trò trong quá trình xúc tác. Vị trí liên kết với cơ chất nằm ở khe giữa vùng B và vùng C, trung tâm một nguyên tử đồng nằm ở vùng C và trung tâm ba nguyên tử đồng nằm ở bề mặt chung của vùng A và vùng C [147]. Trung tâm đồng một chỉ chứa một nguyên tử đồng T1, liên kết với một đoạn peptit có hai gốc histidin và một gốc cystein.

Liên kết giữa nguyên tử đồng T1 với nguyên tử S của cystein là liên kết đồng hóa trị bền và hấp thụ ánh sáng ở bước sóng 600 nm, tạo cho laccase có màu xanh nước biển đặc trưng. Trung tâm đồng ba nguyên tử có nguyên tử đồng T2 và cặp nguyên tử đồng T3. Nguyên tử đồng T2 liên kết với hai gốc histidin bảo thủ trong khi các nguyên tử đồng T3 thì tạo liên kết với 6 gốc histidin bảo thủ (Hình 1. Cơ chế xúc tác của laccase Cơ chất khi bị oxy hóa bởi laccase sẽ nhường một electron cho nguyên tử đồng T1, biến nguyên tử đồng T1 trở thành dạng Cu+, hình thành phân tử laccase có cả 4 nguyên tử đồng đều ở trạng thái khử (Cu+).

Phân tử oxy sau đó oxy hóa laccase dạng khử, thông qua hợp chất trung gian peroxy và peroxy bị khử thành nước. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, sự oxy hóa hợp chất peroxy trung gian hình thành laccase ở trạng thái bị oxy hoạt hóa, trong đó cả 4 nguyên tử đồng đều ở trạng thái oxy hóa. Sau đó, enzyme nhanh chóng tham gia vào chu trình xúc tác mới [99]. Ngoài ra, cơ chế xúc tác có thể diễn ra theo cách khác đó là khi các cơ chất bị oxy hóa trực tiếp bởi trung tâm hoạt động do 4 nguyên tử đồng đảm nhiệm.

Các phân 6 tử cơ chất thường có cấu tạo cồng kềnh hoặc có thế oxi hóa khử quá lớn, vì vậy chúng không thể tiếp cận được trung tâm xúc tác của laccase. Trong trường hợp này cần một chất gắn kết (mediator) hoặc hệ chất gắn kết để tiếp xúc với trung tâm phản ứng của laccase để bị laccase oxy hóa, sau đó mediator ở dạng oxy hóa nhận một điện tử của cơ chất và trở thành khử, tiếp tục tham gia vào chu kỳ xúc tác [117]. Ngược lại, laccase sau khi cho mediator một điện tử thì trở thành dạng khử, sau đó bị oxy hóa thành dạng oxy hóa và tiếp tục tham gia vào chu trình xúc tác tiếp theo. Các mediator thường phù hợp cho laccase là 3-hydroxyanthranillic acid (HAA), 2,2’- azino-bis (3-ethylbenzthiazoline-6-sulphonic axit) (ABTS), N-hydroxybenzo- trialzone (HOBT), N-hydroxyphtaimide (HPI), violuric acid (ViO) v.

Sự có mặt của mediator đã góp phần làm tăng phổ cơ chất xúc tác và tính không đặc hiệu cơ chất của laccase. Một số đặc tính sinh hóa của laccase Đến nay, đã có khoảng 100 loại laccase khác nhau đã được tinh sạch và xác định đặc điểm sinh hóa với các cơ chất là ABTS, 2,6-DMP và SGZ. Gene laccase đặc biệt mã hoá cho một protein khoảng 500 - 600 amino acid và trọng lượng phân tử trong khoảng 60 đến 90 kDa khi được xác định bằng SDS-PAGE [156]. Đến tháng 9 năm 2017, có khoảng 112.000 kết quả tra cứu các tiêu đề bài báo khoa học có từ khóa laccase (https://scholar.

Đã có một vài hệ gene của các chủng nấm có chứa hơn một gene laccase [36]. Mức độ biểu hiện của các gene điển hình khác nhau phụ thuộc vào điều kiện nuôi cấy [145]. Với hàm lượng nitơ cao trong môi trường đã giảm sự dịch mã của gene laccase trong chủng Basidiomycete sp. Có nhiều bước được sử dụng trong quá trình tinh sạch protein laccase như siêu lọc (lọc thẩm thấu màng), kết tủa với amoni sulfat hoặc với dung môi hữu cơ và trao đổi ion cũng như sắc ký khối lượng.

Laccase đại diện của nấm là các protein có khối lượng trong khoảng 50 đến 90 kDa, điểm đẳng điện xung quanh giá trị 4. Một số loài nấm sinh tổng hợp laccase đã được nghiên cứu bao gồm Coprinus plicatilis, Fomes fomentarius, Heterobasidion annosum, Hypholoma fasciculare, Kuehneromyces mutabilis, Leptoporus litschaueri, Panus stipticus, Phellinus igniarius, Pleurotus corticatus, P. ostreatus, Polyporus brumalis, Stereum hirsutum, Trametes gibbosa, T. versicolor có hơn một isozyme và điểm đẳng điện (pI) trong khoảng từ 3 đến 5 [4].

7 Khả năng xúc tác của enzyme đã được mô tả thông qua định lượng bằng hằng số Michaelics Km và hằng số hiệu quả xúc tác Kcat. Những hằng số này đã được công bố với một lượng lớn laccase và có sự khác biệt trong số chúng. Hằng số Km của laccase nhìn chung dao động xung quanh giá trị 2,5 𝜇M phụ thuộc vào nguồn gốc enzyme và cơ chất. Giá trị Km của laccase được xác định với cơ chất là 2,6- dimethoxyphenol nhìn chung là cao hơn khi xác định với syringadazine (sự trùng hợp của hai phân tử là 2,6-dimethoxyphenol được liên kết với nhau bằng cầu azide) [117].

Nghiên cứu ảnh hưởng của pH và các điều kiện nhiệt độ lên hoạt tính laccase đã được thực hiện. Theo đó, sự biến động hoạt tính của laccase theo pH thường có hình chuông và khoảng tối ưu xung quanh giá trị 4,6 khi sử dụng cơ chất có nguồn gốc phenol [139]. Hoạt tính laccase giảm trong điều kiện pH trung tính hoặc kiềm là do tăng anion - OH, anion này có kích thước nhỏ nên là tác nhân gây ức chế hoạt tính của laccase. Khi pH tăng thế khử của cơ chất có bản chất phenol giảm dẫn đến cơ chất này nhạy cảm hơn với quá trình oxy hoá bởi laccase [47, 48].

Sự ổn định hoạt tính laccase đối với pH nhìn chung trong khoảng từ 8-9 [175] và sự ổn định hoạt tính của laccase theo nhiệt độ thay đổi phụ thuộc lớn vào nguồn gốc vi sinh vật, nhìn chung nằm trong khoảng từ 30 đến 50oC và hoạt tính giảm nhanh chóng ở nhiệt độ trên 60oC [114, 94]. Vi sinh vật sinh tổng hợp laccase Laccase từ thực vật được tìm thấy trong xylem nơi chúng có thể oxy hóa các monoligno ở trạng thái ban đầu của quá trình lignin hóa và cũng tham gia trong các cơ chế gốc cơ bản của sự hình thành lignin cao phân tử [79]. Thêm vào đó laccase đã được nghiên cứu về khả năng tham gia vào bước đầu tiên của quá trình hàn gắn vết thương trên lá [133]. Hiện tại, nghiên cứu về laccase thực vật bậc cao còn rất hạn chế so với laccase từ các chủng nấm [113, 147].

Thực tế, một số nghiên cứu về hoạt tính laccase ở vi khuẩn không giống laccase ở các nhóm nhân sơ [24]. Protein laccase của vi khuẩn là protein nội bào hoặc ở khoang chu chất [4]. Chủng Bacillus subtilis đã sinh ra loại laccase CotA ổn định nhiệt tham gia vào sự hình thành màu ở màng nội bào [88]. Laccase cũng đã được tìm thấy từ loài Streptomyces cyaneus [3] và S.

Laccase đã được nghiên cứu khá chi tiết ở nhiều chủng nấm thuộc nấm sợi (Ascomycetes) và nấm đảm (Basidiomycetes) và chúng đã được tinh sạch từ nhiều 8 chủng khác nhau. Có nhiều nghiên cứu về sản phẩm laccase tinh sạch của các loài nấm Ascomycetes như loài Melanocarpus albomyces [69], Cerrena unicolor [70], Magnaporthe grisea [19], Trametes versicolor, Trichoderma reesei [81] và Xylaria polymorpha [102]. Nấm men là nhóm riêng biệt có thể thuộc cả Ascomycetes và Basidiomycetes. Hiện nay, laccase được tinh sạch từ chủng Cryptococcus (Filobasidiella) neoformans gây bệnh cho người, chủng nấm men này sinh ra laccase thật có khả năng oxy hóa phenol và aminophenol và cũng có thể oxy hóa tyrosine [34].

Ngoài ra, laccase còn có thể tìm thấy trong một số côn trùng nơi mà chúng được cho là thể kích hoạt quá trình hình thành biểu bì [35]. Ngày này, các nhà khoa học vẫn đang nỗ lực nghiên cứu sàng lọc từ tự nhiên các chủng nấm sinh tổng hợp laccase với mong muốn tìm được chủng có hoạt tính cao và có đặc tính mới. Hoạt tính laccase thay đổi phụ thuộc vào các loài, các chủng vi sinh vật, vì ở điều kiện tự nhiên hoạt tính laccase rất thấp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu khả năng loại màu thuốc nhuộm và phân hủy dioxin bằng enzyme laccase từ vi sinh vật là một tài liệu khoa học quan trọng, tập trung vào việc ứng dụng enzyme laccase từ vi sinh vật để xử lý các vấn đề môi trường như loại bỏ màu thuốc nhuộm và phân hủy dioxin. Enzyme laccase được chứng minh có hiệu quả cao trong việc phân hủy các hợp chất hữu cơ độc hại, mang lại tiềm năng lớn trong công nghệ xử lý nước thải và bảo vệ môi trường. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cơ sở lý thuyết mà còn đưa ra các kết quả thực nghiệm cụ thể, giúp các nhà khoa học và kỹ sư môi trường có thêm công cụ để giải quyết các thách thức về ô nhiễm.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp phân tích và đánh giá chất lượng môi trường, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế Dung Quất, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Ngoài ra, nghiên cứu về ô nhiễm hợp chất hữu cơ được đề cập trong Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng (PAHs) trong trà cà phê tại Việt Nam cũng là một tài liệu hữu ích. Để hiểu sâu hơn về các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng công nghệ, bạn có thể xem thêm Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá thêm những góc nhìn chuyên sâu và bổ ích.