Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng loạn động muộn trên bệnh nhân tâm thần phân liệt sử dụng an thần kinh cổ điển và nhận xét hiệu quả điều trị bằng clozapin và vitamin e

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu đặc điểm lâm sàng loạn động muộn trên bệnh nhân tâm thần phân liệt sử dụng an thần kinh, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Tâm thần và Tâm lý y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án
196
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC HÌNH

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tâm thần phân liệt và loạn động muộn

1.2. Khái niệm về bệnh tâm thần phân liệt

1.3. Khái niệm về loạn động muộn

1.4. Lược sử về loạn động muộn do thuốc an thần kinh

1.5. Loạn động muộn do sử dụng thuốc an thần kinh cổ điển kéo dài trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

1.6. Các nghiên cứu lâm sàng bệnh tâm thần phân liệt

1.7. Loạn động muộn trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

1.8. Tiêu chuẩn chẩn đoán loạn động muộn do dùng an thần kinh cổ điển trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

1.9. Chẩn đoán phân biệt với loạn động muộn

1.10. Các xét nghiệm cận lâm sàng trong loạn động muộn

1.11. Tiến triển của loạn động muộn do sử dụng thuốc an thần kinh cổ điển kéo dài trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

1.12. Dịch tễ học loạn động muộn do sử dụng thuốc an thần kinh cổ điển kéo dài trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

1.13. Bệnh sinh loạn động muộn do sử dụng thuốc an thần kinh cổ điển kéo dài trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

1.14. Loạn động muộn do sử dụng thuốc an thần kinh kéo dài trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

1.15. Bệnh sinh loạn động muộn do sử dụng thuốc an thần kinh cổ điển kéo dài trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

1.16. Các phương pháp điều trị loạn động muộn do sử dụng thuốc an thần kinh cổ điển kéo dài trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

1.17. Điều trị bệnh tâm thần phân liệt bằng hoá dược

1.18. Điều trị loạn động muộn do thuốc an thần kinh cổ điển kéo dài trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

1.19. Dự phòng loạn động muộn trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

2.3. Phân nhóm bệnh nhân nghiên cứu

2.4. Tiêu chuẩn chọn lựa bệnh nhân nghiên cứu

2.5. Thiết kế nghiên cứu

2.6. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.7. Công cụ đánh giá lâm sàng và kết quả điều trị loạn động muộn trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

2.8. Nghiên cứu lâm sàng loạn động muộn trên bệnh nhân tâm thần phân liệt sử dụng thuốc an thần kinh cổ điển kéo dài

2.9. Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ liên quan tới loạn động muộn do sử dụng thuốc an thần kinh cổ điển kéo dài trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

2.10. Đánh giá hiệu quả điều trị loạn động muộn do sử dụng thuốc an thần kinh cổ điển kéo dài trên bệnh nhân tâm thần phân liệt bằng Clozapin và Vitamin E

2.11. Phương pháp xử lý số liệu và đánh giá kết quả nghiên cứu

2.12. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm lâm sàng loạn động muộn do sử dụng thuốc an thần kinh cổ điển kéo dài trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

3.2. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.3. Đặc điểm lâm sàng bệnh tâm thần phân liệt

3.4. Đặc điểm lâm sàng loạn động muộn do thuốc an thần kinh cổ điển trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

3.5. Một số yếu tố nguy cơ liên quan tới loạn động muộn do sử dụng thuốc an thần kinh cổ điển kéo dài trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

3.6. Một số yếu tố nguy cơ liên quan tới loạn động muộn do sử dụng thuốc an thần kinh cổ điển kéo dài và bệnh tâm thần phân liệt

3.7. Một số yếu tố nguy cơ liên quan tới triệu chứng lâm sàng loạn động muộn theo tiêu chí thang DISCUS

3.8. Hiệu quả điều trị loạn động muộn do sử dụng thuốc an thần kinh cổ điển kéo dài trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

3.9. Nhận xét liều lượng thuốc điều trị

3.10. Kết quả điều trị loạn động muộn trên lâm sàng

3.11. Kết quả điều trị loạn động muộn theo điểm số thang DISCUS, AIMS

3.12. Kết quả điều trị lâm sàng bệnh tâm thần phân liệt ở từng thời điểm khác nhau

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng loạn động muộn do thuốc an thần kinh cổ điển trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

4.2. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.3. Đặc điểm lâm sàng loạn động muộn do thuốc an thần kinh trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

4.4. Một số yếu tố nguy cơ liên quan tới loạn động muộn do thuốc an thần kinh trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

4.5. Một số yếu tố nguy cơ liên quan tới loạn động muộn do thuốc an thần kinh và bệnh tâm thần phân liệt

4.6. Một số yếu tố nguy cơ liên quan tới triệu chứng loạn động muộn theo tiêu chí thang DISCUS

4.7. Nhận xét hiệu quả điều trị loạn động muộn do thuốc an thần kinh cổ điển trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

4.8. Nhận xét kết quả sử dụng thuốc

4.9. Kết quả điều trị theo triệu chứng lâm sàng loạn động muộn

4.10. Kết quả điều trị loạn động muộn theo điểm số thang DISCUS, AIMS

4.11. Kết quả điều trị bệnh tâm thần phân liệt trên lâm sàng ở từng thời điểm khác nhau

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về loạn động muộn và tâm thần phân liệt

Loạn động muộn là một rối loạn vận động nghiêm trọng, thường xuất hiện ở bệnh nhân tâm thần phân liệt do sử dụng kéo dài các thuốc an thần kinh cổ điển. Nghiên cứu này tập trung vào đặc điểm lâm sàng của loạn động muộn và hiệu quả điều trị bằng ClozapinVitamin E. Tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng, có tỷ lệ mắc cao và ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Loạn động muộn không chỉ gây khó khăn trong vận động mà còn cản trở sinh hoạt hàng ngày và khả năng tái hòa nhập cộng đồng.

1.1. Khái niệm và lịch sử loạn động muộn

Loạn động muộn được mô tả lần đầu vào năm 1952, liên quan đến việc sử dụng thuốc an thần kinh như Clorpromazin. Năm 1964, thuật ngữ này chính thức được sử dụng để mô tả các động tác bất thường, không tự chủ và có xu hướng lặp lại. Loạn động muộn thường xuất hiện muộn trong quá trình điều trị và có thể kéo dài hàng năm. Các nghiên cứu lâm sàng đã chỉ ra rằng loạn động muộn là một trong những tác dụng phụ nghiêm trọng nhất của thuốc an thần kinh cổ điển.

1.2. Đặc điểm lâm sàng của tâm thần phân liệt

Tâm thần phân liệt được đặc trưng bởi các triệu chứng dương tính và âm tính. Triệu chứng dương tính bao gồm hoang tưởng, ảo giác, trong khi triệu chứng âm tính thể hiện sự suy giảm trong cảm xúc, tư duy và hành vi. Bệnh nhân tâm thần phân liệt thường gặp khó khăn trong việc duy trì các mối quan hệ xã hội và thực hiện các hoạt động hàng ngày. Loạn động muộn là một biến chứng thường gặp ở những bệnh nhân này, đặc biệt khi sử dụng thuốc an thần kinh cổ điển kéo dài.

II. Phương pháp nghiên cứu và đối tượng

Nghiên cứu này được thực hiện trên bệnh nhân tâm thần phân liệt có triệu chứng loạn động muộn do sử dụng thuốc an thần kinh cổ điển kéo dài. Đặc điểm lâm sàng của loạn động muộn được đánh giá thông qua các thang điểm như DISCUSAIMS. Hiệu quả điều trị được đo lường bằng sự cải thiện các triệu chứng lâm sàng và điểm số trên các thang đánh giá.

2.1. Thiết kế nghiên cứu và tiêu chuẩn chọn lựa

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu lâm sàng với cỡ mẫu được chọn lọc kỹ lưỡng. Bệnh nhân tâm thần phân liệt được chẩn đoán theo tiêu chuẩn ICD-10 và có triệu chứng loạn động muộn do sử dụng thuốc an thần kinh cổ điển kéo dài. Các yếu tố nguy cơ như tuổi, giới tính, thời gian sử dụng thuốc và liều lượng được ghi nhận và phân tích.

2.2. Công cụ đánh giá và phương pháp xử lý số liệu

Các công cụ đánh giá bao gồm thang điểm DISCUSAIMS để đo lường mức độ nghiêm trọng của loạn động muộn. Dữ liệu được xử lý bằng các phương pháp thống kê để đánh giá hiệu quả điều trị. ClozapinVitamin E được sử dụng như một liệu pháp điều trị kết hợp, với liều lượng được điều chỉnh phù hợp với từng bệnh nhân.

III. Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy ClozapinVitamin E có hiệu quả trong việc cải thiện các triệu chứng loạn động muộnbệnh nhân tâm thần phân liệt. Các triệu chứng lâm sàng được giảm thiểu đáng kể, đặc biệt là ở nhóm bệnh nhân được điều trị kết hợp. Loạn động muộn được cải thiện rõ rệt theo thời gian, với sự giảm điểm số trên thang DISCUSAIMS.

3.1. Hiệu quả điều trị bằng Clozapin và Vitamin E

Clozapin được chứng minh là có hiệu quả trong việc giảm các triệu chứng loạn động muộn nhờ cơ chế tác động lên hệ thống dopaminergic. Vitamin E, với vai trò là chất chống oxy hóa, giúp bảo vệ tế bào thần kinh khỏi tổn thương do stress oxy hóa. Sự kết hợp của hai loại thuốc này mang lại hiệu quả điều trị cao hơn so với việc sử dụng đơn lẻ.

3.2. Các yếu tố nguy cơ và tiến triển của loạn động muộn

Các yếu tố nguy cơ như tuổi cao, thời gian sử dụng thuốc kéo dài và liều lượng cao của thuốc an thần kinh cổ điển có liên quan đến sự xuất hiện và tiến triển của loạn động muộn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc điều trị sớm và hợp lý có thể ngăn ngừa các di chứng nặng nề của loạn động muộn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng loạn động muộn trên bệnh nhân tâm thần phân liệt sử dụng an thần kinh cổ điển và nhận xét hiệu quả điều trị bằng clozapin và vitamin e

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. TÂM THẦN PHÂN LIỆT VÀ LOẠN ĐỘNG MUỘN 1. Khái niệm về bệnh tâm thần phân liệt Bệnh tâm thần phân liệt (TTPL) đã có từ hàng nghìn năm nay, nhưng tới Thế kỷ XVIII mới được mô tả trong y văn. Sự hiểu biết về bệnh TTPL bắt đầu bằng quan niệm “Sự mất trí tiên phát” của Griessinger.

Năm 1874, Vogel đã mô tả hội chứng Paranoid và ông gọi là “lý trí bị lầm lạc” năm 1857, Morel B. mô tả một loại bệnh tâm thần ở người trẻ tuổi gọi là “mất trí sớm”. khởi thảo bảng phân loại tâm thần trong đó đã xác định bệnh “tâm thần tư duy” (Ideophrenia) mà các triệu chứng phù hợp với bệnh TTPL hiện nay. Năm 1911, quan điểm của Bleuler cho rằng TTPL không phải là một bệnh mà là một nhóm bệnh kết hợp các triệu chứng phân liệt trong tâm thần.

Các tác giả khác như: Langfeldt A. cũng đưa ra các triệu chứng hoặc nhóm triệu chứng điển hình của TTPL [4]. Năm 1992, Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) công bố bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10F). Sau đó năm 1994, Hội tâm thần học Hoa Kỳ cho ra đời tài liệu chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần (DSM-IV) và DSM – V (năm 2013) trong đó bệnh TTPL được mô tả kỹ các triệu chứng và có các tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh và thể bệnh.

Các tài liệu này được sử dụng rộng rãi trong tâm thần học hiện nay [4], [7]. Bệnh TTPL là một bệnh loạn thần nặng, căn nguyên chưa rõ, tiến triển theo khuynh hướng mãn tính và tiên lượng rất khác nhau giữa các thể lâm sàng, khởi phát ở lứa tuổi trẻ từ 15-25 tuổi [10]. Nhiều yếu tố được cho là có liên quan đến bệnh nguyên và bệnh sinh của bệnh TTPL, trong đó nổi bật là các yếu tố di truyền, rối loạn chuyển hoá các chất trung gian hoá học thần 4 kinh, sự bất thường trong cấu trúc của hệ thần kinh trung ương, các yếu tố tâm lý - xã hội… Hiện nay, nhiều tác giả cho rằng bệnh TTPL không phải chỉ do một nguyên nhân duy nhất mà là kết quả tác động qua lại của nhiều yếu tố cả sinh học lẫn môi trường gây ra [10], [109]. Khái niệm về loạn động muộn Thuật ngữ “loạn động” (Dyskinesia) được mô tả là những cử động ngoài ý muốn bao gồm múa giật (chorea), múa vờn (athetosis) và loạn trương lực cơ (dystonia).

Loại trừ những biểu hiện không phải là loạn động như chứng đứng ngồi không yên, vận động thụ động và định hình, ngôn ngữ và điệu bộ thiếu hoà hợp và có triệu chứng tic [39]. Loạn động là một hội chứng chung của nhiều rối loạn vận động. Biểu hiện là những vận động ngắt quãng hoặc chòng chành. Run là một trong những biểu hiện của loạn động.

Có nhiều nguyên nhân gây loạn động như bệnh Parkinson, những chấn thương sọ não, các bệnh tự miễn, các bệnh nhiễm khuẩn, các bệnh mang tính di truyền trong gia đình. Trong nhiều thập kỷ qua, loạn động được mô tả như những vận động ngẫu nhiên, dị thường được xếp chung vào hội chứng ngoại tháp (Extra-Pyramidal Syndrome - EPS). Nhưng thực chất loạn động là những rối loạn vận động bao gồm vận động chậm (Bradykinesia) và tăng động (Hyperkinesia). Phân loại vận động chậm và tăng động dựa vào sự quan sát bệnh lý và biểu hiện về hình dáng cơ thể [39]: - Giảm vận động được mô tả bởi sự cứng nhắc (chậm chạp dị thường) khó khăn khi bắt đầu và kết thúc hoạt động và được che đậy bởi vẻ mặt của người bệnh Parkinson.

- Tăng động là những vận động không tự chủ bao gồm chứng đứng ngồi không yên, múa giật, loạn trương lực, giật rung cơ, tic, múa vờn và múa vung. Lược sử về loạn động muộn do thuốc an thần kinh Năm 1952, khi Clorpromazin lần đầu tiên được áp dụng trong lâm sàng tâm thần cũng đồng thời xuất hiện khái niệm về “loạn động muộn” (Tardive Dyskinesia). Năm 1957, một số nhà tâm thần học và dược lý lâm sàng học đầu tiên mô tả những triệu chứng cụ thể của chứng LĐM [39], [50]. Năm 1964, thuật ngữ “loạn động muộn” mới chính thức được sử dụng để mô tả những động tác bất thường, không tự chủ và có xu hướng lặp đi, lặp lại của các nhóm cơ trong cơ thể [47].

Năm 1968, các tác giả mô tả chứng loạn động muộn(LĐM) là những triệu chứng gây ra do sử dụng thuốc an thần kinh (ATK) kéo dài và xảy ra muộn trong điều trị khi cắt, giảm liều thuốc ATK đột ngột. LĐM có thể tồn tại trong vài ngày, vài tuần hoặc hàng tháng, thậm chí hàng năm có liên quan tới liệu trình điều trị [47]. Năm 1994, Hiệp hội tâm thần Mỹ đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán xác định LĐM [26]. LOẠN ĐỘNG MUỘN DO SỬ DỤNG THUỐC AN THẦN KINH CỔ ĐIỂN KÉO DÀI TRÊN BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT 1.

Các nghiên cứu lâm sàng bệnh tâm thần phân liệt 1. Triệu chứng lâm sàng bệnh tâm thần phân liệt Triệu chứng lâm sàng của bệnh TTPL vô cùng phức tạp, phong phú, luôn luôn thay đổi và được phân chia thành 2 nhóm triệu chứng dương tính và âm tính: - Triệu chứng âm tính của bệnh TTPL thể hiện sự tiêu hao, mất mát, mất tính toàn vẹn và thống nhất trong các mặt hoạt động tâm thần vốn có. + Tính thiếu hoà hợp biểu hiện bằng tính hai chiều trái ngược, tính dị kỳ khó hiểu, tính khó thâm nhập, tính phủ định và tính tự động. Tính thiếu hoà hợp thể hiện trong toàn bộ các hoạt động tâm thần của người bệnh nhưng rõ nét nhất trong 3 mặt hoạt động tâm thần chính là tư duy, cảm xúc và hành vi tác phong.

+ Tính tự kỷ cũng mang những tính chất trên nhưng ở mức độ cao hơn, nổi bật là tính dị kỳ khó hiểu và khó thâm nhập. Người bệnh tự kỷ đi vào thế giới nội tâm, theo đuổi, xây dựng thế giới của riêng mình, đảo lộn các quy luật tự nhiên và xã hội dẫn đến hành vi kỳ dị không ai có thể hiểu được. + Các triệu chứng giảm sút thế năng tâm thần được biểu hiện bằng giảm tính năng động, linh hoạt, mềm dẻo trong các hoạt động tâm thần, cảm xúc cùn mòn, khô lạnh, tư duy nghèo nàn, ý chí suy đồi, hoạt động ngày càng suy giảm, dần dần không thích ứng được trong giao tiếp, thực hành xã hội [4], [7]. - Triệu chứng dương tính là các triệu chứng xuất hiện thêm trong quá trình bị bệnh có tính chất đa dạng, phức tạp và luôn thay đổi, xuất hiện, mất đi hoặc được thay thế bằng các triệu chứng dương tính khác.

Triệu chứng dương tính thường có trong giai đoạn đầu và giảm dần ở giai đoạn sau của bệnh [4], [6], [7]. - Các triệu chứng âm tính và dương tính trong tâm thần phân liệt đều biểu hiện trong các mặt của hoạt động tâm thần. Mối liên quan giữa các triệu chứng âm tính và dương tính phụ thuộc vào tiến triển của bệnh. Các thể tiến triển càng nặng thì các triệu chứng âm tính càng chiếm ưu thế.

Theo Nguyễn Văn Thọ (2010), đặc điểm các rối loạn chức năng tâm thần trong bệnh TTPL như rối loạn cảm xúc chiếm tỉ lệ cao nhất (88,34%); rối loạn ý thức chiếm tỉ lệ thấp nhất (0,39%). Các triệu chứng hoang tưởng và ảo giác rất đa dạng, trong đó hoang tưởng tự cao (18,9%), hoang tưởng tự buộc tội 7 (12,54%), hoang tưởng bị hại (10,97%), các ảo giác như ảo thanh thô sơ (16,94%), ảo thanh ra lệnh (4,2%), giảm vận động (45,15%), tăng vận động (24,58%), các cơn xung động (21,25%), xung động đi lang thang (4,21%), không ăn (3,04%), rối loạn tình dục (3,82%) và các rối loạn khác ít gặp [15]. Theo một số tác giả các hoang tưởng tự buộc tội và bị truy hại là nguyên nhân gây nên các hành vi nguy hiểm đến bản thân người bệnh và xã hội. Chẩn đoán bệnh và các thể lâm sàng tâm thần phân liệt - Chẩn đoán bệnh tâm thần phân liệt: + Chẩn đoán bệnh TTPL theo tiêu chuẩn của TCYTTG (ICD-10) năm 1992, mục F20-F29 [17].

+ Chẩn đoán bệnh TTPL theo tiêu chuẩn của của hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ lần thứ 5 (DSM-V) năm 2013, mục 333. - Các thể lâm sàng bệnh TTPL: Theo ICD-10F (1992), TTPL chia ra các thể được mã hóa F20.1: thể thanh xuân; F20.2: thể căng trương lực; F20.3: thể không biệt định; F20.4: thể trầm cảm sau phân liệt; F20.5: thể di chứng. Loạn động muộn trên bệnh nhân tâm thần phân liệt 1. Triệu chứng lâm sàng loạn động muộn Đặc điểm lâm sàng của LĐM rất đa dạng và phong phú.

Nhiều tác giả nhận định triệu chứng chính của LĐM là sự vận động ngẫu nhiên và liên tục ở lưỡi, miệng, và mặt, đôi khi gặp ở chân tay và thân mình, ít khi gặp ở các cơ vùng hô hấp, nếu có gặp thì sẽ gây ra những tiếng kêu “ủn ỉn”, thậm chí bệnh nhân hít vào rất khó khăn. Đôi khi gặp ở các chi, nhất là chi dưới, bàn chân có thể bị tác động nhiều nên việc đi lại rất khó khăn [39], [47]. (1973) và các tác giả khác đã mô tả LĐM là những triệu chứng xuất hiện muộn do sử dụng thuốc ATK cổ điển kéo dài hoặc cắt hoặc giảm liều thuốc ATK đột ngột. Loạn động muộn có thể tồn tại trong vài ngày, 8 vài tháng hoặc thậm chí hàng năm.

Các triệu chứng LĐM chỉ tồn tại ban ngày và mất đi khi ngủ. Loạn động muộn được đặc trưng bằng các vận động bất thường, không tự chủ ở mắt, môi, lưỡi, cơ hàm dưới. Cụ thể như động tác nhai tóp tép, mấp máy môi, run giật môi, nhấp nháy mi mắt liên tục, thè thụt lưỡi, lắc lư lưỡi sang 2 bên, múa vờn của cánh tay, giật rung ở bàn và ngón tay, các động tác lắc cổ chân, giậm bàn chân, gõ các ngón chân, lưng và cổ có thể bị xoắn vặn [50]. Loạn động muộn được Waln O.

(2013) mô tả là đặc trưng của các động tác bất thường ở vùng mắt, miệng, lưỡi như múa giật, run, tic. Bệnh nhân có LĐM có thể có biểu hiện khác thường khác như: bồn chồn, nói không tự chủ và cảm giác đau [130]. Một số tác giả khác còn nhận thấy LĐM là những động tác bất thường, không tự chủ, lặp đi lặp lại gồm: động tác múa vờn, múa giật ở thân mình và các chi. Loạn động muộn có thể biểu hiện bằng triệu chứng rối loạn về nuốt, về thở như chứng nuốt hơi, ợ hơi, rối loạn nhịp thở.

các triệu chứng này có thể tồn tại hàng tháng hoặc hàng năm [45], [84]. Loạn động muộn tăng trong trường hợp tăng cảm xúc, kích động và giảm khi được nghỉ ngơi, ngủ hoặc do cố gắng của bản thân [44], [47].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng loạn động muộn ở bệnh nhân tâm thần phân liệt và hiệu quả điều trị bằng Clozapin và Vitamin E" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng loạn động muộn, một biến chứng thường gặp ở bệnh nhân tâm thần phân liệt. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân mà còn đánh giá hiệu quả của việc điều trị bằng Clozapin và Vitamin E, từ đó mở ra hướng đi mới trong việc quản lý và điều trị tình trạng này. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin quý giá về cách thức điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị khác trong lĩnh vực y học, hãy tham khảo thêm tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng và kết quả điều trị dị vật đường thở bằng nội soi ống cứng trực tiếp, nơi bạn có thể tìm hiểu về các kỹ thuật nội soi trong điều trị. Bên cạnh đó, tài liệu Luận án đánh giá hiệu quả ghép xương cho bệnh nhân có khe hở cung hàm sẽ cung cấp thêm thông tin về các phương pháp phẫu thuật và điều trị trong lĩnh vực nha khoa. Cuối cùng, tài liệu Luận án nghiên cứu đáp ứng xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan virus c mạn kiểu gen 1 6 điều trị bằng sofosbuvir phối hợp ledipasvir sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các liệu pháp điều trị bệnh gan, mở rộng kiến thức về các bệnh lý khác trong y học.