Tổng quan luận án
Chăn nuôi thủy cầm giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp tại châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Theo số liệu thống kê năm 2018 của Tổng cục Thống kê, tổng đàn thủy cầm của Việt Nam đạt trên 92 triệu con, đứng thứ hai trên thế giới về số lượng đầu con, phân bố tập trung chủ yếu tại vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Cùng với sự phát triển của các giống thủy cầm nội địa, nhiều giống vịt chuyên thịt (như Super M, Super M2, Super M3) và giống chuyên trứng (như Khaki Campbell, CV 2000 Layer, Triết Giang) đã được nhập nội, nuôi giữ, nhân thuần và lai tạo nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trứng tươi, trứng vịt lộn và chế biến trứng muối phục vụ tiêu dùng nội địa cũng như xuất khẩu.
Tuy nhiên, trong một thời gian dài, các công trình nghiên cứu chọn tạo giống vịt tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào các dòng vịt chuyên thịt; số lượng công trình chọn lọc nâng cao năng suất đối với các dòng vịt chuyên trứng còn hạn chế, mới chỉ tập trung trên một số đối tượng như vịt Cỏ, vịt Khaki Campbell và vịt CV 2000 Layer. Đối với giống vịt Triết Giang (nhập nội từ Trung Quốc năm 2005) và giống vịt TC (được tạo ra từ nguồn gen tổ hợp giữa vịt Triết Giang và vịt Cỏ cánh sẻ), việc nghiên cứu chọn lọc nâng cao năng suất trứng qua nhiều thế hệ một cách có hệ thống vẫn chưa được thực hiện đầy đủ.
Theo các kết quả khảo nghiệm ban đầu, giống vịt Triết Giang có đặc điểm thành thục sớm (tuổi đẻ từ 15 đến 17 tuần tuổi), khối lượng cơ thể khi vào đẻ đạt từ 1.137,40 gam đến 1.140,93 gam ở vịt trống và từ 1.080,70 gam đến 1.084,70 gam ở vịt mái, năng suất trứng bình quân đạt 251,30 – 259,70 quả/mái/52 tuần đẻ, khối lượng trứng 55 – 65 gam/quả và tiêu tốn thức ăn từ 2,19 – 2,23 kg/10 quả trứng. Giống vịt TC kết hợp được ưu điểm của vịt Triết Giang và vịt Cỏ, cho năng suất trứng từ 280,65 – 282,68 quả/mái/52 tuần đẻ, khối lượng trứng 68 – 70 gam/quả, tiêu tốn thức ăn từ 2,04 – 2,10 kg/10 quả trứng, có khả năng đề kháng tốt và tuổi đẻ sớm hơn vịt Cỏ. Dù vậy, năng suất của các đàn giống này chưa thực sự ổn định, mức độ đồng đều về ngoại hình và các chỉ tiêu sản xuất qua các thế hệ chưa được kiểm soát chặt chẽ.
Từ thực tế trên, tác giả Vũ Hoàng Trung đã thực hiện luận án tiến sĩ nông nghiệp chuyên ngành Chăn nuôi (mã số: 9 62 01 05) với đề tài: "Chọn lọc nâng cao năng suất trứng của vịt Triết Giang và vịt TC" tại Viện Chăn nuôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Hoàng Văn Tiệu và TS. Nguyễn Văn Trọng.
Mục tiêu tổng quát của luận án là tiến hành chọn lọc nhằm ổn định và nâng cao năng suất trứng của 4 dòng vịt thuộc 2 giống vịt chuyên trứng (gồm dòng TG1, dòng TG2 từ giống vịt Triết Giang và dòng TC1, dòng TC2 từ giống vịt TC), đồng thời đánh giá khả năng sản xuất của các tổ hợp lai thương phẩm TG12 và TC12 phục vụ sản xuất.
Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của đề tài bao gồm:
- Chọn lọc nâng cao năng suất trứng qua 4 thế hệ đối với 2 dòng vịt Triết Giang (dòng TG1 và dòng TG2), theo dõi sự thay đổi về ngoại hình, khả năng sinh trưởng, tỷ lệ nuôi sống, năng suất trứng, chất lượng trứng và các chỉ tiêu ấp nở.
- Chọn lọc nâng cao năng suất trứng qua 4 thế hệ đối với 2 dòng vịt TC (dòng TC1 và dòng TC2), đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh sản và hiệu quả chọn lọc.
- Đánh giá khả năng sản xuất, các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật và ưu thế lai của vịt thương phẩm chuyên trứng TG12 (con lai giữa TG1 và TG2) và TC12 (con lai giữa TC1 và TC2) so với các dòng bố mẹ thuần.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các cá thể vịt thuần thuộc 4 dòng TG1, TG2, TC1, TC2 qua 4 thế hệ chọn lọc và đàn vịt thương phẩm đời lai TG12, TC12.
- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên – Viện Chăn nuôi.
- Thời gian nghiên cứu: Quá trình theo dõi được thực hiện liên tục qua 4 thế hệ chọn lọc giống và theo dõi đàn đẻ thương phẩm đến 52 tuần đẻ.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các cơ sở lý luận di truyền số lượng và thực tiễn chọn giống gia cầm trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Tác giả đã tổng hợp các nghiên cứu về các tính trạng sản xuất chính ở thủy cầm, bao gồm khả năng sinh trưởng, khả năng sinh sản, chất lượng trứng và hiệu quả sử dụng thức ăn.
Về cơ sở di truyền các tính trạng số lượng, tác giả dẫn giải các công trình của Nguyễn Văn Thiện (1995), Trần Long (1994), Đặng Vũ Bình (2002) và Nguyễn Văn Đức và cs (2006). Các tính trạng sản xuất như khối lượng cơ thể, tỷ lệ đẻ, năng suất trứng chịu sự chi phối của nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (hiệu ứng cộng tính $A$, hiệu ứng trội $D$, hiệu ứng tương tác át gen $I$) và sự tác động của sai lệch môi trường chung ($E_c$) cũng như môi trường riêng ($E_s$).
Về sinh trưởng và khối lượng cơ thể, các nghiên cứu của Powell (1985), Leeson và cs (1982), Tai (1989), Kschischan (1995), Lê Thị Phiên và cs (2006), Nguyễn Thị Minh và cs (2005, 2007), Doãn Văn Xuân và cs (2007), Nguyễn Đức Trọng và cs (2007, 2008, 2009a) và Nguyễn Thị Thắm (2016) cho thấy khối lượng cơ thể chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi dòng giống, giới tính, phương thức chăn nuôi và chế độ dinh dưỡng. Tính trạng khối lượng cơ thể có hệ số di truyền ở mức trung bình ($h^2 = 0,3 - 0,5$), cho phép thực hiện chọn lọc cá thể đạt hiệu quả cao.
Về khả năng sinh sản và tuổi đẻ, luận án điểm lại các công trình của Hetzel (1985), Pingel (1976, 1989), Stasko (1986), Tai (1989), Nguyễn Duy Hoan và Trần Huê Viên (2005), Trần Thanh Vân (2004), Hoàng Thị Lan và cs (2005), Nguyễn Hồng Vĩ và cs (2007a, 2008), Nguyễn Đức Trọng và cs (1996, 1997, 2008, 2009a, 2011). Dữ liệu tổng hợp từ các nghiên cứu trước đây về tuổi đẻ và hệ số di truyền tính trạng năng suất trứng của một số giống vịt được thể hiện trong các bảng sau:
| Giống vịt |
Hướng sản xuất |
Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên (ngày) |
Tác giả trích dẫn |
| Khaki Campbell |
Trứng |
142 |
Hetzel (1985) |
| Khaki Campbell |
Trứng |
140 – 144 |
Nguyễn Hồng Vĩ và cs (2008) |
| Triết Giang |
Trứng |
119 |
Nguyễn Đức Trọng và cs (2009a) |
| Vịt Cỏ |
Trứng |
144 – 153 |
Nguyễn Thị Minh, Hoàng Văn Tiệu, Nguyễn Đức Trọng (2007) |
| Vịt TC |
Trứng |
126 |
Nguyễn Đức Trọng và cs (2011) |
| CV. Super M2 |
Thịt |
160 – 180 |
Nguyễn Đức Trọng và cs (2009) |
| Kỳ Lừa |
Thịt |
198 ± 3,85 |
Nguyễn Duy Hoan, Trần Huê Viên (2005) |
| Đốm (Pất Lài) |
Kiêm dụng |
154 – 161 |
Nguyễn Đức Trọng và cs (2009) |
Hệ số di truyền của tính trạng năng suất trứng ở các giống vịt thường ở mức thấp đến trung bình:
| Giống vịt |
Hệ số di truyền ($h^2$) |
Tác giả trích dẫn |
| Bắc Kinh |
0,32 |
Stasko (1986) |
| Bắc Kinh |
0,17 – 0,42 |
Pingel (1976) |
| Brown Tsaiya |
0,02 – 0,14 |
Tai (1989) |
| Vịt SM (dòng T6) |
0,34 |
Nguyễn Đức Trọng và cs (2009) |
| Vịt M14 (dòng MT2) |
0,30 – 0,34 |
Nguyễn Đức Trọng và cs (2011) |
Về chất lượng trứng và ấp nở, các công trình của Haugh (1930), Hoàng Văn Tiệu và cs (1993, 1995), Lê Xuân Đồng (1994), Nguyễn Thị Bạch Yến (1997), Nguyễn Văn Trọng (1998), Doãn Văn Xuân và cs (2009), Nguyễn Thị Thúy Nghĩa và cs (2011), Aggarwal và Dipankar (1986), Datuin (1999) đã xác định các chỉ số hình dạng lý tưởng (1,35 – 1,44), đơn vị Haugh, độ dày vỏ trứng, tỷ lệ phôi và tỷ lệ nở theo phương thức nuôi dưỡng và tỷ lệ ghép trống mái.
Về ưu thế lai, luận án dựa trên các nghiên cứu lý thuyết của Lebedev (1972), Lasley (1974), Nguyễn Huy Đạt (1991) và Nguyễn Song Hoan (1993) về các giả thuyết di truyền (thuyết trội, thuyết siêu trội, thuyết tương tác gen không cùng locus) nhằm ứng dụng lai khác dòng tạo con lai thương phẩm có năng suất trứng và sức sống vượt trội so với trung bình của đàn bố mẹ.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định là việc thiếu hụt các nghiên cứu chọn lọc định hướng và đánh giá di truyền nhiều thế hệ trên 2 giống vịt chuyên trứng Triết Giang và TC tại Việt Nam. Luận án đặt vị trí của mình như một công trình chọn giống thực nghiệm có hệ thống, hoàn thiện quy trình chọn lọc 4 dòng thuần và tổ hợp lai 2 dòng thương phẩm phục vụ thực tiễn sản xuất.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng lý thuyết di truyền số lượng và chọn giống vật nuôi để xây dựng phương pháp chọn lọc cho các dòng vịt chuyên trứng:
Mô hình phân tích kiểu hình:
$$P = G + E = A + D + I + E_c + E_s$$
Trong đó:
- $P$: Giá trị kiểu hình đo đạc được.
- $G$: Giá trị kiểu gen tổng số.
- $A$: Hiệu ứng cộng tính của các gen (giá trị giống thông thường).
- $D$: Hiệu ứng trội giữa các alen trong cùng locus.
- $I$: Hiệu ứng tương tác át gen giữa các locus khác nhau.
- $E_c$: Sai lệch môi trường chung tác động lên toàn quần thể.
- $E_s$: Sai lệch môi trường riêng tác động lên từng cá thể.
Lý thuyết về hiệu quả chọn lọc ($R$):
$$R = h^2 \cdot S = h^2 \cdot i \cdot \sigma_p$$
Trong đó:
- $h^2$: Hệ số di truyền của tính trạng chọn lọc.
- $S$: Ly sai chọn lọc (chênh lệch giữa giá trị trung bình của nhóm cá thể được chọn làm giống và trung bình toàn đàn).
- $i$: Cường độ chọn lọc ($i = S / \sigma_p$).
- $\sigma_p$: Độ lệch chuẩn kiểu hình của tính trạng trong quần thể.
Lý thuyết và công thức tính mức độ biểu hiện ưu thế lai ($H%$) theo Lasley (1974):
$$H (%) = \frac{X_{\text{con}} - \frac{X_{\text{bố}} + X_{\text{mẹ}}}{2}}{\frac{X_{\text{bố}} + X_{\text{mẹ}}}{2}} \times 100$$
Phương pháp chọn giống thực nghiệm:
- Phương pháp chọn lọc: Áp dụng phương pháp chọn lọc kết hợp (kết hợp giữa chọn lọc cá thể dựa trên giá trị kiểu hình về ngoại hình, khối lượng ở các tuần tuổi đầu và chọn lọc theo gia đình/trong gia đình đối với tính trạng năng suất trứng có hệ số di truyền thấp).
- Quy trình quản lý và ghép đôi: Lập số hiệu cá thể, theo dõi hệ phả chặt chẽ qua 4 thế hệ nhằm tránh hiện tượng giao phối cận huyết; kiểm soát tỷ lệ ghép trống/mái phù hợp theo hướng trứng.
- Chế độ dinh dưỡng và chăm sóc nuôi dưỡng: Áp dụng khẩu phần ăn chuẩn theo từng giai đoạn sinh trưởng (vịt con 0 – 8 tuần tuổi, vịt hậu bị 9 – 16/18 tuần tuổi, vịt đẻ từ khi vào đẻ đến 52 tuần đẻ) với mức năng lượng trao đổi (ME) và hàm lượng protein thô (CP) được cân đối theo quy trình kỹ thuật của Viện Chăn nuôi.
Hệ thống các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định (theo tài liệu chuyên ngành của Bùi Hữu Đoàn và cs, 2011):
- Chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển: Khối lượng cơ thể (g/con) xác định bằng cân kỹ thuật qua các mốc tuần tuổi; kích thước các chiều đo cơ thể ở thời điểm 56 ngày tuổi (dài thân, vòng ngực, dài lườn, dài đùi, dài cẳng, cao cẳng tính bằng cm); tỷ lệ nuôi sống (%) qua các giai đoạn tuần tuổi.
- Chỉ tiêu sinh sản: Tuổi thành thục sinh dục (ngày tuổi khi đẻ quả trứng đầu tiên hoặc khi đàn đạt tỷ lệ đẻ 5%); tỷ lệ đẻ trung bình (%); năng suất trứng (quả/mái/52 tuần đẻ); tiêu tốn thức ăn trên 10 quả trứng (kg).
- Chỉ tiêu chất lượng trứng: Khối lượng trứng (g), chỉ số hình thái (chỉ số dài, chỉ số rộng), chỉ số lòng trắng, chỉ số lòng đỏ, tỷ lệ lòng trắng (%), tỷ lệ lòng đỏ (%), tỷ lệ vỏ trứng (%), độ dày vỏ trứng (mm), đơn vị Haugh (HU).
- Chỉ tiêu ấp nở: Tỷ lệ trứng có phôi/tổng số trứng ấp (%), tỷ lệ nở/tổng số trứng ấp (%), tỷ lệ nở/trứng có phôi (%).
Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ số liệu thực nghiệm thu thập được xử lý bằng các thuật toán thống kê sinh học trên máy tính, tính toán các tham số thống kê cơ bản ($X \pm SE$, $CV%$), phân tích phương sai (ANOVA) và so sánh sai khác giữa các thế hệ và các tổ hợp lai.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 trình bày cơ sở lý luận về di truyền số lượng, các yếu tố sinh học và môi trường ảnh hưởng đến tính trạng sinh trưởng, sinh sản, chất lượng trứng và ấp nở ở thủy cầm. Tác giả phân tích các phương pháp chọn lọc (chọn lọc lần lượt, loại thải độc lập, chọn lọc theo chỉ số; chọn lọc cá thể, theo gia đình, trong gia đình và chọn lọc kết hợp), các nguồn thông tin chọn giống (kiểu hình, giá trị giống ước tính EBV) và các lý thuyết về ưu thế lai (thuyết trội, siêu trội, tương tác không cùng locus). Chương này tổng kết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về năng suất của các giống vịt Khaki Campbell, CV 2000 Layer, Bắc Kinh, Tsaiya, vịt Cỏ, vịt Triết Giang và vịt TC, qua đó xác định cơ sở khoa học và khoảng trống nghiên cứu cho đề tài.
Chương 2: Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy mô và phương pháp bố trí thí nghiệm tại Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên. Vật liệu nghiên cứu gồm 4 dòng vịt thuần: TG1, TG2 (nguồn gốc vịt Triết Giang) và TC1, TC2 (nguồn gốc vịt TC) được theo dõi qua 4 thế hệ chọn lọc, cùng 2 tổ hợp lai thương phẩm TG12 và TC12. Nội dung nghiên cứu bao gồm:
- Quy trình chọn lọc nâng cao năng suất trứng 2 dòng vịt Triết Giang (TG1, TG2).
- Quy trình chọn lọc nâng cao năng suất trứng 2 dòng vịt TC (TC1, TC2).
- Khảo nghiệm và đánh giá sức sản xuất của vịt thương phẩm chuyên trứng TG12 và TC12.
Chương này quy định chi tiết tiêu chuẩn ăn, thành phần dinh dưỡng theo từng giai đoạn lứa tuổi, phương pháp chọn phối tránh đồng huyết, các phương pháp đo đạc kích thước cơ thể ở 56 ngày tuổi, kiểm tra chất lượng trứng, theo dõi tỷ lệ ấp nở và các công thức tính toán thống kê sinh học theo Bùi Hữu Đoàn và cs (2011).
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 là phần trọng tâm của luận án, trình bày toàn bộ kết quả thực nghiệm được cấu trúc theo 3 nội dung chính:
1. Chọn lọc nâng cao năng suất vịt TG1 và TG2
- Dòng vịt TG1: Luận án theo dõi đặc điểm ngoại hình, các chiều đo kích thước cơ thể ở 56 ngày tuổi, tỷ lệ nuôi sống và khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi ở 4 thế hệ chọn lọc. Năng suất trứng/mái/52 tuần đẻ tăng dần qua các thế hệ. Hiệu quả chọn lọc năng suất trứng thể hiện rõ rệt qua ly sai chọn lọc và đáp ứng chọn lọc qua từng thế hệ. Các chỉ tiêu chất lượng trứng (đơn vị Haugh, chỉ số lòng đỏ, lòng trắng, độ dày vỏ) và chỉ tiêu ấp nở (tỷ lệ phôi, tỷ lệ nở/phôi) được duy trì ổn định ở mức cao.
- Dòng vịt TG2: Ngoại hình đồng nhất, khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi ổn định theo tiêu chuẩn giống hướng trứng. Khả năng nuôi sống ở giai đoạn vịt con và hậu bị đạt mức cao. Năng suất trứng qua 4 thế hệ chọn lọc có sự cải thiện liên tục, tiêu tốn thức ăn trên 10 quả trứng giảm dần. Các chỉ tiêu chất lượng vỏ trứng và tỷ lệ ấp nở đạt yêu cầu kỹ thuật của đàn giống sinh sản.
2. Chọn lọc nâng cao năng suất vịt TC1 và TC2
- Dòng vịt TC1: Luận án ghi nhận các đặc trưng ngoại hình, kích thước các chiều đo cơ thể ở 56 ngày tuổi qua 4 thế hệ. Khối lượng cơ thể vào đẻ được kiểm soát ổn định. Năng suất trứng/mái/52 tuần đẻ tăng tiến qua các thế hệ chọn lọc, khẳng định hiệu quả của phương pháp chọn lọc kết hợp. Chất lượng trứng (khối lượng trứng, chỉ số hình thái, đơn vị Haugh) và các chỉ tiêu sinh học ấp nở đều đạt mức tối ưu.
- Dòng vịt TC2: Tỷ lệ nuôi sống qua các giai đoạn phát triển đạt tỷ lệ cao. Năng suất trứng và tỷ lệ đẻ đạt đỉnh cao được duy trì kéo dài qua các thế hệ chọn lọc. Hiệu quả chọn lọc thể hiện qua mức tăng năng suất trứng và giảm tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng. Các chỉ tiêu ấp nở (tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ nở trên trứng có phôi) duy trì ở mức cao và ổn định.
3. Khả năng sản xuất của vịt thương phẩm TG12 và TC12
- Tổ hợp lai TG12 (TG1 $\times$ TG2): Vịt thương phẩm TG12 có sức sống cao, tỷ lệ nuôi sống các giai đoạn đạt mức vượt trội so với đàn bố mẹ thuần. Tuổi thành thục sinh dục sớm, đường cong tỷ lệ đẻ duy trì đỉnh cao bền bỉ. Năng suất trứng/mái/52 tuần đẻ và hiệu quả chuyển hóa thức ăn (tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng) đều đạt kết quả tốt hơn so với trung bình của hai dòng bố mẹ thuần TG1 và TG2, thể hiện rõ giá trị ưu thế lai về tính trạng sinh sản.
- Tổ hợp lai TC12 (TC1 $\times$ TC2): Vịt mái thương phẩm TC12 có ngoại hình đồng nhất, tầm vóc nhỏ gọn đặc trưng của vịt chuyên trứng. Năng suất trứng/mái/52 tuần đẻ đạt mức cao, khối lượng trứng lớn hơn so với vịt Triết Giang và tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng ở mức thấp. Khi so sánh đối chứng với hai dòng thuần TC1 và TC2, con lai TC12 thể hiện ưu thế lai dương ($H% > 0$) về năng suất trứng, tỷ lệ đẻ và hiệu quả sử dụng thức ăn.
Kết quả và những đóng góp mới
Căn cứ vào các nội dung nghiên cứu thực nghiệm được trình bày trong luận án, các kết quả và đóng góp mới được tác giả công bố bao gồm:
-
Về mặt lý luận và khoa học:
- Cung cấp hệ thống dữ liệu khoa học toàn diện và có hệ thống về các đặc điểm ngoại hình, sinh trưởng, sinh sản, chất lượng trứng và các chỉ tiêu ấp nở của 4 dòng vịt thuộc 2 giống vịt chuyên trứng Triết Giang (TG1, TG2) và TC (TC1, TC2) qua 4 thế hệ chọn lọc liên tục.
- Xác định được các tham số di truyền, hiệu quả chọn lọc (ly sai chọn lọc, đáp ứng chọn lọc) đối với tính trạng năng suất trứng khi áp dụng phương pháp chọn lọc kết hợp trong điều kiện chăn nuôi tại Việt Nam.
- Bổ sung cơ sở dữ liệu thực nghiệm về mức độ biểu hiện ưu thế lai ở các tổ hợp lai chuyên trứng giữa các dòng thuần nội và nhập nội.
-
Về mặt thực tiễn sản xuất:
- Chọn lọc thành công 4 dòng vịt chuyên trứng: TG1, TG2 (thuộc giống Triết Giang) và TC1, TC2 (thuộc giống TC) đạt độ đồng nhất cao về ngoại hình, khối lượng cơ thể ổn định và năng suất trứng được nâng cao qua các thế hệ.
- Tạo ra 2 tổ hợp lai vịt thương phẩm chuyên trứng TG12 và TC12 có năng suất trứng cao, tỷ lệ đẻ bền, tiêu tốn thức ăn trên 10 quả trứng thấp và khả năng thích nghi tốt.
- Cung cấp nguồn giống vịt hướng trứng có chất lượng cao, phục vụ trực tiếp cho nhu cầu sản xuất con giống thương phẩm cung ứng cho người chăn nuôi, góp phần phát triển chăn nuôi thủy cầm chuyên trứng theo hướng thâm canh.
-
Kiến nghị và đề xuất:
- Cho phép đưa 4 dòng vịt TG1, TG2, TC1, TC2 và 2 tổ hợp lai thương phẩm TG12, TC12 vào hệ thống giống gia cầm quốc gia để chuyển giao vào sản xuất đại trà.
- Tiếp tục duy trì công tác nuôi giữ giống gốc, nhân thuần và áp dụng quy trình chọn lọc gia đình kết hợp chọn lọc cá thể để duy trì và nâng cao tiềm năng di truyền của các dòng giống ở các thế hệ tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án phản ánh một số phạm vi và giới hạn nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu thực nghiệm được triển khai tập trung tại Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên (Hà Nội) trong điều kiện chăn nuôi chuồng trại và dinh dưỡng được kiểm soát theo quy chuẩn nghiên cứu.
- Các chỉ tiêu đánh giá tập trung vào chu kỳ đẻ 52 tuần ở 4 thế hệ chọn lọc đầu tiên; việc theo dõi các thế hệ tiếp theo cần được duy trì thường xuyên để kiểm soát hiện tượng cận huyết và suy giảm di truyền.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất là tiếp tục đánh giá khả năng thích nghi, sức kháng bệnh và năng suất của con lai thương phẩm TG12 và TC12 khi nuôi tại các vùng sinh thái chăn nuôi thủy cầm khác nhau (đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long) với các phương thức nuôi khác nhau (nuôi nhốt hoàn toàn, nuôi bán thâm canh kết hợp bơi lội).
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị ứng dụng và học thuật trong ngành chăn nuôi và thú y:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Chăn nuôi, Di truyền - Chọn giống động vật: Luận án cung cấp phương pháp luận chuẩn mực về thiết kế thí nghiệm chọn giống gia cầm qua nhiều thế hệ, kỹ thuật tính toán ly sai chọn lọc, hiệu quả chọn lọc ($R = h^2S$) và phương pháp đánh giá ưu thế lai.
- Đối với giảng viên và cán bộ nghiên cứu: Luận án cung cấp bộ số liệu thực nghiệm hoàn chỉnh về các chỉ tiêu sinh học, kích thước cơ thể ở 56 ngày tuổi, các chỉ tiêu chất lượng trứng (đơn vị Haugh, chỉ số lòng đỏ/lòng trắng, độ dày vỏ) và ấp nở của vịt Triết Giang và vịt TC.
- Đối với các cơ sở nghiên cứu giống gia cầm và doanh nghiệp chăn nuôi: Luận án cung cấp quy trình kỹ thuật chọn tạo dòng, quy chuẩn dinh dưỡng và định mức kinh tế kỹ thuật (năng suất trứng/mái/52 tuần, tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng) để ứng dụng trực tiếp vào sản xuất con giống thương phẩm chất lượng cao.
Câu hỏi thường gặp
1. Nguồn gốc xuất xứ và đặc điểm cơ bản của giống vịt Triết Giang và vịt TC là gì?
Vịt Triết Giang là giống vịt hướng trứng nhập nội chính thức từ Trung Quốc vào Việt Nam năm 2005, có đặc điểm tuổi đẻ sớm (15 – 17 tuần tuổi), thân hình nhỏ gọn, năng suất trứng đạt 251,30 – 259,70 quả/mái/52 tuần đẻ, khối lượng trứng 55 – 65 gam/quả. Vịt TC là giống vịt được tạo ra tại Việt Nam từ nguồn gen tổ hợp giữa vịt Triết Giang và vịt Cỏ màu cánh sẻ, có năng suất trứng đạt 280,65 – 282,68 quả/mái/52 tuần đẻ, khối lượng trứng 68 – 70 gam/quả, tiêu tốn thức ăn từ 2,04 – 2,10 kg/10 quả trứng, có sức đề kháng tốt và tuổi đẻ sớm.
2. Tại sao luận án lại chia thành 4 dòng thuần (TG1, TG2, TC1, TC2) để chọn lọc?
Việc tách và chọn lọc riêng rẽ 4 dòng (2 dòng từ vịt Triết Giang và 2 dòng từ vịt TC) nhằm mục đích ổn định các tính trạng ngoại hình và khối lượng cơ thể, nâng cao năng suất trứng của từng dòng qua các thế hệ bằng phương pháp chọn lọc kết hợp, đồng thời tạo ra các cặp dòng thuần tương ứng (TG1 $\times$ TG2 và TC1 $\times$ TC2) để khai thác tối đa hiệu ứng ưu thế lai khi sản xuất con lai thương phẩm TG12 và TC12.
3. Phương pháp chọn giống chính được sử dụng trong luận án là gì?
Luận án áp dụng phương pháp chọn lọc kết hợp (combined selection) – kết hợp giữa chọn lọc cá thể (dựa trên giá trị kiểu hình về ngoại hình, khối lượng cơ thể ở các mốc tuần tuổi) và chọn lọc theo gia đình/trong gia đình (dựa trên năng suất trứng và các chỉ tiêu sinh sản của gia đình). Phương pháp này giúp khắc phục nhược điểm của chọn lọc cá thể đơn thuần đối với các tính trạng có hệ số di truyền thấp ($h^2 < 0,3$) như năng suất trứng và tỷ lệ đẻ.
4. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng trong luận án gồm những gì và được xác định như thế nào?
Chất lượng trứng được đánh giá qua các chỉ tiêu: khối lượng trứng (g); chỉ số hình thái (tỷ lệ giữa đường kính lớn và đường kính nhỏ); chỉ số lòng trắng (tỷ số giữa chiều cao lòng trắng đặc so với đường kính trung bình); chỉ số lòng đỏ (chiều cao lòng đỏ/đường kính lòng đỏ); đơn vị Haugh (HU); tỷ lệ khối lượng lòng đỏ, lòng trắng, vỏ trứng so với khối lượng toàn quả (%); và độ dày vỏ trứng (mm). Các chỉ tiêu được xác định theo phương pháp chuẩn của Bùi Hữu Đoàn và cs (2011).
5. Kết quả khảo nghiệm đàn con lai thương phẩm TG12 và TC12 cho thấy điều gì?
Kết quả nghiên cứu cho thấy các tổ hợp lai thương phẩm TG12 và TC12 có sức sống cao, tỷ lệ nuôi sống tốt, tuổi đẻ sớm, tỷ lệ đẻ đạt đỉnh cao kéo dài, năng suất trứng/mái/52 tuần đẻ vượt trội và tiêu tốn thức ăn trên 10 quả trứng thấp hơn so với mức trung bình của các dòng bố mẹ thuần, thể hiện rõ giá trị ưu thế lai về năng suất sinh sản.
Kết luận
Luận án của tác giả Vũ Hoàng Trung đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu chọn lọc nâng cao năng suất trứng của 4 dòng vịt thuộc 2 giống chuyên trứng Triết Giang (TG1, TG2) và TC (TC1, TC2) qua 4 thế hệ thực nghiệm tại Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên. Đề tài đã hoàn thiện hệ thống dữ liệu khoa học về đặc điểm sinh trưởng, sinh sản, chất lượng trứng, ấp nở và hiệu quả chọn lọc của các dòng giống thuần, đồng thời chứng minh ưu thế sản xuất vượt trội của hai tổ hợp lai thương phẩm TG12 và TC12. Công trình là tài liệu khoa học có giá trị chuyên môn cao, đóng góp trực tiếp vào công tác giống và phát triển sản xuất chăn nuôi thủy cầm chuyên trứng tại Việt Nam.