Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến các vấn đề lý luận về năng lực tư duy lý luận của giảng viên trường chính trị tỉnh Tư duy, tư duy lý luận, năng lực tư duy lý luận là những vấn đề nhận được sự quan tâm sâu sắc của giới nghiên cứu các nước và nước ta trong thời gian qua. Nhiều cuốn sách, bài báo, tham luận tại các cuộc hội thảo, v. đề cập đến vấn đề này ở những góc độ khác nhau.
Các công trình được đề cập trong các công trình viết về lịch sử triết học, phép biện chứng, lôgíc học, lý luận nhận thức như: Tác giả Đ.Gorki trong công trình “Lôgíc học” cho rằng, chỉ có thể tư duy đúng đắn khi vận dụng những tư tưởng có nội dung chân thực và đã được chứng minh phù hợp với các quy luật của lôgíc học [20].Lencôv trong công trình “Lôgíc học biện chứng” (Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2003) đã chỉ ra hệ thống các nguyên tắc của quá trình nhận thức, tầm quan trọng của nguyên tắc lịch sử trong mối tương quan với nguyên tắc lôgíc, sự đồng nhất giữa lôgíc học, phép biện chứng và lý luận nhận thức, mối quan hệ giữa cái cụ thể, cái lôgíc và cái lịch sử trong tư duy [34]. Trong các công trình như: “Nguyên lý lôgíc biện chứng” của M.Rôdentan, tác giả đã đi từ vai trò của lôgíc biện chứng và khẳng định rằng tư duy là công cụ mạnh mẽ để con người nhận thức và cải tạo thế giới; tác giả cũng chỉ ra những quy luật vận động của tư duy [96]. Tác giả Trần Sỹ Phán Trong bài: " Đổi mới tư duy lý luận - khâu đột phá trong sự nghiệp đổi mới của Đảng ta" [79]. Tác giả cho rằng TDLL là quá trình phản ánh hiện thực khách quan gián tiếp, mang tính trừu tượng và khái quát cao bằng các khái niệm, phạm trù, quy luật.
Đây là hình thức cao nhất của tư duy. Quá trình tư duy là quá trình chủ thể nhận thức sử dụng ngôn ngữ và các công cụ khái niệm để nắm bắt các mối liên hệ bên trong, bản chất, từ đó tìm ra các quy luật vận động nội tại tiềm ẩn ở khách thể trong quá trình nhận thức. 8 Tác giả Lê Hữu Nghĩa, Phạm Duy Hải trong công trình “Tư duy khoa học trong giai đoạn cách mạng khoa học công nghệ “cho rằng, bất kỳ người nào sống trong xã hội, có một bộ óc phát triển bình thường, nắm được những yêu cầu nhất định về ngôn ngữ, lôgíc thì đều có thể trở thành một chủ thể của tư duy. Những ai có NLTD tốt thường sẽ trở thành những người thuộc tầng lớp trí thức xã hội.
Những người chuyên lao động trí óc, làm việc chủ yếu bằng tư duy thường là những người có NLTD tốt. Trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ, tư duy khoa học hiện đại phát triển mạnh mẽ. Các ông cho rằng, sự phát triển ấy sẽ dẫn đến các lý thuyết khoa học mới, tổng quát hơn. Tư duy khoa học hiện đại sẽ chuyển hóa về chất thành tư duy khoa học của một nền văn minh mới, cao hơn trong thế kỷ XXI.
Nhờ đó, loài người sẽ giải quyết được các vấn đề toàn cầu [78]. Tác giả Vũ Văn Viên trong bài “Rèn luyện năng lực tư duy khoa học cho học sinh, sinh viên”[135] đã phân tích và làm sáng tỏ nét đặc thù và sự cần thiết phải phát triển tư duy khoa học cho học sinh, sinh viên ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Tác đã đã chỉ ra những hạn chế của tư duy khoa học ở học sinh, sinh viên và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao NLTD khoa học cho học sinh, sinh viên hiện nay. Tác giả cho rằng, cần tăng cường rèn luyện tư duy chính xác cho học sinh, sinh viên thông qua dạy lôgíc hình thức hay là trang bị các nguyên tắc, phương pháp luận biện chứng duy vật cho các em.
Tác giả Nguyễn Mạnh Cương phân tích trong bài viết “Về bản chất tư duy” bàn về nguồn gốc, bản chất, đặc điểm, lịch sử hình thành và phát triển của tư duy biện chứng duy vật. Tác giả khẳng định rằng, tư duy biện chứng mácxít là hình thức tư duy phát triển cao nhất trong lịch sử; tư duy biện chứng phụ thuộc vào hệ thống tri thức và hoạt động thực tiễn của mỗi chủ thể, thiếu vốn tri thức chủ thể nhận thức sẽ không có tư duy sáng tạo. Tác giả cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tư duy chính xác và tư duy biện chứng duy vật trong quá trình nhận thức [9]. Bên cạnh đó, có các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề đổi mới tư duy ở nước ta hiện nay.
Các nhà nghiên cứu đã đặt ra và giải quyết vấn đề tình trạng lạc hậu của TDLL ở nước ta trước thời kỳ đổi mới, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạc hậu của TDLL và cách thức khắc phục tình trạng đó như: 9 Theo đồng chí Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng thời kỳ đổi mới đã nhấn mạnh trong tác phẩm “Đổi mới để tiến lên”cho rằng : "Nói đổi mới tư duy, điều căn bản là phải đổi mới tư duy lý luận" [47, tr. Bởi, tư duy lý luận là tư duy ở cấp độ cao, dựa trên các công cụ là khái niệm, phạm trù, phán đoán, suy luận, hướng tới phân tích, tổng hợp, khái quát để tìm ra bản chất, quy luật của hiện thực khách quan, từ đó định hướng, hướng dẫn hoạt động thực tiễn của con người và sáng tạo tri thức mới. Tác giả Nguyễn Ngọc Long, “Năng lực tư duy lý luận trong quá trình đổi mới tư duy” [50]. Tác giả đã phân tích bản chất và những yếu tố cấu thành năng lực TDLL; sự cần thiết phải phát triển năng lực TDLL trong thời kỳ đổi mới đất nước.
Từ đó, tác giả khẳng định rằng, quá trình đổi mới tư duy phải gắn chặt với việc đổi mới và nâng cao năng lực TDLL; phải khắc phục được những sai lầm trong TDLL của chúng ta. Tác giả Trần Thành (chủ biên) trong cuốn “Tư duy lý luận với hoạt động của người cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn” cho rằng: Tư duy lý luận (được hiểu theo là cái "phủ định biện chứng" của tư duy kinh nghiệm) là tư duy dựa trên tri thức lý luận và phương pháp nhận thức khoa học [114]. Về năng lực tư duy, trước hết các tác giả xuất phát từ khái niệm “năng lực” nói chung. Cách xác định trên, tuy còn nhiều vấn đề cần trao đổi, song theo chúng tôi, phần nào đã lột tả được thực chất khái niệm năng lực.
Các tác giả nhất trí với quan niệm của Hồ Chí Minh rằng, “Năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do tập luyện mà có” [61, tr. Cũng như bất kỳ một loại năng lực nào khác, năng lực TDLL cũng được hình thành và phát triển nhờ các yếu tố bẩm sinh và rèn luyện qua học tập, hoạt động thực tiễn. Tuy nhiên, để làm rõ năng lực TDLL là gì, chúng ta cần tìm hiểu vấn đề một cách cụ thể hơn. 10 Tác giả Nguyễn Thị Bạch Vân với bài báo khoa học "Nâng cao trình độ tư duy lý luận cho sinh viên thông qua giảng dạy triết học"[134] cho rằng: Tư duy lý luận được hình thành trên cơ sở của tư duy kinh nghiệm; đó là sự phản ánh được các mối liên hệ trong tính tất yếu của nó, trong những quan hệ toàn diện của nó, trong sự vận động mâu thuẫn của nó.
Tư duy lý luận có thể phân thành nhiều loại khác nhau. Mỗi môn khoa học là một hệ thống tri thức lý luận (khác với tri thức kinh nghiệm) về bản chất bởi tư duy lý luận dựa trên cơ sở tri thức kinh nghiệm thực tiễn điển hình cùng với sự tham gia nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà lý luận. Từ điển triết học do M.Rôdentan chủ biên viết rằng, “hoạt động tâm lý đặc biệt của con người tức là năng lực tư duy” [97, tr. Cách xác định như vậy tuy còn rất chung, song nó giúp cho việc tiếp tục cụ thể hoá, chi tiết hơn.
Tác giả Hồ Bá Thâm trong bài viết “Bàn về năng lực tư duy” cho rằng, “năng lực tư duy là khả năng biến tri thức thành phương pháp và sử dụng thành thạo chúng để tiếp tục nhận thức, tìm ra bản chất, quy luật, xu hướng tất yếu của sự vật và vận dụng đúng đắn các quy luật đó trong cuộc sống” [118, tr. Từ quan niệm chung như vậy, tác giả nhận định cụ thể hơn: “Năng lực tư duy là tổng hợp những khả năng ghi nhớ, tái hiện, liên tưởng, trừu tượng hóa, khái quát hóa và xử lý tri thức trong quá trình phản ánh, tái tạo, phát triển và vận dụng chúng vào những tình huống thực tiễn nhất định” [118, tr. Có thể nói, cách định nghĩa như trên là quá hẹp, bởi năng lực tư duy nếu chỉ là khả năng biến trí thức thành phương pháp thì chưa nói lên đầy đủ chức năng của hoạt động tư duy. Tác giả Hồ Bá Thâm, cũng đã phân tích và cho rằng, có 3 yếu tố cơ bản cấu thành năng lực tư duy là: Một là, năng lực tái hiện và ghi nhớ những hình ảnh do cảm tính đem lại.
Hai là, năng lực liên tưởng để tìm bản chất của vấn đề đi từ chưa biết đến biết, vạch ra cái mới. Ba là, năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp và tưởng tượng. Từ đó, tác giả cũng đưa ra ra định nghĩa về năng lực tư duy và phân tích những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới năng lực tư duy như: trình độ, yếu tố bẩm sinh, phương thức và môi trường của tồn tại 11 xã hội, hoạt động giáo dục và đào tạo tự giác, hoạt động thực tiễn. Bên cạnh đó, tác giả cũng cho rằng năng lực tư duy không phụ thuộc vào yếu tố bẩm sinh.
Để phát triển năng lực tư duy cần khai thác và phát huy hiệu quả vai trò của các yếu tố ảnh hưởng tới nó, cần thấy được tầm quan trọng của từng yếu tố để có cơ chế khai thác phù hợp mới phát huy được tác dụng [118]. Tác giả Tô Duy Hợp trong bài viết “Phương pháp tư duy - vấn đề kế thừa và đổi mới” đã chỉ ra mối quan hệ và sự khác biệt giữa các khái niệm phương pháp, phương pháp tư duy, phương pháp nhận thức, phương pháp hành động, phân biệt các khái niệm phương pháp TDLL, phương pháp tư duy khoa học và phương pháp tư duy biện chứng.