Luận án tiến sĩ về các giải pháp nâng cao chất lượng vốn nhân lực cho doanh nghiệp may Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng vốn nhân lực trong các doanh nghiệp may Việt Nam, đóng góp phát triển bền vững ngành dệt may.

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2013

251
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN NHÂN LỰC VÀ CHẤT LƯỢNG VỐN NHÂN LỰC CỦA DOANH NGHIỆP MAY

1.1. Khái niệm về vốn nhân lực

1.2. Các mô hình định lượng vốn nhân lực

1.3. Quá trình tạo vốn nhân lực

1.4. Chất lượng vốn nhân lực và các tiêu chí đánh giá

1.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỐN NHÂN LỰC VÀ CHẤT LƯỢNG VỐN NHÂN LỰC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP MAY

2.1. Tổng quan ngành công nghiệp may Việt Nam

2.2. Thực trạng quá trình tạo vốn nhân lực cho các doanh nghiệp may

2.3. Thực trạng vốn nhân lực và chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp May Việt Nam

2.4. Chất lượng vốn nhân lực của Tổng công ty may 10 – công ty cổ phần

2.5. Đánh giá chung về chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp may

2.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VỐN NHÂN LỰC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP MAY

3.1. Quan điểm nâng cao chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp may Việt Nam

3.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp may Việt Nam

3.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện công tác tạo vốn nhân lực nhằm nâng cao chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp May

3.2.2. Xác lập chiến lược đầu tư tối ưu vào vốn nhân lực để nâng cao năng suất lao động và chuyển đổi dần từ phương thức sản xuất gia công sang phương thức sản xuất mua nguyên liệu, bán thành phẩm nhằm nâng cao chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp may

3.2.3. Giải pháp nâng cấp dữ liệu thành vốn thông tin để mở rộng quy mô của vốn nhân lực nhằm nâng cao chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp may

3.2.4. Giải quyết hài hoà mối quan hệ lao động trong các doanh nghiệp May nhằm giảm thiểu biến động lao động, nâng cao năng suất lao động để nâng cao chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp may

3.2.5. Đổi mới tổ chức sản xuất nhằm nâng cao chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp may

3.3. Một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp may Việt Nam

3.3.1. Khuyến nghị đối với Nhà nước

3.3.2. Khuyến nghị đối với Hiệp hội Dệt May Việt Nam

3.3.3. Khuyến nghị đối với Tập đoàn Dệt May Việt Nam

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu chất lượng vốn nhân lực

Phụ lục 2: Tổng hợp kết quả khảo sát nguồn nhân lực của Tập đoàn Dệt May Việt Nam năm 2009

Phụ lục 3: Phiếu khảo sát vốn nhân lực của các doanh nghiệp may Việt Nam

Phụ lục 4: Danh sách doanh nghiệp gửi phiếu điều tra

Phụ lục 5: Các câu hỏi định hướng phỏng vấn chuyên gia

Phụ lục 6: Danh sách các chuyên gia trả lời phỏng vấn

Phụ lục 7: Thu nhập bình quân của lao động trong các doanh nghiệp may và công nghiệp giai đoạn 2000 - 2011

Phụ lục 8: Năng suất lao động bình quân trong các doanh nghiệp may và công nghiệp giai đoạn 2000 - 2011

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về vốn nhân lực và chất lượng vốn nhân lực

Chương này tập trung phân tích các khái niệm cơ bản về vốn nhân lựcchất lượng vốn nhân lực trong doanh nghiệp may. Các khái niệm như vốn nhân lực, nguồn nhân lực, và vốn vật chất được so sánh để làm rõ sự khác biệt. Các mô hình định lượng vốn nhân lực như mô hình đi học và mô hình đào tạo trong công việc của Mincer được trình bày chi tiết. Quá trình tạo vốn nhân lực thông qua đào tạo chính quy và không chính quy cũng được đề cập. Các tiêu chí đánh giá chất lượng vốn nhân lực như số năm đi học, kinh nghiệm, và thu nhập được phân tích để làm rõ tầm quan trọng của chất lượng vốn nhân lực trong ngành may mặc.

1.1. Khái niệm vốn nhân lực

Phần này định nghĩa vốn nhân lực là tài sản trí tuệ của doanh nghiệp, bao gồm kiến thức, kỹ năng, và kinh nghiệm của người lao động. Các thước đo vốn nhân lực như số năm đi học, đầu tư tài chính cho giáo dục, và kinh nghiệm làm việc được phân tích. Sự khác biệt giữa nguồn nhân lựcvốn nhân lực được làm rõ, trong đó vốn nhân lực tập trung vào giá trị kinh tế mà người lao động mang lại.

1.2. Mô hình định lượng vốn nhân lực

Các mô hình như mô hình đi học và mô hình đào tạo trong công việc của Mincer được trình bày. Mô hình đi học tập trung vào việc đo lường lợi ích kinh tế từ giáo dục, trong khi mô hình của Mincer nhấn mạnh vai trò của đào tạo trong công việc. Các mô hình này giúp đánh giá hiệu quả đầu tư vào vốn nhân lực và tác động của nó đến năng suất lao động.

II. Thực trạng vốn nhân lực và chất lượng vốn nhân lực trong doanh nghiệp may Việt Nam

Chương này phân tích thực trạng vốn nhân lựcchất lượng vốn nhân lực trong ngành may mặc Việt Nam. Các số liệu thống kê về số lượng lao động, trình độ học vấn, và kinh nghiệm làm việc được trình bày. Các vấn đề như tỷ lệ biến động lao động, năng suất lao động thấp, và thiếu hụt lao động có kỹ năng được đề cập. Các giải pháp hiện tại như đào tạo nội bộ và hợp tác với các cơ sở đào tạo được phân tích để đánh giá hiệu quả.

2.1. Tổng quan ngành công nghiệp may Việt Nam

Phần này cung cấp cái nhìn tổng quan về ngành may mặc Việt Nam, bao gồm số lượng doanh nghiệp, quy mô lao động, và kim ngạch xuất khẩu. Các thách thức như năng suất lao động thấp và thiếu hụt lao động có kỹ năng được nhấn mạnh. Các chiến lược phát triển ngành đến năm 2020 cũng được đề cập.

2.2. Thực trạng vốn nhân lực trong doanh nghiệp may

Phần này phân tích thực trạng vốn nhân lực trong các doanh nghiệp may, bao gồm trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc, và tỷ lệ biến động lao động. Các số liệu thống kê cho thấy sự thiếu hụt lao động có kỹ năng và trình độ chuyên môn cao, dẫn đến năng suất lao động thấp.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng vốn nhân lực trong doanh nghiệp may Việt Nam

Chương này đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng vốn nhân lực trong doanh nghiệp may Việt Nam. Các giải pháp bao gồm hoàn thiện công tác đào tạo, xác lập chiến lược đầu tư tối ưu vào vốn nhân lực, và nâng cấp dữ liệu thành vốn thông tin. Các khuyến nghị đối với Nhà nước, Hiệp hội Dệt May, và các doanh nghiệp cũng được đưa ra để hỗ trợ thực hiện các giải pháp này.

3.1. Giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo

Phần này đề xuất các giải pháp như tăng cường đào tạo nội bộ, hợp tác với các cơ sở đào tạo, và phát triển chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tế của ngành may mặc. Các giải pháp này nhằm nâng cao kỹ năngtrình độ chuyên môn của người lao động.

3.2. Chiến lược đầu tư tối ưu vào vốn nhân lực

Phần này đề xuất chiến lược đầu tư tối ưu vào vốn nhân lực thông qua việc tăng cường đầu tư vào giáo dục và đào tạo. Các giải pháp như tăng ngân sách đào tạo, phát triển chương trình đào tạo chất lượng cao, và khuyến khích đào tạo liên tục được đề cập.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nâng cao chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp may việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN NHÂN LỰC VÀ CHẤT LƯỢNG VỐN NHÂN LỰC CỦA DOANH NGHIỆP MAY 1.1- Khái niệm về vốn nhân lực 1.1 Quan niệm nhân lực là tài sản của doanh nghiệp Người lao động là tài sản đã trở thành lối ẩn dụ hay được sử dụng trong quản lý cuối thế kỷ 20, xét cho cùng, con người là cỗ máy chủ tạo ra sự thịnh vượng cho hầu hết các tổ chức. Ở một mức độ nào đó, quan niệm này đại diện cho sự nâng cao giá trị của người lao động, tạo cho người lao động một địa vị mà họ xứng đáng được hưởng [85]. Có thể thấy rằng quan niệm nhân lực là tài sản đã có từ hơn 200 năm trước. Trong tác phẩm “Sự giàu có của các Quốc gia” xuất bản năm 1776, Smith đã chỉ ra sự giống nhau giữa con người và thiết bị: “ Khi bất kỳ một máy móc đắt tiền nào được lắp ráp, một công việc lạ thường được nó thực hiện, trước khi nó bị mòn, hỏng nó được kỳ vọng là sẽ thay thế lượng vốn đã bỏ ra để tạo ra nó, với mức lợi nhuận tối thiểu là bằng mức thông thường.

Một người được giáo dục với chi phí nhiều lao động và thời gian để làm những công việc đòi hỏi kỹ năng và sự khéo léo cao, có thể so sánh với những máy móc đắt tiền”. Quan niệm nhân lực là tài sản minh hoạ cho quan điểm hướng về người lao động. Tại Mỹ, vào cuối những năm 1980, đầu 1990 khi những người lao động chưa đạt tới tình trạng được coi là tài sản trong suy nghĩ của đa số các nhà quản lý cao cấp, khuynh hướng giảm quy mô ở giai đoạn này đã khiến các nhà quản lý xem người lao động như là chi phí và có thể cắt giảm bất cứ khi nào sức ép về kinh tế bắt buộc. Sau năm 1991, kinh tế Mỹ mặc dù còn khó khăn nhưng đã có dấu hiệu hồi phục thể hiện ở dấu hiệu giảm dần của chỉ số cắt giảm việc làm.

Nhiều nghiên cứu ở Mỹ trong giai đoạn này cho thấy các doanh nghiệp đã không còn thuần tuý quan niệm người lao động chỉ là chi phí mà đã có dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp bắt đầu nhìn nhận người lao động dưới góc độ là tài sản của mình. Quan niệm người lao động như là tài sản đã đặt ra hai vấn đề riêng biệt nhưng lại có quan hệ với nhau, cụ thể như sau : 10 Thứ nhất, quan niệm này đã nâng cao tầng lớp người lao động bằng cách nhấn mạnh giá trị mà con người đóng góp cho các doanh nghiệp. Người lao động mang sự khéo léo, sáng tạo và các sáng kiến đến cho công ty và họ chính là nguồn tài sản của công ty, họ không bị xem là chi phí theo quan niệm trước đây trong giai đoạn giảm quy mô sản xuất. Thứ hai: việc xem người lao động là tài sản có thể dẫn đến hiểu lầm là doanh nghiệp có quyền sở hữu người lao động, các nhà tư bản tạo ra lợi nhuận cho mình không phải nhờ sức lao động của nhân công mà nhờ tài sản của chính mình, trong khi về cơ bản, người lao động rất khác với tài sản thông thường thể hiện trong các khía cạnh sau : - Người lao động có thể dễ dàng di chuyển từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác, việc di chuyển nhiều hay ít phụ thuộc chủ yếu vào bản thân người lao động hay nói một cách khác là phụ thuộc vào lòng trung thành giữa người lao động và doanh nghiệp.

Điều này chứng tỏ rằng doanh nghiệp không thể coi người lao động là tài sản của mình và doanh nghiệp không thể sở hữu người lao động như sở hữu các tài sản thông thường khác. - Tài sản là bị động, được mua, bán, thay thế do suy nghĩ chủ quan của người chủ sở hữu nó; người lao động thì ngược lại, họ có tính chủ động ngày càng tăng trong suốt thời kỳ làm việc của họ. - Các tài sản thông thường của doanh nghiệp được phản ánh một cách đầy đủ trong kế toán, tuy nhiên đối với tài sản người lao động, hiện nay hệ thống kế toán vẫn chưa thể gắn giá trị tài chính với nguồn nhân lực. Nếu con người là tài sản thì các nhà quản lý rõ ràng là ở vị trí người điều khiển.

Như vậy, quan niệm người lao động là tài sản đã duy trì mãi hố sâu ngăn cách giữa lao động chân tay và lao động trí óc.2 Khái niệm về vốn nhân lực 1.1- Khái niệm về vốn nhân lực Thuật ngữ vốn nhân lực xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1961 trong bài báo “đầu tư vào vốn nhân lực “được đăng trong tạp chí Kinh tế học Hoa kỳ của Nhà 11 kinh tế học được giải thưởng Nobel là Theodore W. Schultz, sau đó được phát triển tiếp bằng các nghiên cứu của nhiều tác giả khác. Đa số các tác giả đều chấp nhận rằng vốn nhân lực bao gồm các kỹ năng, kinh nghiệm và kiến thức [85], hay theo nghiên cứu trong tác phẩm “Kinh tế học lao động“ của Borjas vào năm 1996, mỗi người đều mang vào thị trường lao động một tập hợp nhất định các khả năng và các kỹ năng thu được hay còn gọi là vốn nhân lực. Như vậy, vốn nhân lực theo quan niệm của các tác giả trên bao gồm các kiến thức, kỹ năng thu được thông qua đào tạo chính quy tại các trường, kinh nghiệm thu được trong quá trình làm việc trong thị trường lao động và khả năng bẩm sinh của người lao động cũng là một thành phần quan trọng của vốn nhân lực.

Ngoài kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và khả năng bẩm sinh của con người, có nhiều quan điểm cho rằng sức khoẻ của người lao động cũng là một thành phần của vốn nhân lực. Trong nghiên cứu về "Vốn nhân lực của người nghèo ở Việt Nam- tình hình và các lựa chọn về chính sách" vào năm 2001, Indu Bhushan và các cộng sự đã cho rằng “vốn nhân lực là tiềm năng và khả năng phát huy tiềm năng về sức khoẻ và kiến thức của các cá nhân, cái sẽ mang lại lợi ích trong tương lai hay "vốn con người là kết quả quá trình đầu tư vào các hoạt động nhằm nâng cao năng suất lao động cá nhân như giáo dục, y tế, đào tạo tại chỗ…" [17]. Có thể thấy rằng vốn nhân lực là một khái niệm được sử dụng rộng rãi với các định nghĩa hết sức phức tạp và khác nhau. Trong những bối cảnh nhất định, nó có thể chỉ bao gồm việc học tập chính quy tại trường đào tạo, trong khi ở một số bối cảnh khác, nó có thể bao gồm sự đầu tư tác động đến sức khoẻ và năng suất của con người, của doanh nghiệp và của cả quốc gia.

Điều này có thể bao gồm việc đầu tư vào sức khoẻ và dinh dưỡng cũng như đào tạo nghề bên cạnh hệ thống giáo dục phổ thông [36]. Trong những năm gần đây, ngày càng có sự quan tâm đến vốn nhân lực và coi đó như là động cơ cho tăng trưởng kinh tế và gắn kết xã hội. Chính vì vậy, vào năm 2002 khi thảo luận về những yêu cầu cho tăng trưởng kinh tế, các bộ trưởng của các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển châu âu (OECD) đã nhấn mạnh 12 đến tầm quan trọng của việc đầu tư vào vốn nhân lực. Có rất nhiều lý do xác đáng cho vấn đề này, nhất là các bằng chứng cho thấy giáo dục và đào tạo, hai nhân tố chính của vốn nhân lực, có liên quan chặt chẽ đến việc cải thiện các kết quả kinh tế [78].

Thông qua việc đầu tư vào giáo dục có thể tác động tích cực đến sức khoẻ [17]. Mặt khác, nhiều nghiên cứu cũng đã cho thấy giáo dục, đào tạo có nhiều hiệu ứng ngoại sinh trong đó có sự tác động vào sức khoẻ cá nhân và sức khoẻ của các thành viên trong gia đình. Điều này là do những người lao động được giáo dục nhiều sẽ có những hành vi tìm kiếm sức khoẻ trong cộng đồng tốt hơn những người ít được giáo dục, mặt khác những người được đào tạo nhiều hơn thường có thu nhập cao hơn những người ít được đào tạo vì vậy họ có điều kiện hơn để chăm sóc sức khoẻ cho bản thân và gia đình [1]. Chính vì lý do này, trong luận án chỉ nghiên cứu các thành phần quan trọng nhất của vốn nhân lực là kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và khả năng bẩm sinh của người lao động và coi việc nâng cao các yếu tố này tất yếu sẽ dẫn đến nâng cao sức khoẻ cho người lao động.

Với quan niệm như trên, vốn nhân lực là tổng hợp các kỹ năng, kỹ xảo của người lao động ; kinh nghiệm nghề nghiệp ; trình độ đào tạo và những khả năng có thể khai thác của người lao động [21]. Vốn nhân lực không phải là cái sẽ có mà đã có sẵn của người lao động, tức là cái có thể bán được. Như vậy, vốn nhân lực của các doanh nghiệp may có thể hiểu là các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm nghề nghiệp, trình độ đào tạo và những khả năng có thể khai thác của đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và công nhân kỹ thuật trong các doanh nghiệp may.2- Quan niệm người lao động là nhà đầu tư Giống như ý tưởng người lao động là tài sản, hình ảnh người lao động là nhà đầu tư không phải hoàn toàn mới. Trong tác phẩm “ Sự giàu có của Quốc gia“ được xuất bản vào năm 1776, khi so sánh con người với máy móc, Adam Smith đã đi sâu hơn khi nói rằng : “ Công việc mà anh ta học để thực hiện, đó phải là công việc được kỳ vọng, có mức lương ở trên và cao hơn lao động bình thường, sẽ thay thế cho anh ta tất cả các chi phí để giáo dục anh ta cộng với mức lợi nhuận bình thường 13 tối thiểu có giá trị bằng vốn tương đương.” Nói một cách khác, Smith đã nói rằng cá nhân hành động như một nhà đầu tư.

Anh ta tích luỹ vốn cá nhân (sự khéo léo và kỹ năng giỏi đã được đề cập ở trên) trong suy nghĩ của anh ta và cố gắng đầu tư nó một cách khôn ngoan, tiết kiệm nó và triển khai nó với những lợi thế tốt nhất. Mặt khác, có thể thấy rằng trong những thời kỳ kinh tế ổn định, tỷ lệ thất nghiệp sẽ ở mức thấp, khi đó, người lao động, những người chủ thực sự của vốn nhân lực có quyền lực cao hơn trên thị trường, họ sẽ không cư xử giống như tài sản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Giải pháp nâng cao chất lượng vốn nhân lực trong doanh nghiệp may Việt Nam" tập trung vào việc phân tích và đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện chất lượng nguồn nhân lực trong ngành may mặc, một lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Tài liệu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng nguồn nhân lực hiện tại mà còn đưa ra những phương pháp cụ thể để nâng cao kỹ năng và năng lực của nhân viên, từ đó giúp doanh nghiệp tăng cường hiệu quả sản xuất và cạnh tranh trên thị trường.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý nguồn nhân lực, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên ở trường cao đẳng cơ điện và nông nghiệp nam bộ, nơi đề cập đến việc phát triển đội ngũ giảng viên, một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Bên cạnh đó, Luận văn một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tuyển dụng đào tạo tại đài truyền hình bình dương cũng cung cấp những giải pháp thiết thực cho công tác tuyển dụng và đào tạo, giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về vấn đề này. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ phát triển nhân lực tại công ty cổ phần dịch vụ hàng hóa hàng không việt nam sẽ mang đến những kinh nghiệm thực tiễn trong việc phát triển nguồn nhân lực tại một công ty cụ thể, từ đó bạn có thể áp dụng vào bối cảnh của doanh nghiệp may mặc.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và tìm ra những giải pháp hiệu quả cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp của mình.