CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN NHÂN LỰC VÀ CHẤT LƯỢNG VỐN NHÂN LỰC CỦA DOANH NGHIỆP MAY 1.1- Khái niệm về vốn nhân lực 1.1 Quan niệm nhân lực là tài sản của doanh nghiệp Người lao động là tài sản đã trở thành lối ẩn dụ hay được sử dụng trong quản lý cuối thế kỷ 20, xét cho cùng, con người là cỗ máy chủ tạo ra sự thịnh vượng cho hầu hết các tổ chức. Ở một mức độ nào đó, quan niệm này đại diện cho sự nâng cao giá trị của người lao động, tạo cho người lao động một địa vị mà họ xứng đáng được hưởng [85]. Có thể thấy rằng quan niệm nhân lực là tài sản đã có từ hơn 200 năm trước. Trong tác phẩm “Sự giàu có của các Quốc gia” xuất bản năm 1776, Smith đã chỉ ra sự giống nhau giữa con người và thiết bị: “ Khi bất kỳ một máy móc đắt tiền nào được lắp ráp, một công việc lạ thường được nó thực hiện, trước khi nó bị mòn, hỏng nó được kỳ vọng là sẽ thay thế lượng vốn đã bỏ ra để tạo ra nó, với mức lợi nhuận tối thiểu là bằng mức thông thường.
Một người được giáo dục với chi phí nhiều lao động và thời gian để làm những công việc đòi hỏi kỹ năng và sự khéo léo cao, có thể so sánh với những máy móc đắt tiền”. Quan niệm nhân lực là tài sản minh hoạ cho quan điểm hướng về người lao động. Tại Mỹ, vào cuối những năm 1980, đầu 1990 khi những người lao động chưa đạt tới tình trạng được coi là tài sản trong suy nghĩ của đa số các nhà quản lý cao cấp, khuynh hướng giảm quy mô ở giai đoạn này đã khiến các nhà quản lý xem người lao động như là chi phí và có thể cắt giảm bất cứ khi nào sức ép về kinh tế bắt buộc. Sau năm 1991, kinh tế Mỹ mặc dù còn khó khăn nhưng đã có dấu hiệu hồi phục thể hiện ở dấu hiệu giảm dần của chỉ số cắt giảm việc làm.
Nhiều nghiên cứu ở Mỹ trong giai đoạn này cho thấy các doanh nghiệp đã không còn thuần tuý quan niệm người lao động chỉ là chi phí mà đã có dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp bắt đầu nhìn nhận người lao động dưới góc độ là tài sản của mình. Quan niệm người lao động như là tài sản đã đặt ra hai vấn đề riêng biệt nhưng lại có quan hệ với nhau, cụ thể như sau : 10 Thứ nhất, quan niệm này đã nâng cao tầng lớp người lao động bằng cách nhấn mạnh giá trị mà con người đóng góp cho các doanh nghiệp. Người lao động mang sự khéo léo, sáng tạo và các sáng kiến đến cho công ty và họ chính là nguồn tài sản của công ty, họ không bị xem là chi phí theo quan niệm trước đây trong giai đoạn giảm quy mô sản xuất. Thứ hai: việc xem người lao động là tài sản có thể dẫn đến hiểu lầm là doanh nghiệp có quyền sở hữu người lao động, các nhà tư bản tạo ra lợi nhuận cho mình không phải nhờ sức lao động của nhân công mà nhờ tài sản của chính mình, trong khi về cơ bản, người lao động rất khác với tài sản thông thường thể hiện trong các khía cạnh sau : - Người lao động có thể dễ dàng di chuyển từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác, việc di chuyển nhiều hay ít phụ thuộc chủ yếu vào bản thân người lao động hay nói một cách khác là phụ thuộc vào lòng trung thành giữa người lao động và doanh nghiệp.
Điều này chứng tỏ rằng doanh nghiệp không thể coi người lao động là tài sản của mình và doanh nghiệp không thể sở hữu người lao động như sở hữu các tài sản thông thường khác. - Tài sản là bị động, được mua, bán, thay thế do suy nghĩ chủ quan của người chủ sở hữu nó; người lao động thì ngược lại, họ có tính chủ động ngày càng tăng trong suốt thời kỳ làm việc của họ. - Các tài sản thông thường của doanh nghiệp được phản ánh một cách đầy đủ trong kế toán, tuy nhiên đối với tài sản người lao động, hiện nay hệ thống kế toán vẫn chưa thể gắn giá trị tài chính với nguồn nhân lực. Nếu con người là tài sản thì các nhà quản lý rõ ràng là ở vị trí người điều khiển.
Như vậy, quan niệm người lao động là tài sản đã duy trì mãi hố sâu ngăn cách giữa lao động chân tay và lao động trí óc.2 Khái niệm về vốn nhân lực 1.1- Khái niệm về vốn nhân lực Thuật ngữ vốn nhân lực xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1961 trong bài báo “đầu tư vào vốn nhân lực “được đăng trong tạp chí Kinh tế học Hoa kỳ của Nhà 11 kinh tế học được giải thưởng Nobel là Theodore W. Schultz, sau đó được phát triển tiếp bằng các nghiên cứu của nhiều tác giả khác. Đa số các tác giả đều chấp nhận rằng vốn nhân lực bao gồm các kỹ năng, kinh nghiệm và kiến thức [85], hay theo nghiên cứu trong tác phẩm “Kinh tế học lao động“ của Borjas vào năm 1996, mỗi người đều mang vào thị trường lao động một tập hợp nhất định các khả năng và các kỹ năng thu được hay còn gọi là vốn nhân lực. Như vậy, vốn nhân lực theo quan niệm của các tác giả trên bao gồm các kiến thức, kỹ năng thu được thông qua đào tạo chính quy tại các trường, kinh nghiệm thu được trong quá trình làm việc trong thị trường lao động và khả năng bẩm sinh của người lao động cũng là một thành phần quan trọng của vốn nhân lực.
Ngoài kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và khả năng bẩm sinh của con người, có nhiều quan điểm cho rằng sức khoẻ của người lao động cũng là một thành phần của vốn nhân lực. Trong nghiên cứu về "Vốn nhân lực của người nghèo ở Việt Nam- tình hình và các lựa chọn về chính sách" vào năm 2001, Indu Bhushan và các cộng sự đã cho rằng “vốn nhân lực là tiềm năng và khả năng phát huy tiềm năng về sức khoẻ và kiến thức của các cá nhân, cái sẽ mang lại lợi ích trong tương lai hay "vốn con người là kết quả quá trình đầu tư vào các hoạt động nhằm nâng cao năng suất lao động cá nhân như giáo dục, y tế, đào tạo tại chỗ…" [17]. Có thể thấy rằng vốn nhân lực là một khái niệm được sử dụng rộng rãi với các định nghĩa hết sức phức tạp và khác nhau. Trong những bối cảnh nhất định, nó có thể chỉ bao gồm việc học tập chính quy tại trường đào tạo, trong khi ở một số bối cảnh khác, nó có thể bao gồm sự đầu tư tác động đến sức khoẻ và năng suất của con người, của doanh nghiệp và của cả quốc gia.
Điều này có thể bao gồm việc đầu tư vào sức khoẻ và dinh dưỡng cũng như đào tạo nghề bên cạnh hệ thống giáo dục phổ thông [36]. Trong những năm gần đây, ngày càng có sự quan tâm đến vốn nhân lực và coi đó như là động cơ cho tăng trưởng kinh tế và gắn kết xã hội. Chính vì vậy, vào năm 2002 khi thảo luận về những yêu cầu cho tăng trưởng kinh tế, các bộ trưởng của các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển châu âu (OECD) đã nhấn mạnh 12 đến tầm quan trọng của việc đầu tư vào vốn nhân lực. Có rất nhiều lý do xác đáng cho vấn đề này, nhất là các bằng chứng cho thấy giáo dục và đào tạo, hai nhân tố chính của vốn nhân lực, có liên quan chặt chẽ đến việc cải thiện các kết quả kinh tế [78].
Thông qua việc đầu tư vào giáo dục có thể tác động tích cực đến sức khoẻ [17]. Mặt khác, nhiều nghiên cứu cũng đã cho thấy giáo dục, đào tạo có nhiều hiệu ứng ngoại sinh trong đó có sự tác động vào sức khoẻ cá nhân và sức khoẻ của các thành viên trong gia đình. Điều này là do những người lao động được giáo dục nhiều sẽ có những hành vi tìm kiếm sức khoẻ trong cộng đồng tốt hơn những người ít được giáo dục, mặt khác những người được đào tạo nhiều hơn thường có thu nhập cao hơn những người ít được đào tạo vì vậy họ có điều kiện hơn để chăm sóc sức khoẻ cho bản thân và gia đình [1]. Chính vì lý do này, trong luận án chỉ nghiên cứu các thành phần quan trọng nhất của vốn nhân lực là kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và khả năng bẩm sinh của người lao động và coi việc nâng cao các yếu tố này tất yếu sẽ dẫn đến nâng cao sức khoẻ cho người lao động.
Với quan niệm như trên, vốn nhân lực là tổng hợp các kỹ năng, kỹ xảo của người lao động ; kinh nghiệm nghề nghiệp ; trình độ đào tạo và những khả năng có thể khai thác của người lao động [21]. Vốn nhân lực không phải là cái sẽ có mà đã có sẵn của người lao động, tức là cái có thể bán được. Như vậy, vốn nhân lực của các doanh nghiệp may có thể hiểu là các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm nghề nghiệp, trình độ đào tạo và những khả năng có thể khai thác của đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và công nhân kỹ thuật trong các doanh nghiệp may.2- Quan niệm người lao động là nhà đầu tư Giống như ý tưởng người lao động là tài sản, hình ảnh người lao động là nhà đầu tư không phải hoàn toàn mới. Trong tác phẩm “ Sự giàu có của Quốc gia“ được xuất bản vào năm 1776, khi so sánh con người với máy móc, Adam Smith đã đi sâu hơn khi nói rằng : “ Công việc mà anh ta học để thực hiện, đó phải là công việc được kỳ vọng, có mức lương ở trên và cao hơn lao động bình thường, sẽ thay thế cho anh ta tất cả các chi phí để giáo dục anh ta cộng với mức lợi nhuận bình thường 13 tối thiểu có giá trị bằng vốn tương đương.” Nói một cách khác, Smith đã nói rằng cá nhân hành động như một nhà đầu tư.
Anh ta tích luỹ vốn cá nhân (sự khéo léo và kỹ năng giỏi đã được đề cập ở trên) trong suy nghĩ của anh ta và cố gắng đầu tư nó một cách khôn ngoan, tiết kiệm nó và triển khai nó với những lợi thế tốt nhất. Mặt khác, có thể thấy rằng trong những thời kỳ kinh tế ổn định, tỷ lệ thất nghiệp sẽ ở mức thấp, khi đó, người lao động, những người chủ thực sự của vốn nhân lực có quyền lực cao hơn trên thị trường, họ sẽ không cư xử giống như tài sản.