Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Chương 2: Những vấn đề lý luận về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Chương 3: Quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng của Tòa án nhân dân cấp tỉnh tại miền Đông Nam Bộ Chương 4: Các yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh 10 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƢỚC Điều 2, Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001 quy định: "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp" [82]. Cụ thể hóa Hiến pháp năm 1992, Điều 2 Luật Tổ chức TAND năm 2002 quy định: Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.
Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, có ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác trong xã hội [83]. Hoạt động XXST VAHS của TAND cấp tỉnh là một cấp xét xử trong tố tụng hình sự. Hoạt động này được chuyển tiếp sau hoạt động điều tra, truy tố.
Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của TAND cấp tỉnh được thực hiện bởi hoạt động chuẩn bị xét xử và hoạt động xét xử tại phiên tòa. Đây là một chuỗi mắt xích trong hoạt động tố tụng hình sự. Bản án của tòa án tuyên sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đến quyền con người. Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 về "Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới" và Nghị quyết số 49-NQ-TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
11 Từ thực tiễn hoạt động xét xử sơ thẩm VAHS c ng như thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự của TAND còn gặp một số tồn tại và hạn chế. Trước thực trạng trên, đã có rất nhiều bài viết c ng như các công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp nói chung c ng như hoạt động xét xử của cơ quan Tòa án nói riêng. Cụ thể qua các nhóm chuyên đề sau đây. Nhóm công trình nghiên cứu lý luận và những quy định chung liên quan đến hoạt động xét xử sơ thẩm Hoạt động xét xử là quá trình áp dụng pháp luật đặc thù, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với thực tiễn.
Chất lượng hoạt động xét xử sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân. Hiện nay, có không ít các bài viết, các đề tài nghiên cứu về lý luận hoạt động xét xử VAHS của TAND ở Việt Nam, cụ thể: GS.TS Võ Khánh Vinh có công trình: "Giáo trình các cơ quan bảo vệ pháp luật", Nhà xuất bản Công an nhân dân phát hành năm 2003, bao gồm 15 chương. Nội dung của sách chuyên khảo này đã phân tích một cách cụ thể các khái niệm cơ bản về đối tượng và hệ thống môn học các cơ quan bảo vệ pháp luật; pháp luật về các cơ quan bảo vệ pháp luật; quyền tư pháp và hệ thống cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Trong chương 4, tác giả đã nhấn mạnh đến hoạt động xét xử của Tòa án và các nguyên tắc của xét xử của TAND; đề cập đến vai trò và chức năng xét xử của TAND; cơ chế đảm bảo cho hoạt động của TAND; những yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động xét xử của TAND.
Ngoài ra, sách chuyên khảo "Cơ chế đảm bảo và bảo vệ quyền con người", Nhà xuất bản Khoa học xã hội, xuất bản năm 2011, do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, công trình này bao gồm nhiều bài viết liên quan đến cơ chế bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử như: "Hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam thông qua nguyên tắc suy đoán vô tội và "cơ chế bảo đảm quyền con người bằng Tòa án ở Việt Nam" [144]; Sách "Nguyên tắc công bằng trong luật tố tụng hình sự Việt 12 Nam", Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 1994 [139]. Qua nghiên cứu các công trình của GS.TS Võ Khánh Vinh đã giúp cho tác giả hiểu thêm chính sách pháp luật về hình sự và tố tụng hình sự, cơ chế hoạt động của các cơ quan tư pháp của nước ta c ng như lý luận cơ bản liên quan đến hoạt động xét xử, vai trò của TAND trong hệ thống cơ quan tư pháp của nước ta hiện nay. Ngoài những công trình của GS,TS Võ Khánh Vinh còn có một số bài viết liên quan đến hoạt động các cơ quan tư pháp của GS.TSKH Lê Cảm, như: "Bàn về tổ chức quyền tư pháp - Nội dung cơ bản của chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020", Tạp chí Kiểm sát, số 23, 2005 [15], "Các yêu cầu bảo đảm cho hoạt động của hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9, 2006 [17], "Các bộ phận cấu thành cơ bản của hệ thống tư pháp hình sự", Tạp chí TAND, số 20, 2008 [18] và "Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền một số vấn đề cơ bản", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10, 2010 [19], các bài viết của GS.TSKH Lê Cảm đã phân tích vai trò, ý nghĩa của công tác kiểm tra, giám sát trong hoạt động tố tụng hình sự mang tính tất yếu để thực hiện quyền lực nhà nước, thực trạng cơ chế kiểm tra, giám sát trong tố tụng hình sự, phương hướng hoàn thiện cơ chế này. Ngoài ra, tác giả còn phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp ở nước ta, trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân trong việc bảo đảm hiệu quả hoạt động và tính độc lập của các cơ quan tư pháp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
Cùng với nhóm các công trình trên còn có các bài viết "Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn", của PGS,TS. Nguyễn Thái Phúc, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 5, 2007 [69], tác giả đã khái quát được mô hình tố tụng hình sự nước ta vừa có nét của mô hình tố tụng thẩm vấn vừa có nét của mô hình tố tụng tranh tụng. Tác giả đã cho rằng, mô hình tố tụng pha trộn của nước ta đã phát huy được những ưu 13 điểm của các mô hình tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn. Bên cạnh đó tác giả c ng phân tích được một số bất cập về tố tụng hình sự ở nước ta c ng như phương hướng hoàn thiện theo tinh thần cải cách tư pháp đến năm 2020.
C ng liên quan đến mô hình tố tụng còn có các bài viết của GS.TSKH Đào Trí Úc "Bàn về tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa", Tạp chí Luật học, số 08, 2010 [132], "Cải cách tư pháp và hoàn thiện nguyên tắc trong tố tụng hình sự", Tạp chí Kiểm sát, số 8, 2012 [134], "Cải cách tư pháp và chống oan sai", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 07, 2013 [135], tác giả phân tích một cách chi tiết về thực trạng hoạt động tố tụng hình sự Việt Nam đồng thời phân tích các nguyên tắc, chức năng trong tố tụng hình sự Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp nước ta đến năm 2020. "Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng" của GS.TSKH Lê Cảm, Tạp chí Luật học, số 2, 2004 [14], tác giả đã phân tích hoạt động xét xử là giai đoạn thứ tư và cuối cùng, trung tâm và quan trọng nhất của hoạt động tố tụng hình sự. Tác giả đã phân tích ý nghĩa pháp lý của các giai đoạn tố tụng. Trong giai đoạn xét xử, tác giả phân tích rằng: quá trình thực hiện chuẩn bị xét xử, Tòa án có thẩm quyền sẽ căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự để có thể ban hành các quyết định như: trả hồ sơ điều tra bổ sung, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử…, tác giả c ng nhấn mạnh: hoạt động xét xử là quá trình tranh tụng công khai và dân chủ của hai bên buộc tội và bào chữa TA phán xét vấn đề tính chất tội phạm hay không của hành vi đồng thời tuyên một người có tội hay không có tội.
Như vậy, từ các bài viết, công trình của các tác giả đã nghiên cứu về hoạt động xét xử thì có thể khẳng định rằng: hoạt động xét xử là chức năng quan trọng nhất của Tòa án nói riêng và của toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự nói chung. Hoạt động này nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các quyết 14 định mà Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã truy tố trước khi chuyển VAHS sang Tòa án. Ngoài ra, hoạt động xét xử còn nhằm loại trừ những hậu quả tiêu cực của các sơ suất, sai lầm hoặc sự lạm dụng đã bị bỏ lọt trong các giai đoạn tố tụng hình sự trước đó khởi tố, điều tra và truy tố. C ng liên quan đến lý luận về hoat động xét xử có những bài viết đã đề cập đó là: "Bàn về giới hạn của việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ", của PGS.TS Phạm Hồng Hải, Tạp chí Luật học, số 04, 1998 [39]; "Về giới hạn xét xử trong Bộ luật tố tụng hình sự và những vấn đề cần được sửa đổi, bổ sung", của TS.