Luận án tiến sĩ luật học: Pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Luận án tiến sĩ luật học nghiên cứu pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa học cho vấn đề thực tiễn.

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ
167
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Cơ sở lý thuyết và câu hỏi nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT GÓP VỐN BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

2.1. Khái quát về góp vốn bằng quyền sử dụng đất

2.2. Những vấn đề cơ bản của pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Thực trạng các quy định pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất

3.2. Thực trạng thực thi pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất

4. CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM

4.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất

4.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu

Luận án tiến sĩ luật học tập trung vào pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất, một chủ đề có tính thời sự và thực tiễn cao. Phần tổng quan nghiên cứu đã khái quát các công trình liên quan đến góp vốn bằng quyền sử dụng đất từ năm 1977 đến nay. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào khía cạnh kinh tế và pháp lý của vấn đề này. Luận án kế thừa và phát triển các nghiên cứu này, đồng thời chỉ ra những khoảng trống cần được giải quyết. Cơ sở lý thuyết của luận án dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và các chính sách của Đảng, Nhà nước về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường.

1.1. Nghiên cứu lý luận về góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Các nghiên cứu trước đây đã xác định góp vốn bằng quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên tuân theo quy định của pháp luật đất đaiBộ luật Dân sự. Đối tượng góp vốn là quyền sử dụng đất, không phải đất đai. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, góp vốn bằng quyền sử dụng đất không làm thay đổi hình thức sở hữu đất đai. Giá trị quyền sử dụng đất được các bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn giá đất do Nhà nước quy định.

1.2. Phân biệt góp vốn bằng quyền sử dụng đất với các hình thức góp vốn khác

Góp vốn bằng quyền sử dụng đất khác biệt với các hình thức góp vốn khác như góp vốn bằng hiện vật hoặc quyền hưởng dụng. Các tiêu chí phân biệt bao gồm đối tượng góp vốn, thủ tục định giá tài sản, và quyền nghĩa vụ của các bên. Tuy nhiên, vẫn còn sự khác biệt trong cách hiểu về đối tượng góp vốn là quyền sử dụng đất hay giá trị của nó.

II. Những vấn đề lý luận về pháp luật góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Luận án đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về pháp luật góp vốn bằng quyền sử dụng đất, bao gồm khái niệm, đặc điểm, và vai trò của hình thức góp vốn này. Góp vốn bằng quyền sử dụng đất được xem là một hình thức tạo vốn quan trọng trong điều kiện vốn đầu tư trong nước còn hạn chế. Luận án cũng phân tích các yếu tố chi phối đến pháp luật góp vốn bằng quyền sử dụng đất, bao gồm các quy định về hình thức góp vốn, chủ thể góp vốn, và thủ tục góp vốn.

2.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Pháp luật góp vốn bằng quyền sử dụng đất được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Đặc điểm của pháp luật này là sự kết hợp giữa các quy định của pháp luật đất đai, Bộ luật Dân sự, và Luật Doanh nghiệp. Luận án cũng chỉ ra rằng, pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất cần được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

2.2. Vai trò của góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Góp vốn bằng quyền sử dụng đất có vai trò quan trọng trong việc khai thác và sử dụng đất đai hiệu quả. Hình thức này giúp các doanh nghiệp Việt Nam huy động vốn trong điều kiện vốn đầu tư trong nước còn hạn chế. Ngoài ra, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn góp phần hình thành các liên doanh giữa doanh nghiệp Việt Nam và các tổ chức, cá nhân nước ngoài.

III. Thực trạng pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay

Luận án phân tích thực trạng pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất ở Việt Nam, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của các quy định hiện hành. Mặc dù Luật Đất đai đã được sửa đổi nhiều lần, nhưng vẫn còn nhiều bất cập trong việc điều chỉnh quan hệ góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Các quy định về thủ tục góp vốn, xử lý quyền sử dụng đất khi chấm dứt góp vốn còn chưa rõ ràng, dẫn đến nhiều khó khăn trong thực tiễn.

3.1. Thực trạng các quy định pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Các quy định hiện hành về góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn thiếu đồng bộ và thống nhất. Sự không thống nhất giữa Luật Đất đai, Bộ luật Dân sự, và Luật Doanh nghiệp đã ảnh hưởng đến hiệu quả của việc góp vốn. Luận án chỉ ra rằng, cần có sự điều chỉnh pháp luật để tạo điều kiện thuận lợi cho việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

3.2. Thực trạng thực thi pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Thực tiễn thực thi pháp luật góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn nhiều hạn chế. Các vụ việc chuyển nhượng vốn góp bằng quyền sử dụng đất như Khách sạn Fortuna và Khu công nghiệp Sài Đồng B đã đặt ra nhiều vấn đề pháp lý cần giải quyết. Luận án đề xuất cần hoàn thiện pháp luật để nâng cao hiệu quả thực thi.

IV. Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất ở Việt Nam

Luận án đưa ra các định hướng và giải pháp để hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Các giải pháp tập trung vào việc thống nhất các quy định pháp luật, cải thiện thủ tục góp vốn, và xử lý hiệu quả các vấn đề phát sinh khi chấm dứt góp vốn. Luận án cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất, và các bên liên quan.

4.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Định hướng hoàn thiện pháp luật góp vốn bằng quyền sử dụng đất bao gồm việc thống nhất các quy định pháp luật, đơn giản hóa thủ tục góp vốn, và tăng cường hiệu quả thực thi. Luận án đề xuất cần có sự điều chỉnh pháp luật để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

4.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Các giải pháp cụ thể bao gồm hoàn thiện quy định về quyền sử dụng đất, cải thiện thủ tục góp vốn, và xử lý hiệu quả các vấn đề phát sinh khi chấm dứt góp vốn. Luận án cũng đề xuất cần tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ luật học pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 04 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu Chƣơng 2: Những vấn đề lý luận pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất Chƣơng 3: Thực trạng pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất ở Việt Nam 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Góp vốn bằng QSDĐ đƣợc ghi nhận từ năm 1977 nhƣng đến Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam năm 1987, góp vốn bằng QSDĐ mới đƣợc triển khai trên thực tế. Là một hình thức góp vốn, nên góp vốn bằng QSDĐ đƣợc tiếp cận trên cả phƣơng diện kinh tế và pháp lý. Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về góp vốn bằng QSDĐ đƣợc công bố trên các tạp chí, báo cáo khoa học, đề tài nghiên cứu, luận án tiến sĩ, thạc sĩ, sách chuyên khảo.

Trong đó, chủ yếu các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài về kinh tế học, luật học đƣợc thực hiện trƣớc Luật Đất đai năm 2013. Việc khảo cứu và tìm hiểu các công trình khoa học liên quan đến đề tài có ý nghĩa quan trọng, bởi những công trình này ngoài việc đặt nền móng cho việc nghiên cứu đề tài, còn gợi mở những vấn đề tiếp theo cần phải giải quyết. Những nghiên cứu lý luận về pháp luật góp vốn bằng quyền sử dụng đất 1. Nghiên cứu lý luận về góp vốn bằng quyền sử dụng đất Thứ nhất, khái niệm và đặc trưng của g p vốn bằng quyền sử dụng đất Luận án Tiến sĩ luật học (2003) Địa vị pháp lý của người sử dụng đất trong các giao dịch dân sự, thương mại về đất đai , tác giả Nguyễn Quang Tuyến cho rằng, góp vốn bằng giá trị QSDĐ là sự thỏa thuận giữa các bên tuân theo điều kiện, nội dung, hình thức chuyển QSDĐ đƣợc Bộ luật Dân sự và pháp luật đất đai quy định, theo đó, ngƣời sử dụng đất góp phần vốn của mình bằng giá trị QSDĐ để hợp tác sản xuất, kinh doanh với hộ gia đình, cá nhân, tổ chức khác ở trong nƣớc hoặc tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài [111, tr.

Luận văn Thạc sĩ luật học G p vốn bằng quyền sử dụng đất tại Việt Nam (2009) của Hồng Vân và G p vốn bằng QSDĐ trong hoạt động sản 6 xuất kinh doanh (2013) của Lê Văn Hùng có đƣa ra khái niệm góp vốn bằng QSDĐ. Theo tác giả Lê Văn Hùng: G p vốn bằng QSDĐ là sự thỏa thuận giữa các bên tuân theo điều kiện, nội dung, hình thức, chuyển QSDĐ được Bộ luật Dân sự và pháp luật về đất đai quy định, theo đ người sử dụng đất g p phần vốn của mình bằng QSDĐ để sản xuất kinh doanh với hộ gia đình, cá nhân, tổ chức khác ở trong nước hoặc ngoài nước [55, tr. Ngoài ra, Từ điển Luật học do Viện Khoa học pháp lý Bộ Tƣ pháp biên soạn, Nxb. Tƣ pháp (2006) [122], Giáo trình Luật Đất đai của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội do TS.

Trần Quang Huy chủ biên, Nxb. Tƣ pháp (2013) cũng đề cập khái niệm góp vốn bằng QSDĐ. Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đều cho rằng, góp vốn bằng QSDĐ có các đặc trƣng nhƣ: (i) Đối tƣợng của góp vốn là QSDĐ không phải là đất đai; (ii) Góp vốn bằng QSDĐ không làm thay đổi hình thức sở hữu đất đai; (iii) Giá trị QSDĐ do các bên thỏa thuận nhƣng không đƣợc thấp hơn giá đất do Nhà nƣớc ban hành [116, tr. Thứ hai, phân biệt g p vốn bằng quyền sử dụng đất với các hình thức g p vốn khác Trong một số công trình nghiên cứu về góp vốn thành lập công ty nhƣ: Luận án Tiến sĩ luật học Xác lập, thực hiện và chấm dứt quyền sở hữu tài sản của công ty đối vốn ở nước ta (2001) của Lê Thị Châu [14], Hợp đồng thành lập công ty ở Việt Nam (2004) của Ngô Huy Cƣơng [22]; các luận văn thạc sĩ luật học G p vốn thành lập công ty theo pháp luật Việt Nam (2009) của Phạm Tuấn Anh [4], Pháp luật Việt Nam về g p vốn thành lập doanh nghiệp (2013) của Nguyễn Thị Thu Hà [47], G p vốn và hậu quả pháp lý của hành vi g p vốn theo pháp luật Việt Nam (2015) của Lƣu Thu Hà [48]; các tác giả cho rằng, góp vốn bằng QSDĐ là một hình thức góp vốn riêng, khác với góp vốn bằng hiện vật và quyền hƣởng dụng.

Các tác giả cũng đã đƣa ra các tiêu chí để phân biệt góp vốn bằng QSDĐ với các hình thức góp vốn khác, đó là: (i) Đối tƣợng góp vốn; (ii) Thủ tục, định giá tài sản góp vốn; (iii) Quyền và nghĩa vụ của các bên. Tuy nhiên, bên cạnh những nội dung thống nhất thì một số vấn đề còn có ý kiến khác nhau nhƣ: (i) Pháp luật hiện hành sử dụng cả thuật ngữ góp 7 vốn bằng QSDĐ và góp vốn bằng giá trị QSDĐ nên còn có cách hiểu khác nhau về đối tƣợng góp là QSDĐ hay giá trị QSDĐ ; (ii) Góp vốn bằng tài sản s dẫn tới chuyển quyền sở hữu tài sản từ bên góp vốn sang bên nhận góp vốn. QSDĐ là tài sản nhƣng khi góp vốn có thể chuyển QSDĐ hoặc không chuyển QSDĐ từ bên góp vốn sang bên nhận góp vốn. Thứ ba, vai trò của g p vốn bằng quyền sử dụng đất Trong một số công trình nghiên cứu về pháp luật góp vốn bằng QSDĐ, các tác giả có đề cập đến vai trò của góp vốn bằng QSDĐ.

Theo tác giả Lê Thị Diễm Phƣơng, góp vốn bằng QSDĐ là một hình thức tạo vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh; khai thác và sử dụng đất đai có hiệu quả [85]. Trong cuốn sách Vốn h a đất đai trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (2012) [15], PGS. Trần Thị Minh Châu cho rằng, góp vốn bằng QSDĐ góp phần hình thành các liên doanh, là hình thức huy động vốn trong điều kiện vốn đầu tƣ trong nƣớc còn hạn chế. Còn tác giả Nguyễn Thị Lan Đan cho rằng, góp vốn bằng QSDĐ góp phần đẩy nhanh tốc độ đền bù, giải phóng mặt bằng; làm tăng giá trị QSDĐ [29].

Góp vốn bằng QSDĐ giúp NSDĐ giải quyết nhu cầu về vốn; chuyển hóa QSDĐ thành nguồn vốn để phát triển kinh tế góp phần xóa đói giảm nghèo [55]. Nguyễn Thị Nga, góp vốn bằng QSDĐ là một trong những phƣơng cách để thu hút đầu tƣ, tạo nguồn lực cho đầu tƣ phát triển [71, tr. Theo các công trình nghiên cứu trên cho thấy, góp vốn bằng QSDĐ có các vai trò nhƣ: (i) Góp phần khai thác sử dụng đất đai có hiệu quả; (ii) Góp vốn bằng QSDĐ là hình thức tạo vốn trong điều kiện vốn đầu tƣ trong nƣớc còn hạn chế; (iii) Góp vốn bằng QSDĐ góp phần hình thành các liên doanh giữa doanh nghiệp Việt Nam với tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài. Nghiên cứu lý luận pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất Thứ nhất, khái niệm, đặc điểm của pháp luật g p vốn bằng quyền sử dụng đất Trong Giáo trình Luật Đất đai của Đại học Luật Hà Nội, Nxb.

Công an nhân dân, Hà Nội (2013), TS. Trần Quang Huy có đƣa ra khái niệm: 8 Pháp luật đất đai là tổng hợp các quy phạm mà Nhà nƣớc ban hành nhằm thiết lập quan hệ đất đai trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và sự bảo hộ đầy đủ của Nhà nƣớc đối với các quyền của ngƣời sử dụng đất tạo thành một ngành luật quan trọng trong hệ thống pháp luật của Nhà nƣớc ta [116, tr. Trong một số công trình nghiên cứu về từng chế định cụ thể của pháp luật đất đai nhƣ: Pháp luật về thế chấp bằng QSDĐ ở Việt Nam [70], Pháp luật về chuyển nhƣợng QSDĐ trong kinh doanh bất động sản [84] tác giả Nguyễn Thị Nga và Nguyễn Thị Hồng Nhung có đƣa ra khái niệm pháp luật thế chấp QSDĐ và chuyển nhƣợng QSDĐ. Cho đến nay, không có nhiều công trình nghiên cứu đƣa ra khái niệm pháp luật về góp vốn bằng QSDĐ.

Theo tác giả Nguyễn Thị Lan Đan, pháp luật về góp vốn bằng QSDĐ theo nghĩa rộng là tổng hợp quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau cùng điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình góp vốn bằng QSDĐ. Theo nghĩa hẹp, pháp luật về góp vốn bằng QSDĐ là hệ thống các quy phạm điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa bên góp vốn với bên nhận góp vốn trong giao kết và thực hiện hợp đồng góp vốn bằng QSDĐ, quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nƣớc có thẩm quyền trong việc đăng ký thay đổi NSDĐ, thay đổi vốn của doanh nghiệp [29]. Thứ hai, nội dung của pháp luật g p vốn bằng quyền sử dụng đất Trong phạm vi của luận án, pháp luật về góp vốn bằng QSDĐ đƣợc tiếp cận theo nghĩa hẹp. Theo đó, pháp luật về góp vốn bằng QSDĐ bao gồm các nội dung cơ bản nhƣ: Các hình thức góp vốn; quy định về QSDĐ góp vốn; chủ thể góp vốn; hợp đồng góp vốn; thủ tục góp vốn và việc xử lý QSDĐ khi chấm dứt góp vốn.

Trên phƣơng diện lý luận, một số công trình nghiên cứu có đề cập đến từng nội dung cụ thể của pháp luật về góp vốn bằng QSDĐ. Luận án Tiến sĩ luật học Pháp luật về thị trường quyền sử dụng đất - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện (2009) của Lƣu Quốc Thái [102], Quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực thực tiễn 9 (2011) của Nguyễn Thị Dung [25], “Pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong kinh doanh bất động sản ở Việt Nam (2012) của Nguyễn Thị Hồng Nhung [84], Chế độ pháp lý về sở hữu đối với đất đai hiện nay ở Việt Nam (2008) của Phạm Văn Võ [120], Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam (2010) của Lê Minh Hùng [54]. Các bài báo Quyền sử dụng đất - một khái niệm pháp lý, một khái niệm kinh tế của Lê Văn Tứ đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số 9/1997 [108], Một số vấn đề trong quy định pháp luật hợp đồng liên quan đến nhà và quyền sử dụng đất của Võ Đình Nho đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự, năm 2010 [82].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ luật học "Pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất" là một nghiên cứu chuyên sâu về các quy định pháp lý liên quan đến việc sử dụng quyền sử dụng đất như một hình thức góp vốn trong các hoạt động kinh tế. Tài liệu này không chỉ phân tích các khía cạnh pháp lý mà còn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành, giúp các nhà đầu tư, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước hiểu rõ hơn về cơ chế này. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến lĩnh vực đất đai và đầu tư kinh doanh.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học hợp đồng hợp tác thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng, nghiên cứu về thực trạng và áp dụng pháp luật trong hợp đồng hợp tác. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ luật học vi phạm hợp đồng hiệu quả watermark cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả của việc xử lý vi phạm hợp đồng. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học kê biên xử lý tài sản của người phải thi hành án đối với các bản án của toà án về hợp đồng tín dụng là tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về quy trình xử lý tài sản trong các hợp đồng tín dụng.