phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 04 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu Chƣơng 2: Những vấn đề lý luận pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất Chƣơng 3: Thực trạng pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất ở Việt Nam 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Góp vốn bằng QSDĐ đƣợc ghi nhận từ năm 1977 nhƣng đến Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam năm 1987, góp vốn bằng QSDĐ mới đƣợc triển khai trên thực tế. Là một hình thức góp vốn, nên góp vốn bằng QSDĐ đƣợc tiếp cận trên cả phƣơng diện kinh tế và pháp lý. Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về góp vốn bằng QSDĐ đƣợc công bố trên các tạp chí, báo cáo khoa học, đề tài nghiên cứu, luận án tiến sĩ, thạc sĩ, sách chuyên khảo.
Trong đó, chủ yếu các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài về kinh tế học, luật học đƣợc thực hiện trƣớc Luật Đất đai năm 2013. Việc khảo cứu và tìm hiểu các công trình khoa học liên quan đến đề tài có ý nghĩa quan trọng, bởi những công trình này ngoài việc đặt nền móng cho việc nghiên cứu đề tài, còn gợi mở những vấn đề tiếp theo cần phải giải quyết. Những nghiên cứu lý luận về pháp luật góp vốn bằng quyền sử dụng đất 1. Nghiên cứu lý luận về góp vốn bằng quyền sử dụng đất Thứ nhất, khái niệm và đặc trưng của g p vốn bằng quyền sử dụng đất Luận án Tiến sĩ luật học (2003) Địa vị pháp lý của người sử dụng đất trong các giao dịch dân sự, thương mại về đất đai , tác giả Nguyễn Quang Tuyến cho rằng, góp vốn bằng giá trị QSDĐ là sự thỏa thuận giữa các bên tuân theo điều kiện, nội dung, hình thức chuyển QSDĐ đƣợc Bộ luật Dân sự và pháp luật đất đai quy định, theo đó, ngƣời sử dụng đất góp phần vốn của mình bằng giá trị QSDĐ để hợp tác sản xuất, kinh doanh với hộ gia đình, cá nhân, tổ chức khác ở trong nƣớc hoặc tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài [111, tr.
Luận văn Thạc sĩ luật học G p vốn bằng quyền sử dụng đất tại Việt Nam (2009) của Hồng Vân và G p vốn bằng QSDĐ trong hoạt động sản 6 xuất kinh doanh (2013) của Lê Văn Hùng có đƣa ra khái niệm góp vốn bằng QSDĐ. Theo tác giả Lê Văn Hùng: G p vốn bằng QSDĐ là sự thỏa thuận giữa các bên tuân theo điều kiện, nội dung, hình thức, chuyển QSDĐ được Bộ luật Dân sự và pháp luật về đất đai quy định, theo đ người sử dụng đất g p phần vốn của mình bằng QSDĐ để sản xuất kinh doanh với hộ gia đình, cá nhân, tổ chức khác ở trong nước hoặc ngoài nước [55, tr. Ngoài ra, Từ điển Luật học do Viện Khoa học pháp lý Bộ Tƣ pháp biên soạn, Nxb. Tƣ pháp (2006) [122], Giáo trình Luật Đất đai của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội do TS.
Trần Quang Huy chủ biên, Nxb. Tƣ pháp (2013) cũng đề cập khái niệm góp vốn bằng QSDĐ. Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đều cho rằng, góp vốn bằng QSDĐ có các đặc trƣng nhƣ: (i) Đối tƣợng của góp vốn là QSDĐ không phải là đất đai; (ii) Góp vốn bằng QSDĐ không làm thay đổi hình thức sở hữu đất đai; (iii) Giá trị QSDĐ do các bên thỏa thuận nhƣng không đƣợc thấp hơn giá đất do Nhà nƣớc ban hành [116, tr. Thứ hai, phân biệt g p vốn bằng quyền sử dụng đất với các hình thức g p vốn khác Trong một số công trình nghiên cứu về góp vốn thành lập công ty nhƣ: Luận án Tiến sĩ luật học Xác lập, thực hiện và chấm dứt quyền sở hữu tài sản của công ty đối vốn ở nước ta (2001) của Lê Thị Châu [14], Hợp đồng thành lập công ty ở Việt Nam (2004) của Ngô Huy Cƣơng [22]; các luận văn thạc sĩ luật học G p vốn thành lập công ty theo pháp luật Việt Nam (2009) của Phạm Tuấn Anh [4], Pháp luật Việt Nam về g p vốn thành lập doanh nghiệp (2013) của Nguyễn Thị Thu Hà [47], G p vốn và hậu quả pháp lý của hành vi g p vốn theo pháp luật Việt Nam (2015) của Lƣu Thu Hà [48]; các tác giả cho rằng, góp vốn bằng QSDĐ là một hình thức góp vốn riêng, khác với góp vốn bằng hiện vật và quyền hƣởng dụng.
Các tác giả cũng đã đƣa ra các tiêu chí để phân biệt góp vốn bằng QSDĐ với các hình thức góp vốn khác, đó là: (i) Đối tƣợng góp vốn; (ii) Thủ tục, định giá tài sản góp vốn; (iii) Quyền và nghĩa vụ của các bên. Tuy nhiên, bên cạnh những nội dung thống nhất thì một số vấn đề còn có ý kiến khác nhau nhƣ: (i) Pháp luật hiện hành sử dụng cả thuật ngữ góp 7 vốn bằng QSDĐ và góp vốn bằng giá trị QSDĐ nên còn có cách hiểu khác nhau về đối tƣợng góp là QSDĐ hay giá trị QSDĐ ; (ii) Góp vốn bằng tài sản s dẫn tới chuyển quyền sở hữu tài sản từ bên góp vốn sang bên nhận góp vốn. QSDĐ là tài sản nhƣng khi góp vốn có thể chuyển QSDĐ hoặc không chuyển QSDĐ từ bên góp vốn sang bên nhận góp vốn. Thứ ba, vai trò của g p vốn bằng quyền sử dụng đất Trong một số công trình nghiên cứu về pháp luật góp vốn bằng QSDĐ, các tác giả có đề cập đến vai trò của góp vốn bằng QSDĐ.
Theo tác giả Lê Thị Diễm Phƣơng, góp vốn bằng QSDĐ là một hình thức tạo vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh; khai thác và sử dụng đất đai có hiệu quả [85]. Trong cuốn sách Vốn h a đất đai trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (2012) [15], PGS. Trần Thị Minh Châu cho rằng, góp vốn bằng QSDĐ góp phần hình thành các liên doanh, là hình thức huy động vốn trong điều kiện vốn đầu tƣ trong nƣớc còn hạn chế. Còn tác giả Nguyễn Thị Lan Đan cho rằng, góp vốn bằng QSDĐ góp phần đẩy nhanh tốc độ đền bù, giải phóng mặt bằng; làm tăng giá trị QSDĐ [29].
Góp vốn bằng QSDĐ giúp NSDĐ giải quyết nhu cầu về vốn; chuyển hóa QSDĐ thành nguồn vốn để phát triển kinh tế góp phần xóa đói giảm nghèo [55]. Nguyễn Thị Nga, góp vốn bằng QSDĐ là một trong những phƣơng cách để thu hút đầu tƣ, tạo nguồn lực cho đầu tƣ phát triển [71, tr. Theo các công trình nghiên cứu trên cho thấy, góp vốn bằng QSDĐ có các vai trò nhƣ: (i) Góp phần khai thác sử dụng đất đai có hiệu quả; (ii) Góp vốn bằng QSDĐ là hình thức tạo vốn trong điều kiện vốn đầu tƣ trong nƣớc còn hạn chế; (iii) Góp vốn bằng QSDĐ góp phần hình thành các liên doanh giữa doanh nghiệp Việt Nam với tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài. Nghiên cứu lý luận pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất Thứ nhất, khái niệm, đặc điểm của pháp luật g p vốn bằng quyền sử dụng đất Trong Giáo trình Luật Đất đai của Đại học Luật Hà Nội, Nxb.
Công an nhân dân, Hà Nội (2013), TS. Trần Quang Huy có đƣa ra khái niệm: 8 Pháp luật đất đai là tổng hợp các quy phạm mà Nhà nƣớc ban hành nhằm thiết lập quan hệ đất đai trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và sự bảo hộ đầy đủ của Nhà nƣớc đối với các quyền của ngƣời sử dụng đất tạo thành một ngành luật quan trọng trong hệ thống pháp luật của Nhà nƣớc ta [116, tr. Trong một số công trình nghiên cứu về từng chế định cụ thể của pháp luật đất đai nhƣ: Pháp luật về thế chấp bằng QSDĐ ở Việt Nam [70], Pháp luật về chuyển nhƣợng QSDĐ trong kinh doanh bất động sản [84] tác giả Nguyễn Thị Nga và Nguyễn Thị Hồng Nhung có đƣa ra khái niệm pháp luật thế chấp QSDĐ và chuyển nhƣợng QSDĐ. Cho đến nay, không có nhiều công trình nghiên cứu đƣa ra khái niệm pháp luật về góp vốn bằng QSDĐ.
Theo tác giả Nguyễn Thị Lan Đan, pháp luật về góp vốn bằng QSDĐ theo nghĩa rộng là tổng hợp quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau cùng điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình góp vốn bằng QSDĐ. Theo nghĩa hẹp, pháp luật về góp vốn bằng QSDĐ là hệ thống các quy phạm điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa bên góp vốn với bên nhận góp vốn trong giao kết và thực hiện hợp đồng góp vốn bằng QSDĐ, quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nƣớc có thẩm quyền trong việc đăng ký thay đổi NSDĐ, thay đổi vốn của doanh nghiệp [29]. Thứ hai, nội dung của pháp luật g p vốn bằng quyền sử dụng đất Trong phạm vi của luận án, pháp luật về góp vốn bằng QSDĐ đƣợc tiếp cận theo nghĩa hẹp. Theo đó, pháp luật về góp vốn bằng QSDĐ bao gồm các nội dung cơ bản nhƣ: Các hình thức góp vốn; quy định về QSDĐ góp vốn; chủ thể góp vốn; hợp đồng góp vốn; thủ tục góp vốn và việc xử lý QSDĐ khi chấm dứt góp vốn.
Trên phƣơng diện lý luận, một số công trình nghiên cứu có đề cập đến từng nội dung cụ thể của pháp luật về góp vốn bằng QSDĐ. Luận án Tiến sĩ luật học Pháp luật về thị trường quyền sử dụng đất - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện (2009) của Lƣu Quốc Thái [102], Quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực thực tiễn 9 (2011) của Nguyễn Thị Dung [25], “Pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong kinh doanh bất động sản ở Việt Nam (2012) của Nguyễn Thị Hồng Nhung [84], Chế độ pháp lý về sở hữu đối với đất đai hiện nay ở Việt Nam (2008) của Phạm Văn Võ [120], Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam (2010) của Lê Minh Hùng [54]. Các bài báo Quyền sử dụng đất - một khái niệm pháp lý, một khái niệm kinh tế của Lê Văn Tứ đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số 9/1997 [108], Một số vấn đề trong quy định pháp luật hợp đồng liên quan đến nhà và quyền sử dụng đất của Võ Đình Nho đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự, năm 2010 [82].