mở đầu, các tội xúc phạm đến người đầu làng, các tội của người trưởng buôn, các vi phạm lợi ích công cộng, về hôn nhân, quan hệ cha mẹ - con cái, tội gian dâm, các trọng tội, của cải, tài sản, gia súc, vv. Đây cũng là một trong những cuốn khá hoàn chỉnh so với luật tục Êđê được xuất bản trước đó. Bộ luật tục M‟nông bao gồm 215 điều và chia thành 8 chương về các tội xét xử, về quan hệ với thủ l nh, quan hệ cộng đồng, phong tục tập quán, hôn nhân và quan hệ nam nữ, quan hệ gia đình, quan hệ sở hữu và việc xâm phạm thân thể người khác [66, 18]. Trong số các công trình nghiên cứu về luật tục Tây Nguyên, còn hai công trình nữa đã được thực hiện, đó là công trình luật tục các dân tộc Nam Tây Nguyên (Xtiêng, Mạ, Koho) do Ngô Đức Thịnh chủ biên và Luật tục Jrai do Phan Đăng Nhật chủ trì.
Cuốn Luật tục Jrai của Phan Đăng Nhật tập hợp luật tục của các nhóm người Jrai ở nhiều địa bàn khác nhau như Cheo Reo (Pleiku), Chư Pah, Chư Prông (Gia Lai). Luật tục Cheo Reo có 65 điều, luật tục Chư Pah có 41 điều, luật tục Chư Prông có 14 điều. Về cấu trúc, cuốn sách này cũng chia Luật tục thành các chương cụ thể như: chương quy định chung, tranh chấp tài sản, trật tự an ninh - xã hội, hôn nhân, quan hệ gia đình và việc không tôn trọng phong tục tập quán. Khác với Tây Nguyên, luật tục của các tộc người thiểu số ở miền núi phía Bắc chưa được quan tâm khảo cứu nhiều.
Trước đây chỉ có một số tư liệu liên quan đến luật tục của người Thái, người Mường được công bố trong công trình nghiên cứu của Đặng Nghiêm Vạn. Phải đến năm 1999 mới có một sách chuyên khảo về Luật tục Thái được tập thể tác giả là Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng công bố. Với độ dày hơn 1000 trang, đây là bộ Luật tục đầy đủ nhất cho tới nay của dân tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam, được người Thái ghi chép lại bằng chữ Thái cổ, đề cập tới luật lệ Bản Mường, đạo làm người và tục lệ cưới xin, ma chay của người Thái đen và Thái trắng. Luật tục Thái cung cấp cho ta một dạng luật đã được ghi chép thành văn 17 bản, khác với luật tục của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.
Luật tục Thái phần lớn được văn bản hóa và thường mang một cái tên chung là “Hịt khoong” (Luật lệ bản mường). Nội dung của luật tục Thái đề cập tới nhiều vấn đề khác nhau của đời sống tộc người, liên quan tới cộng đồng mường bản và đời sống cá nhân mỗi con người trong cộng đồng đó. Luật tục Thái được chia thành hai phần rõ rệt: Phần luật mường và phần tục lệ liên quan đến đạo đức, nghi lễ, cưới xin, ma chay. Cuốn “Luật tục với đời sống” của tác giả Phan Đăng Nhật, đã luận giải luật tục các dân tộc Việt Nam và giới thiệu minh chứng nội dung luật tục JRai trên một số l nh vực liên quan của đời sống xã hội [53].
Nghiên cứu về luật tục nói chung, chúng ta không thể không nói đến cuốn “Tìm hiểu luật tục các tộc người ở Việt Nam” của Ngô Đức Thịnh (Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội, 2003). Cuốn sách đã cho chúng ta thấy một cách khái quát nhất và cơ bản nhất về luật tục của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam như về góc độ tiếp cận của luật tục, nguồn gốc và bản chất của luật tục, các hình thức phát triển của luật tục, việc thực thi luật tục, luật tục và luật pháp. Ngoài ra, cuốn sách còn có phần giới thiệu về luật tục của một số tộc người cụ thể như: Luật tục Êđê, Luật tục M‟nông, Luật tục Thái và Hương ước của người Việt, coi đó như là những đại diện cho các hình thức và trình độ phát triển khác nhau của luật tục các tộc người ở Việt Nam. Cùng với việc nghiên cứu luật tục nói chung, công trình “Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam” có nhiều bài nghiên cứu về luật tục trên nhiều phương diện lý luận cũng như thực tiễn, quan điểm, cách tiếp cận khác nhau [69].
Nguyễn Duy Quý - Luật tục và chiến lược phát triển nông thôn ở Việt Nam; Mạc Đường - Sự tiếp cận nghiên cứu và xử lý luật tục để phát triển nông thôn vùng dân tộc thiểu số Tây Nguyên; Hà Quế Lâm - Hướng đi đến bảo tồn và duy trì Luật tục ở Việt Nam; Phan Đăng Nhật - Nguồn gốc và bản chất luật tục Tây Nguyên; Nguyễn Thị Hiền - Một số quan niệm và phương pháp tiếp cận luật tục; Tô Đông Hải - Luật tục với việc sở hữu đất đai, rừng núi ở người Raglai xã Cụm Bắc, huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa; Chamaliaq Tiến - Luật tục Raglai với các vấn đề liên quan đến gia súc. 18 Liên quan đến vấn đề mối quan hệ giữ luật tục và luật pháp cũng có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến, như: “Một số vấn đề về luật tục và luật pháp ở Đắc Lắc hiện nay” của Hoàng Thị Kim Quế; “Giá trị của luật tục nhìn từ góc độ pháp lý” của Nguyễn Thị Việt Hương; “So sánh luật tục Êđê và luật tục M’nông với một số vấn đề trong luật pháp hiện hành” của Trần Đình Long…. Ngoài những công trình nghiên cứu trên, cũng có một số luận văn, luận án viết về luật tục. Luận văn thạc s “Một số vấn đề về luật tục và mối quan hệ giữa luật tục và pháp luật ở Việt Nam” của Phan Bằng Sơn (Khoa luật, 2006.
- 107 tr) công trình đã khái quát được mối quan hệ giữa luật tục và các yếu tố tự nhiên - xã hội, những nét tương đồng và khác biệt cũng như sự tác động qua lại giữa luật tục và pháp luật. Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy tích cực của luật tục trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay. Công trình luận án tiến s về “Luật tục người Thái và sự vận dụng trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung bộ Việt Nam” của Vi Văn Sơn (2015), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Luận án tìm hiểu luật tục người Thái, tập trung phân tích, đánh giá những giá trị xã hội của luật tục người Thái, nhằm tìm ra những khả năng có thể vận dụng trong quản lý nhà nước ở cơ sở đối với cộng đồng người Thái.
Trên cơ sở đó đề xuất những quan điểm và giải pháp vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ở cơ sở đối với cộng đồng người Thái Bắc Trung Bộ Việt Nam, góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa, luật tục người Thái trong điều kiện hiện nay. Tình hình nghiên cứu luật tục bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc thiểu ở Việt Nam. Ngoài các công trình nghiên cứu về luật tục nói chung, luật tục về bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng được nhiều tác giả quan tâm chú ý. Trong công trình “Luật tục với việc phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam”, Ngô Đức Thịnh dành một phần nói về luật tục trong việc quản lý và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên của các tộc người thiểu số ở Việt Nam nói chung.
Bài viết khẳng định một trong những vấn đề cơ bản nhất hiện nay đối với việc phát triển nông thôn, không kể ở miền núi hay miền xuôi, là vấn đề môi trường sống và việc quản lý, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Ngoài ra, tác giả 19 còn đề cập đến vấn đề luật tục và vấn đề sở hữu tài nguyên thiên nhiên. Vấn đề sở hữu tài nguyên thiên nhiên luôn là vấn đề có ý ngh a to lớn với sự tồn tại và phát triển của bất kỳ tộc người nào, ở bất kỳ chế độ xã hội nào. Xác định các quan hệ sở hữu đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên chính là nhân tố cơ bản để bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên ấy.
Xác định quan hệ sở hữu liên quan trực tiếp đến các hình thức tổ chức sản xuất và phân phối các nguồn của cải vật chất mà con người tạo ra. Tác giả nhấn mạnh việc luật tục của các dân tộc thiểu số khẳng định quyền sở hữu công cộng của cộng đồng buôn làng về đất canh tác, đất rừng, sông suối và các tài nguyên thuộc về lãnh thổ của làng buôn. Trong bài viết của tác giả Cầm Trọng với tiêu đề “Luật tục Thái với việc bảo vệ môi trường” [69, 356-369]. Với nguồn tư liệu phong phú thu thập được ở Tây Bắc, tác giả trình bày một cách có hệ thống các quy định của luật tục trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên.
Theo tác giả, đối với người Thái, quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên được quy định rất cụ thể trong luật tục. Những phép ứng xử này được tác giả phân thành từng mảng rõ rệt, từ vấn đề dẫn thủy nhập điền, bảo vệ các khu rừng thiêng, rừng cấm để nguồn nước không bị cạn kiệt trong mùa khô hanh và đối phó với lũ rừng đầu nguồn cho đến các quy định công việc đồng áng, vv. Ở phần cuối bài viết, tác giả đề cập đến thực trạng của luật tục hiện nay và vấn đề cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên ở miền núi Tây Bắc. Ngoài ra, các công trình liên quan đến vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường của các dân tộc miền núi, như công trình “Vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình thực hiện các chương trình phát triển kinh tế xã hội ở vùng dân tộc và miền núi” của Hoàng Hữu Bình [1] đề cập đến vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình thực hiện trồng mới 5 triệu ha rừng, vấn đề bảo vệ môi trường trong việc thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo và chương trình 135, đặc biệt là đưa ra một số giải pháp vừa đảm bảo phát triển kinh tế vừa bảo vệ môi trường ở các vùng dân tộc miền núi.
Cuốn “Quản lý xã hội vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong phát triển bền vững” của Đặng Thị Hoa đề cập đến nhiều vấn đề ở các vùng dân tộc thiểu số trong đó có cả việc quản lý khai thác bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững[34].