Tổng quan luận án

Hợp đồng tặng cho tài sản là một trong những chế định cốt lõi của pháp luật dân sự, được xác lập phổ biến trong đời sống xã hội nhưng khung pháp lý điều chỉnh trong Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 chỉ giới hạn khiêm tốn trong 6 điều luật (từ Điều 457 đến Điều 462). Thực tiễn áp dụng cho thấy các quy định hiện hành còn nhiều bất cập, mâu thuẫn với các văn bản luật chuyên ngành như Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Công chứng năm 2014, đồng thời bỏ trống nhiều quan hệ pháp lý phức tạp như: bảo vệ quyền lợi của người sống lệ thuộc vào người tặng cho, năng lực chủ thể của thai nhi, quyền hủy bỏ hợp đồng do người được tặng cho bội ơn, và cơ chế xử lý tranh chấp đối với hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện khi tài sản đã chuyển dịch cho bên thứ ba. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là việc thiếu vắng một công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về hợp đồng tặng cho tài sản nói chung và hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện nói riêng dưới góc độ quy định của BLDS năm 2015 và thực tiễn xét xử tại Tòa án.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án nhằm làm sáng tỏ hệ thống lý luận về hợp đồng tặng cho tài sản; khảo cứu quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử kết hợp so sánh với pháp luật nước ngoài; phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn xét xử; từ đó đề xuất các giải pháp lập pháp hoàn thiện chế định này trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam.

Hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu được tác giả xác lập và đánh số cụ thể theo văn bản:

Nhóm vấn đề lý luận:

  • Câu 1: Trong hệ thống pháp lý trên thế giới, tặng cho tài sản luôn được xác định là hợp đồng? (Giả thuyết: Sai, đặt ra hai hướng tiếp cận: tặng cho là hợp đồng hoặc tặng cho không là hợp đồng).
  • Câu 2: Bản chất pháp lý của hợp đồng tặng cho tài sản; hợp đồng tặng cho tài sản có điểm gì đặc trưng so với các hợp đồng khác? (Giả thuyết: Hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng đơn vụ hoặc song vụ đối với tặng cho có điều kiện; là hợp đồng ưng thuận hoặc thực tế; là hợp đồng không có đền bù hoặc có đền bù đối với tặng cho có điều kiện).

Nhóm vấn đề thực trạng pháp luật đối với hợp đồng tặng cho thông thường:

  • Câu 1: Những loại tài sản nào có thể trở thành đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản? Tài sản hình thành trong tương lai có thể trở thành đối tượng của hợp đồng tặng cho hay không? (Giả thuyết: Mọi tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản đều là đối tượng; động sản hình thành trong tương lai có thể là đối tượng, bất động sản hình thành trong tương lai không thể là đối tượng).
  • Câu 2: Điều kiện quyền sử dụng đất và nhà ở là đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản? (Giả thuyết: Phải thỏa mãn điều kiện theo Luật Đất đai năm 2013 và Luật Nhà ở năm 2014, không có tranh chấp, kê biên hay chưa được cấp giấy chứng nhận).
  • Câu 3: Các bên chủ thể trong hợp đồng tặng cho tài sản có thể thỏa thuận về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng hay không? (Giả thuyết: Dựa trên nguyên tắc tự do thỏa thuận, các bên có thể thỏa thuận).
  • Câu 4: Với một số tài sản như quyền đòi nợ, quyền sở hữu trí tuệ thì thời điểm phát sinh hiệu lực là khi nào? (Giả thuyết: Áp dụng quy định chung về thời điểm phát sinh hiệu lực từ khi thỏa thuận hoặc từ khi giao kết).

Nhóm vấn đề thực trạng pháp luật đối với tặng cho tài sản có điều kiện:

  • Câu 1: Điều kiện tặng cho cần thỏa mãn các yếu tố nào? (Giả thuyết: Không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không làm mất tính chất không có đền bù, có thể thực hiện được).
  • Câu 2: Nếu điều kiện tặng cho không được thực hiện do lỗi của bên tặng cho, bên thứ ba hoặc sự kiện bất khả kháng thì giải quyết như thế nào? (Giả thuyết: Hoặc coi như điều kiện đã hoàn thành, hoặc coi như chưa hoàn thành và bên được tặng cho không được nhận tài sản).
  • Câu 3: Khi bên tặng cho đòi lại tài sản do không thực hiện điều kiện nhưng tài sản đã được giao dịch thì giải quyết như thế nào? (Giả thuyết: Bên tặng cho không đòi lại được từ bên thứ ba, hoặc được quyền đòi lại từ người thứ ba).

Nhóm vấn đề hoàn thiện pháp luật:

  • Câu 1: Cần bổ sung quy định về thai nhi cũng được tặng cho tài sản tương tự như với di tặng hoặc thừa kế hay không? (Giả thuyết: Nên ghi nhận).
  • Câu 2: Có cần thiết bổ sung quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi cho con của người tặng cho tài sản? (Giả thuyết: Nên ghi nhận).
  • Câu 3: Có nên bổ sung các quy định về hủy bỏ hợp đồng tặng cho tài sản (khi người được tặng cho vô ơn hoặc khi người tặng cho có con)? (Giả thuyết: Nên ghi nhận).
  • Câu 4: Có cần bổ sung thêm quy định về điều kiện tặng cho, trường hợp thực hiện một phần nghĩa vụ, và xử lý tài sản đã chuyển dịch cho bên thứ ba? (Giả thuyết: Cần bổ sung quy định rõ ràng trong luật).

Đối tượng nghiên cứu là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xác lập, thực hiện và giải quyết tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản, cùng hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại Việt Nam, có nghiên cứu so sánh đối chiếu với pháp luật của Pháp, Đức, Thái Lan; phạm vi về thời gian bao quát tiến trình lịch sử pháp luật Việt Nam từ thời phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc, giai đoạn 1945–1995, giai đoạn từ BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 đến BLDS năm 2015.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Qua rà soát của tác giả, các công trình khoa học đã công bố trước đây chủ yếu tiếp cận theo các lát cắt chuyên biệt hoặc giới hạn trong khuôn khổ quy định của BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005:

  • Thẩm phán Chu Xuân Minh (Phó Chánh Tòa Dân sự TANDTC) với bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp đồng tặng cho nhà ở - Những vướng mắc và kiến nghị”: Tập trung kiến nghị hướng dẫn thống nhất thời điểm đăng ký hợp đồng tặng cho bất động sản, cách hiểu về hợp đồng vô hiệu theo Nghị quyết số 58/1998 và Nghị quyết số 1037/2006, cũng như quyền hưởng giá trị nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo Nghị định số 90/2006/NĐ-CP.
  • Tác giả Tưởng Duy Lượng (Chánh tòa Tòa Dân sự TANDTC) với bài viết “Những khó khăn, vướng mắc khi xác định đã cho hay chưa cho trong trường hợp các con ra ở riêng bố mẹ có giao một số tài sản cho con sử dụng — Một số kiến nghị về hướng giải quyết”: Đưa ra các tiêu chí xác định thời điểm hoàn thành việc tặng cho động sản và bất động sản (nhà đất) giữa bố mẹ và con cái khi xảy ra tranh chấp ly hôn.
  • Tác giả Dương Anh Sơn: Đưa ra cách tiếp cận mới về bản chất của hợp đồng tặng cho, phân tích Điều 466 BLDS năm 2005 để chỉ ra rằng khái niệm “nhận tài sản” chưa rõ ràng về mặt pháp lý hay thực tế, từ đó lập luận hợp đồng tặng cho tài sản có thể là hợp đồng thực tế hoặc ưng thuận tùy từng trường hợp.
  • Tác giả Đỗ Văn Đại: Đưa ra quan điểm giải thích hợp đồng tặng cho có “điều kiện ngầm định” về sự ghi nhận công lao, nhằm bảo vệ quyền lợi của người tặng cho đòi lại tài sản khi người được tặng cho có hành vi bội ơn.
  • Tác giả Lương Thị Hợp với bài viết “Một số vấn đề về điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản và di chúc” (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 14/2012): Phân tích khái quát tính chất của điều kiện trong giao kết tặng cho tài sản và việc thực hiện nghĩa vụ kéo dài.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Đa phần các công trình trước đây chỉ tập trung vào tặng cho quyền sử dụng đất, nhà ở và được thực hiện trước thời điểm BLDS năm 2015 có hiệu lực (trước năm 2017). Các vấn đề về lý luận chung đối với hợp đồng tặng cho tài sản, tặng cho tài sản có điều kiện, năng lực chủ thể riêng biệt, cơ chế bảo vệ cuộc sống của người lệ thuộc, thời điểm phát sinh hiệu lực có sự mâu thuẫn giữa các văn bản luật, quyền hủy bỏ hợp đồng do bội ơn, và sửa đổi khoản 2, khoản 3 Điều 462 BLDS năm 2015 vẫn đang thiếu vắng hoặc chưa được nghiên cứu toàn diện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng các nền tảng lý thuyết và khái niệm pháp lý chuyên ngành:

  • Lý thuyết về hợp đồng: Bản chất thỏa thuận, sự bày tỏ ý chí tự nguyện của các bên chủ thể.
  • Lý thuyết về tính không có đền bù: Bản chất của giao dịch tặng cho là sự dịch chuyển tài sản đơn phương mà không có sự bù đắp lợi ích vật chất tương xứng từ phía người nhận.
  • Khung phân tích khái niệm và đặc điểm: Đánh giá bản chất đơn vụ hay song vụ, ưng thuận hay thực tế, có đền bù hay không đền bù; phân định bản chất pháp lý giữa “điều kiện trong giao dịch dân sự có điều kiện” (sự kiện khách quan làm phát sinh/chấm dứt giao dịch) với “điều kiện trong tặng cho có điều kiện” (nghĩa vụ dân sự do người được tặng cho thực hiện).

Phương pháp nghiên cứu được thực hiện hoàn toàn theo hướng định tính chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp phân tích quy phạm và giải thích pháp luật: Mổ xẻ câu chữ, nội hàm các quy định từ Điều 457 đến Điều 462 BLDS năm 2015, đối chiếu với các điều khoản của Luật Nhà ở năm 2014, Luật Đất đai năm 2013, Luật Công chứng năm 2014.
  • Phương pháp lịch sử lập pháp: Khảo cứu sự tiến hóa của chế định tặng cho qua các triều đại phong kiến (Lý, Trần, Lê, Nguyễn), thời kỳ Pháp thuộc (Dân luật Bắc Kỳ 1931, Dân luật Trung Kỳ 1936, Dân luật Nam Kỳ giản yếu 1883), giai đoạn 1945–1995 (Sắc lệnh số 85/SL năm 1952, Luật Cải cách ruộng đất năm 1953, các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992), và giai đoạn từ BLDS năm 1995 đến nay.
  • Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu quy định của BLDS Việt Nam với BLDS Pháp (gần 80 điều luật), BLDS Đức (19 điều luật), và BLDS Thái Lan về năng lực chủ thể của thai nhi, bảo vệ phần tài sản của con ruột, các căn cứ hủy bỏ tặng cho do bất hiếu, bội ơn.
  • Phương pháp phân tích thực tiễn xét xử (nghiên cứu bản án và án lệ): Phân tích Án lệ số 14/2017/AL của TANDTC; Quyết định giám đốc thẩm số 143/2013/DS-GĐT của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Bản án sơ thẩm số 02/2017/DSST của TAND huyện Lắk và nhận định của TAND tỉnh Đắk Lắk.

Nguồn tư liệu nghiên cứu bao gồm: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ; các văn bản cổ luật; các công trình nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành luật; tuyển tập án lệ và các bản án giám đốc thẩm, phúc thẩm do Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân các địa phương ban hành.

Nội dung chính theo từng chương

Hệ thống các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của luận án

Luận án làm sáng tỏ hệ thống lý luận về hợp đồng tặng cho tài sản thông qua việc giải quyết các tranh luận học thuật:

  • Khái niệm và đặc điểm: Luận án chỉ ra tính chất phức tạp của hợp đồng tặng cho tài sản. Hợp đồng tặng cho có thể mang đặc tính ưng thuận hoặc thực tế; có thể là hợp đồng đơn vụ hoặc song vụ (khi có kèm điều kiện thực hiện nghĩa vụ); là hợp đồng không có đền bù trừ trường hợp điều kiện tặng cho mang lại lợi ích vật chất cụ thể.
  • Phân biệt hợp đồng tặng cho tài sản với các giao dịch khác: So sánh làm rõ sự khác biệt giữa hợp đồng tặng cho tài sản với di tặng, thừa kế theo di chúc, hứa thưởng, hợp đồng tặng cho có điều kiện thực hiện công việc và hợp đồng dịch vụ.
  • Tiêu chí phân loại hợp đồng tặng cho tài sản:
    • Căn cứ vào đối tượng: Động sản và bất động sản; tài sản phải đăng ký quyền sở hữu và không phải đăng ký quyền sở hữu.
    • Căn cứ vào hình thức: Xác lập bằng hành vi, bằng lời nói, hoặc bằng văn bản.
    • Căn cứ vào điều kiện: Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện và không có điều kiện.
  • Thực trạng quy định chung trong BLDS năm 2015: Chỉ rõ sự sơ sài của 6 điều luật hiện hành so với pháp luật quốc tế (BLDS Pháp gần 80 điều, BLDS Đức 19 điều). Phân tích các mâu thuẫn về thời điểm có hiệu lực và thời điểm chuyển giao quyền sở hữu nhà ở giữa BLDS năm 2015 (Điều 458, 459), Luật Công chứng năm 2014 (Điều 5 khoản 2: có hiệu lực từ thời điểm công chứng), và Luật Nhà ở năm 2014 (Điều 12: quyền sở hữu xác lập từ khi nhận bàn giao; Điều 122: hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm công chứng).
  • Thực trạng pháp luật về tặng cho tài sản có điều kiện (Điều 462 BLDS năm 2015): Bộc lộ khoảng trống khi chưa dự liệu trường hợp bên được tặng cho chỉ thực hiện một phần nghĩa vụ (như nghĩa vụ nuôi dưỡng dài hạn rồi bỏ bê); chưa có cơ chế giải quyết khi bên được tặng cho đã chuyển dịch tài sản cho người thứ ba ngay tình; chưa có quy định xử lý hoa lợi, lợi tức phát sinh hoặc phần giá trị tài sản tăng thêm do đầu tư không thể tách rời khi tài sản bị đòi lại.
Tiêu chí so sánh BLDS Việt Nam năm 2015 BLDS Pháp Bộ Dân luật Bắc Kỳ (1931) / Trung Kỳ (1936)
Quy mô điều luật 06 điều (Điều 457 - 462) Gần 80 điều 12 điều (Bắc Kỳ: Điều 864 - 876)
Năng lực nhận tặng cho của thai nhi Không quy định cụ thể (áp dụng quy định chung) Điều 906: Cho phép nếu đã thành thai tại thời điểm tặng cho Dân luật Trung Kỳ (Điều 965): Cho phép nếu đã thành thai và sinh ra còn sống
Giới hạn bảo vệ quyền lợi của con Không quy định giới hạn định đoạt Điều 913: Giới hạn phần tặng cho không quá 1/2, 1/3, hoặc 1/4 tài sản tùy số lượng con Không quy định hạn ngạch bắt buộc
Căn cứ hủy bỏ việc tặng cho Chỉ khi vi phạm điều kiện tặng cho (Điều 462) Điều kiện không thực hiện; Người nhận vô ơn; Người tặng cho sinh con Người nhận bội bạc (phạm tính mạng, ngược đãi, từ chối cấp dưỡng); Hoặc sinh con

Khái quát pháp luật Việt Nam về hợp đồng tặng cho tài sản qua các thời kỳ

Luận án tái hiện tiến trình lịch sử pháp luật Việt Nam:

  • Thời kỳ phong kiến: Thời Lý - Trần thừa nhận chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất và quyền định đoạt của người sử dụng. Thời nhà Lê, Bộ Quốc triều hình luật (1483) quy định chi tiết bảo vệ điền sản tại các Điều 342 (bán/cầm ruộng công cấp), Điều 343 (chiếm ruộng đất công), Điều 344 (nhận bậy ruộng đất), Điều 345 (giấu số ruộng đất công), dù chưa có điều luật trực tiếp về tặng cho. Thời nhà Nguyễn, Hoàng Việt luật lệ tiếp tục công nhận quyền sở hữu tư nhân và quyền định đoạt đất đai.
  • Thời kỳ Pháp thuộc: Dân luật Nam Kỳ giản yếu (1883) lược dịch từ Bộ luật Napoléon nhưng thiếu vắng điều khoản tặng cho. Dân luật Bắc Kỳ (1931) dành riêng Thiên thứ hai (Điều 864 đến 876) quy định về “Sinh thời tặng dữ”, nêu rõ mục đích làm phúc, đền công, thưởng tứ; phân loại hình thức giao tài sản hoặc lập khế ước trước công chứng; quy định quyền bãi bỏ tặng dữ khi sinh con hoặc khi người thụ tặng bội bạc (Điều 872, 873). Bộ Dân luật Trung Kỳ (1936) quy định sinh thời tặng dữ tại Chương thứ nhất, Thiên thứ hai (Điều 951 đến 978), cấm tặng dữ tài sản tương lai (Điều 952), quy định điều kiện tùy thuộc ý chí bên tặng chủ là vô hiệu (Điều 953).
  • Giai đoạn 1945–1995: Hiến pháp 1946 (Điều 12) bảo đảm quyền tư hữu. Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/02/1952 quy định việc cho, đổi nhà cửa ruộng đất phải trước bạ, nộp thuế trước bạ 8%, miễn thuế nhưng phải trước bạ đối với văn tự cho nhà đất giữa vợ chồng, cha mẹ và con cháu (Điều 4). Luật Cải cách ruộng đất năm 1953 (Điều 31) công nhận quyền chia, cầm, bán, cho ruộng đất được chia. Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 từng bước điều chỉnh chế độ sở hữu toàn dân về đất đai kết hợp bảo hộ quyền sở hữu tài sản hợp pháp và quyền chuyển dịch của cá nhân (Luật Đất đai năm 1993).
  • Giai đoạn 1995 đến nay: BLDS năm 1995 (Mục 3 Chương II, Điều 461 - 467), BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 tiếp tục duy trì cấu trúc điều luật về định nghĩa, tặng cho động sản, bất động sản, trách nhiệm do cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu, thông báo khuyết tật và tặng cho có điều kiện.

Phân tích thực tiễn xét xử qua án lệ và các vụ án thực tế

Luận án phân tích các vướng mắc áp dụng pháp luật thông qua hệ thống án lệ và bản án điển hình:

  • Án lệ số 14/2017/AL (Hội đồng Thẩm phán TANDTC thông qua ngày 14/12/2017 theo Quyết định số 299/QĐ-CA): Nguồn từ Quyết định giám đốc thẩm số 02/2011/DS-GĐT ngày 17/01/2011 về vụ án tại Điện Biên giữa nguyên đơn ông Quàng Văn P1 và bị đơn anh Quàng Văn P2. Tòa án xác định hợp đồng tặng cho 72m² đất mặt đường quốc lộ 279 dù không ghi điều kiện trong hợp đồng công chứng nhưng các văn bản liên quan thể hiện có thỏa thuận điều kiện (anh P2 phải làm nhà cho bố ở) thì Tòa án công nhận đây là hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện; khi bên nhận không thực hiện cam kết thì bên tặng cho có quyền đòi lại đất.
  • Bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Đắk Lắk (sửa Bản án sơ thẩm số 02/2017/DSST của TAND huyện Lắk): Vụ án tranh chấp đòi lại 150.000.000 đồng tiền tặng cho xây nhà sinh hoạt cộng đồng giữa ông Võ Văn Đ và 3 cá nhân (bà Nông Thị L, bà Nguyễn Thị S, ông Vi Văn D đại diện 3 thôn Y 1, Y 2, Y 3). Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng điểm c khoản 1 Điều 688 BLDS năm 2015, viện dẫn Điều 183 khoản 3, Điều 465, Điều 466 BLDS năm 2005 để xác định việc tặng cho đã hoàn thành hợp pháp, không chấp nhận yêu cầu đòi lại tiền của nguyên đơn và chỉ ra tư cách khởi kiện yêu cầu nộp tiền vào quỹ thôn thuộc về các trưởng thôn.
  • Quyết định giám đốc thẩm số 143/2013/DS-GĐT ngày 13/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC: Vụ án tranh chấp hợp đồng tặng cho nhà đất tại số 04 Lê Văn Hưu, P. Bến Nghé, Quận 1, TP.HCM giữa bà Văn Anh Muội và bà Văn Anh Kim (Việt kiều Canada). Tòa án xác định hợp đồng tặng cho vô hiệu do bên nhận tặng cho không đủ điều kiện sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo Điều 126 Luật Nhà ở năm 2005 và Nghị định số 90/2006/NĐ-CP (thời hạn tạm trú dưới 6 tháng, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty TNHH An Cát không phải là giấy chứng nhận đầu tư), lỗi làm hợp đồng vô hiệu thuộc về cả hai bên.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án đã làm rõ:

  • Bản chất pháp lý đặc thù của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện: Tách bạch giữa điều kiện trong giao dịch dân sự nói chung (mang tính khách quan) với điều kiện tặng cho (mang bản chất là nghĩa vụ pháp lý do người được tặng cho thực hiện).
  • Xác lập cơ sở khoa học để đánh giá tính chất song vụ/đơn vụ và ưng thuận/thực tế của hợp đồng tặng cho tùy thuộc vào đối tượng và thỏa thuận nghĩa vụ kèm theo.
  • Hệ thống hóa toàn diện quá trình phát triển lịch sử của chế định hợp đồng tặng cho tài sản trong nền lập pháp Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến nay.

Về mặt thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật:

  • Đề xuất bổ sung quy định bảo vệ người sống lệ thuộc vào người tặng cho: Khi tặng cho tài sản, người tặng cho phải dành một phần tài sản cần thiết để bảo đảm cuộc sống cho người sống lệ thuộc không thể tự nuôi sống bản thân.
  • Đề xuất bổ sung quy định về năng lực chủ thể nhận tặng cho của thai nhi: Ghi nhận quyền được nhận tặng cho tài sản của người đã thành thai trước thời điểm tặng cho và sinh ra còn sống (kế thừa tinh hoa Dân luật Trung Kỳ năm 1936 và kinh nghiệm BLDS Pháp).
  • Đề xuất bổ sung căn cứ hủy bỏ hợp đồng tặng cho tài sản do người được tặng cho có hành vi bội ơn/bất hiếu hoặc khi người tặng cho sinh con.
  • Đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 462 BLDS năm 2015: Quy định cụ thể các yêu cầu hợp pháp của điều kiện tặng cho; xử lý trường hợp bên được tặng cho mới thực hiện một phần nghĩa vụ dài hạn; quy định rõ cơ chế bảo vệ bên thứ ba ngay tình và xử lý hoa lợi, lợi tức, chi phí đầu tư gia tăng giá trị tài sản khi hợp đồng bị hủy bỏ.
  • Đề xuất thống nhất thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tặng cho bất động sản và thời điểm xác lập quyền sở hữu nhằm khắc phục sự xung đột giữa BLDS năm 2015 với Luật Công chứng năm 2014 và Luật Nhà ở năm 2014.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi tư liệu xét xử thực tế bị giới hạn trong các bản án, quyết định giám đốc thẩm và án lệ được công bố công khai đến thời điểm nghiên cứu (chủ yếu xoay quanh các tranh chấp phát sinh từ BLDS năm 2005 chuyển tiếp sang BLDS năm 2015).
  • Các đối tượng tài sản đặc thù phi truyền thống chưa được phân tích sâu do thực tiễn xét xử tại thời điểm khảo sát chưa phát sinh nhiều tranh chấp điển hình.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế chuyển dịch và xác lập hiệu lực hợp đồng tặng cho đối với các loại tài sản vô hình mới như quyền đòi nợ, quyền sở hữu trí tuệ, và tài sản hình thành trong tương lai.
  • Đánh giá tác động xã hội và án lệ thực tế áp dụng các điều khoản chuyển tiếp của BLDS năm 2015 trong các vụ việc tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện kéo dài qua nhiều thời kỳ.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành luật: Cung cấp tư liệu lịch sử pháp lý phong phú, các khung phân tích so sánh đối chiếu giữa pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ và hệ thống dân luật của Pháp, Đức, Thái Lan; làm sáng tỏ các tranh luận học thuật về bản chất đền bù, tính ưng thuận và điều kiện tặng cho.
  • Đối với Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư, Công chứng viên: Cung cấp các phân tích tình huống thực tiễn sâu sắc thông qua việc mổ xẻ Án lệ số 14/2017/AL, Quyết định giám đốc thẩm số 143/2013/DS-GĐT, và các vụ án dân sự về điều kiện chuyển tiếp theo Điều 688 BLDS năm 2015.
  • Đối với cơ quan soạn thảo chính sách và lập pháp: Cung cấp các đề xuất sửa đổi điều luật cụ thể nhằm hoàn thiện Điều 458, 459, 462 BLDS năm 2015 và bảo đảm tính đồng bộ với Luật Nhà ở, Luật Đất đai và Luật Công chứng.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo Án lệ số 14/2017/AL, Tòa án xử lý như thế nào khi hợp đồng tặng cho đất không ghi điều kiện nhưng có chứng cứ thể hiện hai bên đã thỏa thuận điều kiện? Hội đồng Thẩm phán TANDTC nhận định: Trường hợp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không ghi điều kiện tặng cho nhưng tại các văn bản, tài liệu khác có liên quan thể hiện các bên đã có thỏa thuận, thống nhất về điều kiện tặng cho và điều kiện đó là hợp pháp thì Tòa án phải công nhận điều kiện của hợp đồng và xác định đó là hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện (theo quy định tại Điều 125, 126, 470 BLDS năm 2005, tương ứng Điều 120, 121, 462 BLDS năm 2015).

2. Mâu thuẫn chính về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở giữa BLDS năm 2015, Luật Công chứng năm 2014 và Luật Nhà ở năm 2014 là gì?

  • Theo BLDS năm 2015 (Điều 459): Hợp đồng tặng cho bất động sản phải đăng ký có hiệu lực từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu.
  • Theo Luật Công chứng năm 2014 (Điều 5 khoản 2): Hợp đồng công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên kể từ ngày được công chứng viên ký và đóng dấu.
  • Theo Luật Nhà ở năm 2014 (Điều 122 khoản 1): Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở là thời điểm công chứng, chứng thực; đồng thời Điều 12 khoản 2 quy định thời điểm chuyển quyền sở hữu là từ khi bên nhận nhận bàn giao nhà ở.

3. Tại sao trong Quyết định giám đốc thẩm số 143/2013/DS-GĐT, Tòa án xác định hợp đồng tặng cho nhà đất số 04 Lê Văn Hưu là vô hiệu? Hợp đồng tặng cho giữa bà Văn Anh Muội và bà Văn Anh Kim bị xác định vô hiệu do bà Kim là người Việt Nam định cư tại Canada không đủ điều kiện sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo Điều 126 Luật Nhà ở năm 2005 và Nghị định số 90/2006/NĐ-CP (giấy miễn thị thực mỗi lần nhập cảnh dưới 90 ngày, không có giấy phép đầu tư hay dự án đầu tư theo quy định). Lỗi làm hợp đồng vô hiệu thuộc về cả hai bên.

4. Khái niệm “Sinh thời tặng dữ” trong Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 quy định người tặng chủ được bãi bỏ việc tặng cho trong những trường hợp nào? Theo Điều 872 và Điều 873 Dân luật Bắc Kỳ năm 1931, tặng chủ được bãi bỏ tặng dữ khi: (i) Sau đó sinh con; (ii) Người thụ tặng không thi hành nghĩa vụ; (iii) Người thụ tặng có hành vi bội bạc (phạm đến tính mạng người tặng chủ, ngược đãi/thóa mạ tặng chủ, từ chối cung cấp lương thực cho tặng chủ, hoặc can phạm hành vi làm mất quyền thừa kế).

5. Vấn đề thực hiện một phần nghĩa vụ trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện đang gặp bất cập gì theo Điều 462 BLDS năm 2015? Khoản 3 Điều 462 BLDS năm 2015 chỉ quy định quyền đòi lại tài sản khi người được tặng cho “không thực hiện nghĩa vụ”, nhưng chưa dự liệu giải quyết các trường hợp người được tặng cho đã thực hiện nghĩa vụ trong một thời gian dài (như chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ hoặc người thân nhiều năm) rồi sau đó mới dừng thực hiện, dẫn đến sự lúng túng cho Tòa án khi xác định hậu quả pháp lý và nghĩa vụ hoàn trả.

Kết luận

Luận án đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận, lịch sử lập pháp và thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản tại Việt Nam. Thông qua việc chỉ ra những bất cập, mâu thuẫn giữa BLDS năm 2015 với các văn bản luật chuyên ngành và khoảng trống trong quy định về tặng cho tài sản có điều kiện, tác giả đã cung cấp các luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc. Các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật được đề xuất có giá trị thiết thực đối với hoạt động lập pháp, nghiên cứu học thuật và công tác xét xử tranh chấp dân sự.