Chương 1 TONG QUAN VE TINH HÌNH NGHIÊN CUU LIEN QUAN DEN DE TAI LUAN AN 1. Các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình liên quan đến lịch sử sử học lịch sử Việt Nam cận hiện đại và lịch sứ sứ học Đảng Cộng sản Việt Nam Cuộc vận động thành lập Đảng vừa là một nội dung thuộc lịch sử Việt Nam cận hiện đại vừa là một nội dung phản ánh của lịch sử ĐCSVN với tư cách một chuyên ngành mang tính chất tương đối độc lập so với lịch sử Việt Nam. Việc xem xét những công trình nghiên cứu về lịch sử sử học Việt Nam cận hiện đại và lịch sử sử học ĐCSVN giúp chúng tôi có thể nhìn nhận những công trình nghiên cứu cuộc vận động thành lập Đảng dưới góc độ lịch sử sử học vừa chi tiết, cụ thể, vừa khái quát và toàn diện.
Xác định được tầm quan trọng của nghiên cứu lịch sử sử học, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử sử học Việt Nam và lịch sử sử học ĐCSVN. Khi xem những công trình lịch sử sử học Việt Nam cận hiện đại có thể phân ra làm hai nhóm: nhóm công trình lịch sử sử học Việt Nam đề cập tới sự hình thành, phát triển của khuynh hướng sử học Mác xít - khuynh hướng sử học chi phối những công trình nghiên cứu về cuộc vận động thành lập Đảng và nhóm công trình đề cập tới thành tựu, hạn chế trong nghiên cứu lịch sử DCSVN hoặc cụ thé hơn là cuộc vận động thành lập Đảng. Về nhóm công trình thứ nhất: Từ CMTT năm 1945 lịch sử dân tộc đã bước đầu được chú trọng nghiên cứu. Sau khoảng hai ba mươi năm, những năm 60, 70 thế kỷ XX, các nhà sử học đã có những công trình tông kết quá trình phát triển của nền sử học dân tộc.
Các công trình này thường là những công trình đánh giá bao quát về toàn bộ mọi lĩnh vực của nền sử học, trong đó có đề cập tới sự hình thành, phát triển của “nền sử học cách mạng”, “sử học mác xít”. Trân Huy Liệu là nhà nghiên cứu sớm đê cập tới sự phát triên của 14 khuynh hướng sử học Mác xít ở Việt Nam. Tháng 10/1968, Trần Huy Liệu phát biêu tại Đại hội lần thứ IV của Hội các nhà sử học nước Cộng hòa dân chủ Đức tại Leipzig, nêu lên bốn đặc điểm của khoa học lịch sử Việt Nam. Trong đặc điểm thứ hai, Trần Huy Liệu làm rõ, từ khi tiếp thu lý luận Mác - Lênin, nền sử học Việt Nam đã dần được hình thành và gắn liền với công tác cách mạng.
Đặc biệt, từ sau CM TT năm 1945, ở Việt Nam đã phát triển nền sử học mác xít thay thế cho sử học thực dân phong kiến [Trần Huy Liêu, 1969, tr. Cùng chung quan điểm với Trần Huy Liệu, Nguyễn Hoàng cũng khang định, trước năm 1945, ở Việt Nam đã có nhiều tác pham sử học do những chiến sĩ cách mạng biên soạn (trong đó có Nguyễn Ái Quốc), CMTT (1945) đã “khai sinh ra nền sử học cách mạng Việt Nam” - nền sử học được vũ trang bằng hệ tư tưởng mác xít - lêninnít, lấy sự nghiệp của quan chúng làm đối tượng nghiên cứu và vì lợi ích của nhân dân, của chủ nghĩa xã hội để hoạt động. Trong bài viết 1945 - 1985, Một bước phát triển của nên sử học cách mạng Việt Nam trên TCNCLS, khi cho rang trong 40 năm (1945-1985) hàng loạt van dé đã được giới sử học Việt Nam đi sâu phát hiện thêm tài liệu mới, nghiên cứu, lý giải, rút ra những kết luận khoa học nhằm tiến thêm một báo cáo về nhận thức lịch sử, Nguyễn Hoàng có nhắc đến van dé về “nguén gốc, vi trí, vai trò và sứ mệnh lich sử của giai cấp công ` A 66 nhân, về Dang của giai cấp công nhân và lãnh tụ của Đảng của giai cap công nhân và lãnh tụ của Đảng, của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc ta” [Nguyễn Hoàng, 1985, tr. Như vậy, Trần Huy Liệu, Nguyễn Hoàng đã chỉ ra được mốc thời gian quan trọng chính thức xác lập nền sử học Mác xít ở Việt Nam là năm 1945, bước đầu đề cập tới đặc điểm cơ bản nhất của nền sử học Việt Nam, nhưng chưa thực sự có những phân tích chuyên sâu.
Năm 1980, Văn Tạo viết bài Ba mươi năm phát triển của nên sử học Việt Nam (1945-1980) đăng trên TCNCLS. Bài viết tông kết 7 van đề cơ bản mà nền sử học Việt Nam dat được những thành tựu, mặc dù không có nhận định riêng về lĩnh vực nghiên cứu lịch sử Đảng nhưng có nêu thành tựu liên quan đến nội dung của lịch sử DCSVN và cuộc vận động thành lập Dang: “Sw ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam, vị trí, vai trò và sứ mệnh lịch sử cua no”. Van Tạo cho biệt, sử học Việt Nam đã tập trung làm rõ vi trí, vai trò và sứ mệnh lịch sử của 15 giai cấp công nhân thông qua đảng tiên phong đã không tách rời với vị trí, vai trò của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, đặc biệt là trong quá trình Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê nin, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, hoạt động tích cực trong phong trào công sản và công nhân quốc tế, và thành lập ra “Dang Mác xít - Léninnit chân chính của giai cap công nhân Việt Nam” [Văn Tạo, 1980, tr. Trần Huy Liệu, Nguyễn Hoàng, Văn Tạo đã đưa ra nhận định, từ CMTT năm 1945, ở Việt Nam đã chính thức hình thành và phát triển nền sử học mác xít.
Mặc dù trong điều kiện đất nước có chiến tranh, nhưng trong những năm 50, 60, 70 thế kỷ XX nền sử học mác xít ở Việt Nam không ngừng phát triển. Các tác giả cũng chỉ ra những nội dung được tập trung nghiên cứu trong giai đoạn đầu sau CTTT của nền sử học, tuy nhiên, chưa di vao lí giải nguyên nhân của hiện tượng. Trong những năm 50, 60, 70 thế kỷ XX, nền sử học đã vận dụng lý luận, phương pháp luận sử học mác xít, kế thừa các thành tựu đi trước và tiến hành song song hai nhiệm vụ: vừa phát triển nền sử học cách mạng, vừa thực hiện đấu tranh, vạch trần những luận điệu bóp méo, xuyên tác lịch sử Việt Nam, phê phán sử học phong kiến, tư sản, sử học của ngụy quân. Hơn nữa, khi cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN càng giành thắng lợi sẽ càng đặt ra yêu cầu nhận thức về giai cấp công nhân với tư cách là giai cấp lãnh đạo cách mạng, là một trong hai động lực mạnh mẽ trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Với những lí do như vậy, các công trình sử học khi bàn về những nội dung liên quan đến cuộc vận động thành lập Đảng đã rất tập trung làm rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và sứ mệnh lãnh đạo của ĐCSVN. Cũng cần thấy răng, khuynh hướng sử học mác xít và xu hướng tập trung nghiên cứu lịch sử giai cấp công nhân không chỉ xuất hiện ở Việt Nam mà còn xuất hiện cả ở các nước trong khối xã hội chủ nghĩa trong thời gian này. Khi đất nước bước vào giai đoạn Đổi mới, nền sử học Việt Nam có điều kiện thuận lợi dé tiếp tục phát triển. Trần Kim Dinh là nhà nghiên cứu có nhiều nhất công bồ liên quan tới khuynh hướng sử học mác xít ở Việt Nam được công bố liên tục từ năm 1988 cho đến năm 2019 gồm: bài viết Sự hình thành khuynh hướng sử học Mác 16 xit ở Việt Nam [Trần Kim Dinh, 1988, tr.53-57]; luận án Sử học Việt Nam giữa thé kỷ XIX đến 1945 [Trần Kim Dinh, 1993, tr.1-10]; bài viết Nguyễn Ai Quốc - Người đặt nên móng cho sự hình thành khuynh hướng sử học Mác xít ở Việt Nam trước năm 1945 trong sách Một số vấn dé lich sử sử học Việt Nam do Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2015; và gần đây nhất, NXB Dai học Quốc gia xuất bản cuốn Lich sử sử học của hai tác giả Hoàng Hồng, Trần Kim Dinh [Hoang Hồng, Trần Kim Dinh, 2019, tr.
Các nghiên cứu của Trần Kim Đỉnh đi sâu phân tích và làm rõ quá trình hình thành khuynh hướng sử học mác xít ở Việt Nam trước năm 1945. Dau thé kỷ XX, khi thực dân Pháp xâm lược và biến Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, ở Việt Nam xuất hiện những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội dẫn tới sự hình thành, tồn tại của nhiều khuynh hướng sử học, nhiều thể loại cùng với sự chuyền biến trong tư tưởng sử học, phương pháp nghiên cứu, biên khảo lịch sử. Bên cạnh khuynh hướng sử học phong kiến đã phát triển hàng nửa thế kỷ, sử học Việt Nam xuất hiện khuynh hướng “sử học mới” và khuynh hướng sử học mác xít. Những nghiên cứu của Trần Kim Dinh chỉ rõ, quá trình khuynh hướng sử học mác xít ở Việt Nam hình thành gắn liền với quá trình hoạt động cách mạng, quá trình truyền bá CN M-LN vào trong nước của Nguyễn Ái Quốc và quá trình xác lập tư tưởng vô sản.
Nguyễn Ái Quốc trở thành nhà sử học mác xít đầu tiên của Việt Nam, là người đầu tiên nghiên cứu và giới thiệu lịch sử dân tộc theo quan điểm mác xít. Cũng nhắc đến những tác phẩm sử học của Nguyễn Ái Quốc trong những năm 20 thế kỷ XX (như Trần Huy Liệu, Văn Tạo, Hoàng Phong.) nhưng Trần Kim Đỉnh đi sâu vào phân tích và làm rõ thể loại, thé tài, tư liệu, nội dung, phương pháp luận trong các tác phẩm này, đồng thời, ông cũng đã chỉ ra một số nguồn tài liệu quan trong mà những người cộng sản Việt Nam sản sinh ra như Văn kiện Đảng, sách, báo cách mạng trong những năm 1930-1945. Từ đó, ông đưa ra những nhận định về mục đích, đối tượng, phương pháp nghiên cứu của sử học mác xít. Sử học mác xít là sử học của nhân dân, vì nhân dân.
Mục đích của sử học cách mạng là tìm ra quy luật lịch sử, từ đó xác định đường lối chiến lược và sách lược cho cách mạng Việt Nam. Với phương pháp duy vật biện chứng, sử học cách mạng đã phục dựng và trả lại những giá trị chân xác của lịch sử 17 dân tộc mà sử học tư sản, sử học phong kiến đã bóp méo hoặc xuyên tạc. Trước năm 1945, sử học mác xít ở Việt Nam đã ra đời với những tác phẩm đầu tiên gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Ái Quốc.