Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ sinh học chuyên ngành Động vật học (mã số: 62420103) của nghiên cứu sinh Dương Đức Lợi, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Ngô Đắc Chứng tại Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế (năm 2016), mang tên: "Khu hệ lưỡng cư và bò sát vùng phía Bắc Đèo Cù Mông".

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, Việt Nam nằm trong khu vực điểm nóng đa dạng sinh học Indo-Burma với hệ sinh thái phong phú nhưng đang chịu áp lực suy giảm nghiêm trọng do tác động của con người, khai thác quá mức và biến đổi khí hậu. Khu vực vùng phía Bắc Đèo Cù Mông (chủ yếu thuộc địa bàn tỉnh Bình Định) có vị trí địa lý chuyển tiếp đặc thù giữa sườn Đông dãy Trường Sơn Nam xuống đồng bằng duyên hải, tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm động vật ưa nhiệt và ưa ẩm. Tuy nhiên, trước thời điểm luận án được thực hiện, các công trình điều tra tại đây còn rời rạc và nghèo nàn: các dữ liệu công bố chỉ mới ghi nhận 3 loài lưỡng cư phổ biến, 16 loài rắn, 4 loài thằn lằn và 10 loài rùa. Bên cạnh đó, việc xác định ranh giới phân bố địa lý động vật học đối với lưỡng cư và bò sát ở miền Trung Việt Nam vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Do đó, việc khảo sát toàn diện thành phần loài, cấu trúc khu hệ, đặc tính sinh thái và hiện trạng bảo tồn tại khu vực này là khoảng trống khoa học cần được giải quyết.

Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định sự đa dạng về thành phần loài, đặc điểm phân bố của các loài lưỡng cư, bò sát vùng phía Bắc Đèo Cù Mông.
  2. So sánh mức độ tương đồng về thành phần loài lưỡng cư, bò sát của khu vực nghiên cứu với các phân vùng địa lý động vật ở miền Trung Việt Nam.
  3. Đánh giá giá trị bảo tồn và xác định các yếu tố tác động đến các loài lưỡng cư, bò sát làm cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch quản lý, bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên động vật ở vùng nghiên cứu.

Nội dung nghiên cứu được triển khai qua 7 nội dung chính:

  1. Lập danh sách về thành phần loài, phân tích cấu trúc phân loại các loài lưỡng cư, bò sát ở vùng phía Bắc Đèo Cù Mông thuộc tỉnh Bình Định.
  2. Mô tả đặc điểm nhận dạng của các loài lưỡng cư, bò sát thu thập được mẫu vật trong vùng nghiên cứu.
  3. Đánh giá giá trị bảo tồn đa dạng sinh học thông qua xác định các loài đặc hữu, quý hiếm ghi nhận ở vùng phía Bắc Đèo Cù Mông.
  4. So sánh mức độ tương đồng về thành phần loài lưỡng cư, bò sát ở vùng phía Bắc Đèo Cù Mông với các khu vực lân cận để xem xét mối quan hệ địa lý động vật.
  5. Đánh giá đặc điểm phân bố của các loài lưỡng cư, bò sát theo sinh cảnh, theo nơi ở và độ cao của các loài lưỡng cư, bò sát ở vùng nghiên cứu.
  6. Bổ sung thông tin về một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của các loài lưỡng cư, bò sát trong khu vực nghiên cứu.
  7. Đánh giá các nhân tố đe dọa đến quần thể và sinh cảnh sống của các loài lưỡng cư, bò sát ở vùng nghiên cứu; từ đó đề xuất các kiến nghị đối với công tác quản lý, bảo vệ các loài có ích và quý hiếm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng: Các loài lưỡng cư và bò sát trên cạn và nước ngọt.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn tỉnh Bình Định, được giới hạn từ Đèo Cù Mông ở phía Nam đến đèo Bình Đê ở phía Bắc, với tổng diện tích tự nhiên là 6.025,6 km².
  • Phạm vi thời gian: Luận án thực hiện trong hơn 3 năm, từ tháng 5/2012 đến tháng 5/2015, tiến hành 20 đợt khảo sát thực địa với tổng thời gian 101 ngày.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu lưỡng cư và bò sát (LCBS) tại Việt Nam qua ba giai đoạn lớn:

  1. Giai đoạn trước năm 1954: Khởi đầu từ các ghi nhận y dược cổ truyền của Tuệ Tĩnh (1623?-1713) về 16 vị thuốc từ LCBS. Các nghiên cứu học thuật hiện đại ban đầu do các tác giả phương Tây tiến hành như Cantor (1847), Guenther (1864), Milne-Edwards (1866), Theobald (1868), Swinhoe (1870), Stoliczka (1870, 1873), Morice (1875), Anderson (1878), Boulenger (1890, 1900, 1920), Flower (1896), Annandale (1900), Schenckel (1901), Boettger (1901), Ridley (1902, 1903-1904), Vaillant (1904). Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX ghi nhận những công trình nổi bật của Smith (1921, 1924, 1943), Parker (1925, 1934), Chevey (1927), Delacour (1929) và đặc biệt là hệ thống công trình đồ sộ của René Bourret (1935, 1936, 1937, 1938, 1941, 1942) với ba chuyên khảo kinh điển về rắn, rùa và ếch nhái Đông Dương.
  2. Giai đoạn 1954–1975: Nghiên cứu tại miền Bắc nổi bật với Đào Văn Tiến và cộng sự (1956, 1962), Đào Văn Tiến và Lê Vũ Khôi (1965), Báo cáo của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (1981). Ở miền Nam có Marx & Inger (1955), Campden-Main (1970, 1984) với cuốn cẩm nang nhận dạng các loài rắn miền Nam Việt Nam.
  3. Giai đoạn từ 1975 đến nay: Các công trình tổng hợp khóa định loại kinh điển của Đào Văn Tiến (1977, 1978, 1979, 1981, 1982); các danh lục và chuyên khảo quốc gia của Nguyễn Văn Sáng và cộng sự (1996, 2005, 2009 - Herpetofauna of Vietnam với 545 loài); các nghiên cứu theo vùng địa lý của Ngô Đắc Chứng (1998, 2012), Nguyễn Quảng Trường (2000, 2002, 2009), Hoàng Xuân Quang (1993, 2012), Lê Nguyên Ngật (1997, 2001), Lê Vũ Khôi (2000, 2002, 2011), Hồ Thu Cúc (2002).

Riêng tại vùng nghiên cứu (phía Bắc Đèo Cù Mông - tỉnh Bình Định), các tài liệu ghi nhận trước đây rất nghèo nàn:

  • Campden-Main (1984) ghi nhận 4 loài rắn tại Quy Nhơn (Python reticulatus, Chersydrus granulatus, Ptyas korros, Xenochrophis piscator).
  • Ngô Đắc Chứng và cộng sự (2011) ghi nhận loài nhông cát (Leiolepis guttata).
  • Hendrie và cộng sự (2011) xác định 9 loài rùa phân bố tại khu vực nhưng chưa có khảo sát chuyên sâu về quần thể và phân bố chi tiết.
  • Các khu bảo tồn thiên nhiên và dự án bảo tồn trên địa bàn tỉnh (An Toàn, Núi Bà, Ghềnh Ráng) chưa tiến hành điều tra đầy đủ đa dạng sinh học LCBS.

Vị trí của luận án: Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu đầu tiên về khu hệ LCBS trên phạm vi toàn tỉnh Bình Định. Luận án giải quyết khoảng trống về thiếu hụt dữ liệu mẫu vật chuẩn, lấp đầy vùng trống phân bố địa lý động vật giữa khu hệ Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, đồng thời cung cấp luận cứ thực nghiệm để đối chiếu ranh giới phân vùng địa lý động vật học giữa quan điểm của Trần Kiên, Hoàng Xuân Quang (1992) và Bain et al. (2011).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phân loại học hình thái động vật truyền thống kết hợp các tu chỉnh phân loại học hiện đại và phân tích địa lý động vật học sinh thái:

  • Hệ thống danh pháp và phân loại: Sử dụng danh mục của Frost (2015) cho lớp Lưỡng cư, Uetz & Hošek (2015) cho lớp Bò sát, cùng với danh lục tổng hợp của Nguyen et al. (2009). Luận án cũng cập nhật các thay đổi phân loại của David et al. (2007), Matsui et al. (2010), Pyron et al. (2013), Zaher et al. (2009).
  • Tài liệu định loại: Sử dụng các khóa định loại của Bourret (1942), Taylor (1962), Yang et al. (1980), Inger et al. (1999), Ohler et al. (2000), Bain et al. (2003, 2005, 2009), Stuart et al. (2001, 2006), Smith (1943), Campden-Main (1984), Nguyễn Văn Sáng (2007), Hendrie et al. (2011), Hoàng Xuân Quang et al. (2012).
  • Phương pháp thực địa ngoài thiên nhiên:
    • Thiết lập tuyến khảo sát: 27 tuyến tại 11 điểm thu mẫu đại diện cho 11 đơn vị hành chính cấp huyện/thị xã/thành phố của tỉnh Bình Định. Mỗi điểm bố trí từ 2 đến 4 tuyến đi qua các sinh cảnh rừng, suối, nương rẫy, khu dân cư, đầm phá và bãi cát ven biển. Xác định tọa độ và độ cao bằng thiết bị GPS Garmin 60CX.
    • Thu mẫu vật: Lưỡng cư được thu trực tiếp bằng tay vào ban đêm từ 17:00 đến 24:00. Bò sát được thu cả ban ngày (09:00 - 14:00) và ban đêm (18:00 - 24:00) bằng thòng lọng, cần câu (cho thằn lằn) hoặc kẹp/móc sắt chuyên dụng (cho rắn).
    • Điều tra phỏng vấn: Thực hiện phỏng vấn người dân địa phương, thợ săn bằng phiếu điều tra và bộ ảnh mẫu nhận dạng nhằm thu thập dữ liệu về tên địa phương, tần suất xuất hiện, tập tính và giá trị thương mại. Khảo sát các điểm buôn bán động vật hoang dã.
    • Đánh giá tần suất bắt gặp: Phân thành ba mức độ gồm thường gặp (+++: bắt gặp ở 75% - 100% số điểm khảo sát), ít gặp (++: 50% - 74%) và hiếm gặp (+: dưới 50%).
  • Phân tích trong phòng thí nghiệm:
    • Xử lý mẫu: Gây mê bằng bông thấm etyl a-xe-tat; lấy mẫu mô/gan lưu trữ trong cồn 95% không dùng foóc môn phục vụ phân tích phân tử; định hình mẫu trong cồn 80% - 90% (4 - 10 giờ); tiêm cồn 90% vào ổ bụng đối với mẫu lớn; bảo quản lâu dài trong cồn 70%.
    • Dụng cụ đo: Thước kẹp điện tử C-MART D0024-06 (độ chính xác 0,01 mm).
    • Chỉ tiêu đo đạc: Lưỡng cư đo 17 chỉ tiêu hình thái và công thức màng bơi theo Ohler & Delorme (2006); Thằn lằn đo 17 kích thước cơ thể và đếm các hàng vảy, lỗ đùi, bản mỏng dưới ngón; Rắn đo 18 chỉ tiêu hình thái và số lượng các tấm vảy đầu, thân, bụng, dưới đuôi; Rùa đo các kích thước mai, yếm và đếm các tấm sừng.
  • Xử lý số liệu và phân tích thống kê:
    • Số liệu được xử lý bằng phần mềm PAST (PAleontological STatistics).
    • So sánh tương đồng thành phần loài bằng chỉ số Sorensen-Dice theo công thức: $$d_{jk} = \frac{2M}{2M + N}$$ Trong đó $M$ là số loài xuất hiện ở cả hai vùng so sánh, $N$ là tổng số loài chỉ xuất hiện ở một trong hai vùng.
    • Đánh giá bảo tồn và tính đặc hữu: Dựa trên Sách Đỏ Việt Nam (2007), Nghị định 32/2006/NĐ-CP, Nghị định 160/2013/NĐ-CP, Danh lục Đỏ IUCN (2015), CITES (2013) và danh lục đặc hữu theo Nguyen et al. (2009).

Nội dung chính theo từng chương

Mở đầu và Chương 1: Khái quát tình hình nghiên cứu và điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu

Chương này trình bày tính cấp thiết, mục tiêu, đối tượng, phương pháp luận và tổng quan tình hình nghiên cứu LCBS trên thế giới, tại Việt Nam và tại tỉnh Bình Định. Về điều kiện tự nhiên của vùng nghiên cứu:

  • Địa hình: Địa bàn tỉnh Bình Định hạ thấp dần từ Tây sang Đông, gồm 4 dạng địa hình chính: vùng núi phía Tây (chiếm diện tích 2.498,66 km², độ cao phổ biến 500 - 1.000 m với 11 đỉnh trên 1.000 m, sườn dốc trên 20°); vùng đồi trung du (diện tích 1.592,76 km², độ cao dưới 100 m); vùng đồng bằng lòng chảo duyên hải (khoảng 1.000 km², độ cao 25 - 50 m); vùng cồn cát, đụn cát và đầm phá ven biển (bờ biển dài 134 km, các đầm lớn như Trà Ổ, Đề Gi, Thị Nại).
  • Mạng lưới sông ngòi: Bốn hệ thống sông chính gồm sông Kôn, Lại Giang, La Tinh, Hà Thanh bắt nguồn từ sườn Đông dãy Trường Sơn đổ ra biển Đông.
  • Khí hậu: Nhiệt đới ẩm gió mùa; nhiệt độ trung bình năm 20,1 - 26,1°C (miền núi) và 27,0°C (duyên hải); độ ẩm trung bình 79% - 92%; mùa mưa chính từ tháng 9 đến tháng 12, khu vực miền núi có thêm mùa mưa phụ tháng 5 - 8 do ảnh hưởng của chế độ thời tiết Tây Nguyên.
  • Sinh cảnh: Phân hóa thành 7 dạng sinh cảnh đặc trưng gồm rừng tự nhiên (trên 300 m); rừng trồng keo và bạch đàn (dưới 300 m); trảng cỏ - cây bụi; khu dân cư và nương rẫy canh tác; sông suối và thủy vực phụ cận; ruộng lúa nước; bãi cát ven biển.
  • Tình trạng rừng: Rừng giàu tự nhiên chỉ còn 3.944 ha (chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với 86.281 ha rừng phục hồi và 21.341 ha rừng trung bình), cho thấy thảm thực vật nguyên sinh đã bị suy thoái và phân mảnh nghiêm trọng.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết vật liệu nghiên cứu gồm 264 mẫu vật thực tế thu thập được trong 20 đợt khảo sát (135 mẫu lưỡng cư, 52 mẫu thằn lằn, 58 mẫu rắn, 19 mẫu rùa), hiện lưu giữ tại Khoa Sinh học - Đại học Sư phạm Huế và Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật. Chương này chuẩn hóa toàn bộ quy trình khảo sát 27 tuyến tại 11 huyện/thị/thành phố, kỹ thuật xử lý định hình mẫu cồn, kỹ thuật đo đạc các số đo hình thái sinh học theo tiêu chuẩn quốc tế cho từng taxon, và phương pháp tính toán chỉ số tương đồng Sorensen-Dice thông qua phần mềm PAST.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 là phần trọng tâm của luận án, tập trung vào 4 nhóm kết quả:

1. Thành phần loài và cấu trúc phân loại học

Luận án xác định tại vùng phía Bắc Đèo Cù Mông có 111 loài LCBS thuộc 66 giống, 27 họ và 3 bộ. Dữ liệu ghi nhận gồm 91 loài có mẫu vật thực tế, 8 loài xác định qua ảnh chụp thẩm định và 12 loài kế thừa từ tài liệu tin cậy đã công bố.

Nhóm động vật Bộ / Phân bộ Số họ Số giống Số loài Tỷ lệ loài trong khu hệ (%)
Lớp Lưỡng cư (Amphibia) Bộ Không đuôi (Anura) 6 14 30 27,03%
Lớp Bò sát (Reptilia) Phân bộ Thằn lằn (Sauria) 6 12 22 19,82%
Phân bộ Rắn (Serpentes) 10 26 40 36,04%
Bộ Rùa (Testudines) 5 14 19 17,11%
Tổng cộng toàn khu hệ 3 bộ 27 66 111 100,0%

Trong cấu trúc phân loại của lớp Lưỡng cư, họ Ếch nhái chính thức (Dicroglossidae) chiếm 4 giống (28,57% số giống LC), họ Ếch nhái (Ranidae) chiếm 3 giống (21,43%), các họ Cóc (Bufonidae), Nhái bầu (Microhylidae), Ếch cây (Rhacophoridae) mỗi họ có 2 giống (14,29%), họ Cóc mày (Megophryidae) có 1 giống (7,14%). Ở lớp Bò sát, Bộ Có vảy (Squamata) chiếm ưu thế tuyệt đối với 16 họ (76,19% tổng số họ bò sát) và 38 giống (73,08% tổng số giống bò sát).

Luận án đã ghi nhận bổ sung 79 loài LCBS cho khu hệ tỉnh Bình Định so với các công bố trước đó, bao gồm:

  • 27 loài lưỡng cư (tiêu biểu: Ingerophrynus macrotis, Ophryophryne hansi, Amolops spinapectoralis, Hylarana attigua, Odorrana banaorum, Rhacophorus annamensis...).
  • 18 loài thằn lằn (tiêu biểu: Acanthosaura capra, Draco indochinensis, Leiolepis guentherpetersi, Cyrtodactylus pseudoquadrivirgatus, Scincella rufocaudata, Dopasia sokolovi...).
  • 25 loài rắn (tiêu biểu: Chrysopelea ornata, Hebius leucomystax, Naja atra, Naja kaouthia, Trimeresurus vogeli...).
  • 9 loài rùa cạn và rùa nước ngọt (tiêu biểu: Platysternon megacephalum, Cuora cyclornata, Heosemys grandis, Mauremys sinensis, Sacalia quadriocellata, Siebenrockiella crassicollis...).

Luận án xác nhận sự xuất hiện của 4 loài rùa chưa từng được ghi nhận tại phân khu địa lý Trung Trung Bộ gồm: Rùa hộp lưng đen (Cuora amboinensis), Rùa cổ bự (Siebenrockiella crassicollis), Rùa đất lớn (Heosemys grandis) và Rùa ba gờ (Malayemys subtrijuga). Đồng thời, loài Rùa bốn mắt (Sacalia quadriocellata) vốn được cho là có giới hạn phân bố phía Nam tại Đà Nẵng, nay được phát hiện có mặt tại Bình Định, mở rộng ranh giới phân bố xuống phía Nam Đèo Hải Vân.

Ngược lại, luận án loại bỏ khỏi danh mục phân tích đối với Cá sấu (do là cá thể nuôi thương phẩm tại Bồng Sơn du nhập từ nơi khác) và Rùa tai đỏ Trachemys scripta elegans (loài ngoại lai xâm hại). Đối với loài Giải (Pelochelys cantorii), do không thu được mẫu và thông tin phỏng vấn chưa đủ căn cứ xác thực nên tác giả chỉ ghi nhận theo tài liệu cũ và đề nghị cần nghiên cứu chuyên sâu.

2. Đặc điểm hình thái học của các loài thu mẫu

Luận án tiến hành mô tả chi tiết các số đo hình thái, đặc điểm vảy, công thức màng bơi và biến thiên màu sắc cho 74 loài thu được mẫu vật đầy đủ trong vùng nghiên cứu, lập thành hệ thống dữ liệu tham chiếu hình thái phục vụ định loại sinh học tại miền Trung.

3. Phân tích sinh thái học và phân bố

  • Phân bố theo tần suất: Các loài có tần suất bắt gặp cao (+++) chủ yếu là các loài thích nghi rộng với môi trường nhân sinh như Microhyla fissipes, Hylarana guentheri, Polypedates megacephalus, Calotes versicolor, Hemidactylus frenatus, Eutropis multifasciatus, Xenopeltis unicolor, Bungarus fasciatus, Trimeresurus albolabris. Phần lớn các loài đặc hữu và quý hiếm có tần suất bắt gặp thấp (+) do số lượng cá thể ít và nơi ở bị chia cắt.
  • Phân bố theo nơi ở và sinh cảnh: Rừng tự nhiên trên núi đá và núi đất có độ đa dạng loài cao nhất, là sinh cảnh cư trú của các loài lưỡng cư bám đá, cóc núi và các loài rùa cạn quý hiếm. Bãi cát ven biển là nơi ở chuyên biệt của giống Nhông cát (Leiolepis guttata, Leiolepis guentherpetersi). Các vực nước ngọt (sông, suối, hồ) tập trung nhóm rùa nước ngọt và rắn nước.
  • Phân bố theo độ cao: Đa dạng thành phần loài thay đổi rõ nét theo đai cao. Đai dưới 300 m có thành phần loài phong phú nhất nhưng chủ yếu là các loài phổ biến; đai trên 300 m đến 1.000 m là nơi lưu giữ các loài quý hiếm, đặc hữu của vùng núi Trường Sơn Nam.

4. Quan hệ địa lý động vật học

Sử dụng chỉ số tương đồng Sorensen-Dice, luận án so sánh thành phần loài của Bình Định với hai phân khu theo Bain et al. (2011) là Vùng núi Trung Trường Sơn (CAN) và Vùng đất thấp Trung - Nam Việt Nam (CSL), cũng như với các tỉnh lân cận (Quảng Ngãi, Phú Yên, Gia Lai, Kon Tum). Kết quả phân tích cụm trên PAST chỉ ra rằng khu hệ LCBS Bình Định mang tính chất chuyển tiếp: có mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với khu hệ vùng núi Trung Trường Sơn ở các huyện phía Tây, đồng thời chia sẻ các yếu tố đồng bằng ven biển với vùng đất thấp duyên hải phía Nam Đèo Cù Mông.

5. Hiện trạng bảo tồn và các yếu tố đe dọa

Khu hệ ghi nhận 30 loài nguy cấp, quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ IUCN (2015) và các Nghị định 32/2006/NĐ-CP, 160/2013/NĐ-CP. Ba nhóm yếu tố đe dọa chính gồm: mất và suy thoái sinh cảnh rừng tự nhiên; tình trạng săn bắt, thương mại động vật hoang dã trái phép làm thực phẩm, dược liệu và sinh vật cảnh; sự biến đổi môi trường nước tại các lưu vực sông hồ.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn của luận án gồm:

  1. Đóng góp về phân loại học và khu hệ học:
    • Xây dựng danh lục cập nhật đầy đủ nhất về thành phần loài LCBS vùng phía Bắc Đèo Cù Mông (tỉnh Bình Định) gồm 111 loài thuộc 66 giống, 27 họ, 3 bộ.
    • Ghi nhận bổ sung lần đầu tiên cho khu hệ tỉnh Bình Định 79 loài (27 loài lưỡng cư, 25 loài rắn, 18 loài thằn lằn, 9 loài rùa).
    • Bổ sung dẫn liệu hình thái học chi tiết, số đo giải phẫu và đặc điểm sinh thái của 74 loài có mẫu vật thu thập tại thực địa.
  2. Đóng góp về địa lý động vật học:
    • Ghi nhận mới cho phân khu địa lý động vật Trung Trung Bộ 4 loài rùa cạn và rùa nước ngọt (Cuora amboinensis, Siebenrockiella crassicollis, Heosemys grandis, Malayemys subtrijuga).
    • Mở rộng vùng phân bố về phía Nam của loài Rùa bốn mắt (Sacalia quadriocellata) vượt qua ranh giới tự nhiên Đèo Hải Vân vào đến Bình Định.
    • Cung cấp dẫn liệu thực chứng khẳng định tính chất giao thoa, chuyển tiếp của khu hệ LCBS Bình Định giữa hai phân khu địa lý CAN và CSL theo phân loại của Bain et al. (2011).
  3. Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất:
    • Xác định 5 khu vực ưu tiên bảo tồn sinh cảnh và các loài LCBS nguy cấp tại Bình Định gồm: Khu bảo tồn thiên nhiên An Toàn (An Lão), vùng rừng Vĩnh Thạnh, vùng rừng Vân Canh, khu vực Núi Bà (Phù Cát) và vùng đầm phá ven biển (Trà Ổ, Quy Nhơn).
    • Cung cấp bộ mẫu chuẩn gồm 264 mẫu vật phục vụ nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành Động vật học tại Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế.
    • Đề xuất các biện pháp quản lý gồm: siết chặt kiểm soát săn bắt thương mại, quy hoạch hành lang bảo tồn sinh cảnh rừng tự nhiên, và nghiên cứu nhân nuôi sinh sản đối với một số loài bò sát có giá trị kinh tế cao (như Rắn ráo trâu, Nhông cát) nhằm giảm thiểu áp lực khai thác từ tự nhiên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Do điều kiện địa hình chia cắt phức tạp và giới hạn thời gian khảo sát thực địa trong các tháng nắng (từ tháng 1 đến tháng 9), các đợt khảo sát chưa thể phủ kín vào mùa mưa bão (tháng 10 đến tháng 12) khi một số loài lưỡng cư có tập tính sinh sản đặc thù hoạt động mạnh.
  • Đối với nhóm bò sát biển, luận án chưa tổ chức điều tra khảo sát thực địa mà chủ yếu kế thừa từ các tài liệu đã công bố trước đây.
  • Một số loài quý hiếm như Giải (Pelochelys cantorii) chưa thu thập được mẫu vật thực tế mà chỉ dừng lại ở ghi nhận thư tịch cũ; một số loài rùa quý chỉ ghi nhận qua ảnh chụp và phỏng vấn mà không thu mẫu trực tiếp do yêu cầu bảo tồn cá thể sống.
  • Phương pháp giám định chủ yếu dựa trên hình thái học so sánh; việc ứng dụng chỉ thị sinh học phân tử mới chỉ thực hiện lấy mẫu mô/gan lưu trữ cồn 95% cho một số cá thể mà chưa phân tích DNA toàn diện cho toàn bộ các taxon phức hợp.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tiếp tục khảo sát bổ sung vào mùa mưa tại các sinh cảnh núi cao hiểm trở thuộc các huyện An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh để phát hiện thêm các ghi nhận loài mới.
  • Triển khai điều tra thực địa chuyên đề đối với nhóm rùa biển và bò sát biển dọc dải bờ biển và các đầm phá của tỉnh Bình Định.
  • Áp dụng kỹ thuật sinh học phân tử (giải trình tự gen ty thể và gen nhân) đối với các nhóm loài có tính biến dị hình thái phức tạp (như giống Limnonectes, Odorrana, Cyrtodactylus).
  • Nghiên cứu sâu về sinh thái quần thể, tập tính sinh sản và hoàn thiện quy trình kỹ thuật nhân nuôi bảo tồn các loài nguy cấp, đặc hữu có giá trị kinh tế.

Giá trị tham khảo

Luận án là công trình tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Động vật học, Sinh thái học, Bảo tồn Đa dạng sinh học: Bản mô tả chi tiết các chỉ tiêu hình thái học của 74 loài cùng hệ số đo lường, công thức màng bơi và bảng chỉ số tương đồng Sorensen-Dice là tài liệu tham khảo chuẩn mực phục vụ định loại và nghiên cứu so sánh khu hệ.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Chi cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Định): Danh lục 111 loài kèm phân hạng bảo tồn và bản đồ 27 tuyến khảo sát là luận cứ khoa học trực tiếp để xây dựng đề án thành lập, mở rộng các khu bảo tồn thiên nhiên (như An Toàn, Núi Bà), lập kế hoạch khoanh vùng sinh cảnh cần bảo vệ nghiêm ngặt và quản lý hoạt động buôn bán động vật hoang dã trên địa bàn.
  • Đối với các tổ chức bảo tồn thiên nhiên trong nước và quốc tế: Dữ liệu về vùng phân bố mới của các loài rùa nguy cấp (Cuora cyclornata, Sacalia quadriocellata, Cuora bourreti) cung cấp tọa độ thực địa quan trọng để xây dựng các chương trình cứu hộ và bảo tồn loài tại miền Trung Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đã ghi nhận bao nhiêu loài lưỡng cư, bò sát tại vùng nghiên cứu và bổ sung bao nhiêu loài mới cho tỉnh Bình Định?

Luận án đã ghi nhận tổng cộng 111 loài LCBS thuộc 66 giống, 27 họ và 3 bộ. So với các công bố trước đó, luận án ghi nhận bổ sung 79 loài cho tỉnh Bình Định, bao gồm 27 loài lưỡng cư, 18 loài thằn lằn, 25 loài rắn và 9 loài rùa.

2. Phát hiện mới nào của luận án có ý nghĩa quan trọng nhất đối với ranh giới phân bố địa lý động vật học của nhóm rùa?

Luận án lần đầu tiên ghi nhận 4 loài rùa chưa từng được xác nhận tại phân khu địa lý Trung Trung Bộ là Rùa hộp lưng đen (Cuora amboinensis), Rùa cổ bự (Siebenrockiella crassicollis), Rùa đất lớn (Heosemys grandis) và Rùa ba gờ (Malayemys subtrijuga). Đồng thời, luận án phát hiện loài Rùa bốn mắt (Sacalia quadriocellata) tại Bình Định, chứng minh vùng phân bố của loài này mở rộng vượt qua Đèo Hải Vân về phía Nam.

3. Tác giả đã sử dụng những công cụ, thiết bị và phần mềm nào để thu thập và xử lý số liệu?

Tác giả sử dụng máy định vị GPS Garmin 60CX để xác định tọa độ và độ cao các tuyến khảo sát; sử dụng thước kẹp điện tử C-MART D0024-06 (sai số 0,01 mm) để đo đạc các chỉ tiêu hình thái học; và sử dụng phần mềm chuyên dụng PAST (PAleontological STatistics) để phân tích thống kê đa biến, tính toán chỉ số tương đồng Sorensen-Dice ($d_{jk} = 2M / (2M+N)$) nhằm so sánh khu hệ.

4. Cấu trúc taxon của khu hệ bò sát và lưỡng cư tại vùng phía Bắc Đèo Cù Mông có đặc điểm gì nổi bật?

Bộ Có vảy (Squamata) chiếm ưu thế lớn nhất trong toàn bộ khu hệ với 16 họ (chiếm 59,25% tổng số họ) và 38 giống (chiếm 57,57% tổng số giống). Tiếp theo là Bộ Rùa (Testudines) với 5 họ, 14 giống và Bộ Không đuôi (Anura) với 6 họ, 14 giống. Họ chiếm số lượng giống nhiều nhất ở lớp Lưỡng cư là họ Ếch nhái chính thức Dicroglossidae (4 giống).

5. Vì sao các loài bò sát biển, cá sấu và rùa tai đỏ không được đưa vào danh mục phân tích thành phần loài thực địa của khu hệ bản địa?

Bò sát biển không được khảo sát thực địa trong nghiên cứu này do đề tài giới hạn phạm vi vào động vật đất liền và nước ngọt (chỉ kế thừa tài liệu cũ). Cá sấu tại Bồng Sơn được xác định là cá thể nuôi thương phẩm nhập cư từ địa phương khác, không phải loài bản địa tự nhiên. Rùa tai đỏ (Trachemys scripta elegans) tuy bắt gặp với số lượng nhiều ngoài tự nhiên nhưng là loài ngoại lai xâm hại, không thuộc thành phần tự nhiên của khu hệ bản địa.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Dương Đức Lợi đã khảo sát toàn diện và hệ thống khu hệ lưỡng cư và bò sát vùng phía Bắc Đèo Cù Mông (tỉnh Bình Định), ghi nhận 111 loài thuộc 66 giống, 27 họ và 3 bộ, trong đó bổ sung 79 loài cho địa phương. Kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ cấu trúc phân loại, đặc điểm hình thái của 74 loài thu mẫu, đặc tính phân bố sinh thái theo sinh cảnh và đai cao, cùng mối quan hệ chuyển tiếp giữa các phân khu địa lý động vật học miền Trung. Công trình cung cấp bộ dữ liệu 264 mẫu vật chuẩn và đề xuất các giải pháp bảo tồn có căn cứ khoa học vững chắc cho công tác quản lý tài nguyên đa dạng sinh học tại tỉnh Bình Định.