CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ GTVT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Ngay từ những năm của thế kỷ XX, do yêu cầu phát triển công nghiệp, dịch vụ và thương mại nên tư tưởng cải cách giáo - dục đào tạo nghề nghiệp đã xuất hiện ở một số nước công nghiệp phát triển. Người ta nhận thấy rằng phương thức đạo tạo truyền thống theo hệ bài – lớp - khoá học - niên chế đã có những biểu hiện không đáp ứng được nhu cầu của xã hội lúc đó.
Nhiều nơi, nhiều ngành nghề đã thực hiện nguyên tắc “cần gì học nấy” không nhất thiết phải học hoàn chỉnh một nghề. Người học có nhu cầu đến đâu thì học đến đó và cũng không nhất thiết phải quy định cứng nhắc về thời gian học tập, khai giảng, bế giảng khóa học. Ở Anh những năm 60 của thế kỷ XX, Nghiên cứu của (Taylor & Francis Groups (1994) [128 tr 45-46] đã cho thấy việc học tập dựa trên nhu cầu xã hội hay là NLTH (Competency Based Training) có thể là trọng tâm đối với công tác nghiên cứu và triển khai dưới sự tài trợ của Hội đồng quốc gia về đào tạo nghề nghiệp và cơ quản lý đào tạo được thực hiện ở các trường đại học và cao đẳng khác nhau nhưng kết quả cho thấy giáo dục đại học ít được hưởng lợi từ các kết quả nghiên cứu và vì vậy người ta đã ít quan tâm đến việc nghiên cứu lĩnh vực này.Dưới áp lực của kinh tế xã hội, đặc biệt là của sản xuất công nghiệp, dịch vụ, thương mại, việc đào tạo có những đổi mới đáng kể. Phương thức đào tạo theo bài – lớp, chương trình, giáo trình cứng nhắc, không còn giữ vai trò chính thống nữa., (2008) [141]Công trình nói tới sự hạn chế của người lao động tại Boston khi sử dụng ngoại ngữ (chủ yếu do yếu tố ngoại lai, người lao động đến từ các vùng lãnh thổ không sử dụng tiếng Anh), làm thành một trong những yếu kém của người lao động trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa; ảnh hưởng tới chất lượng lực lượng lao động nói chung của Hoa Kì.
Ngay từ những năm 70 của thế kỷ XX, Nghiên cứu của (Kathleen Santopietro Weddel) [123 tr56], đã đưa ra một phương thức mới là giáo dục - dạy học theo nhu cầu xã hội hay NLTH được quan tâm phát triển mạnh và đã được chấp nhận, vận dụng một cách phổ biến ở Bắc Mỹ, nhu cầu về giáo dục và dạy học đã tạo thành 9 một áp lực và thách thức đối với giáo dục đào tạo. Tại Mỹ từ những thập niên 1970 đã có những nghiên cứu triển khai trong việc xây dựng các bộ mô đun đào tạo giáo viên kỹ thuật nghề nghiệp dựa trên nhu cầu lao động và sự thực hiện (Performance Based Teachers’ Education Modules - PBTE Modules). Kết quả đã đưa ra được 600 kỹ năng trong đào tạo giáo viên kỹ thuật - dạy nghề. Từ 30 năm trở lại đây, dạy học dựa trên nhu cầu lao động được ứng dụng rộng rãi trong giáo dục đào tạo, đặc biệt là gần đây phù hợp với đào tạo nghề.
Đào tạo theo phương thức này không lấy thời gian quy định cho khoá học mà dùng lượng kiến thức và kĩ năng theo tiêu chuẩn chuyên môn được quy định (Standard of Profession) cho một nghề làm đơn vị đo. Ở Australia vào cuối thập kỉ 80 thế kỷ XX đã bắt đầu một cuộc cải cách đào tạo, thiết lập một hệ thống đào tạo dựa trên nhu cầu người học, tạo ra phương pháp công nhận các kĩ năng của người nhập cư, thành lập hội đồng quốc gia về đào tạo dựa trên nhu cầu người học để xúc tiến việc xây dựng tiêu chuẩn năng lực ổn định trong toàn quổc. Ba yếu tố được coi là then chốt trong quá trình vận động đến một hệ thống đào tạo dựa trên nhu cầu của người học. [Andrew Smith(1998)[115 tr36], Tổ chức thực hiện dạy và học dựa trên các tiêu chuẩn dưới cả hai hình thức đào tạo tại chỗ làm việc và ngoài chỗ làm việc ở những nơi thích hợp.
Đó là các nội dung đào tạo có kiểu cấu trúc theo hộ thống các mô đun. Đặc biệt, có loại tài liệu mô đun kỹ năng hành nghề tích hợp một cách chặt chẽ giữa các lĩnh vực kiến thức, kĩ năng cho người học, chúng được xây dựng thành “ngân hàng”, có thể xếp chồng và “lắp ghép” lẫn nhau theo phần công việc trọn vẹn của nghề mà người học cần đến. Đây được coi là mô hình rõ ràng về đào tạo nghề dựa trên nhu cầu người học và năng lực của người học. Việc phát triển nguồn nhân lực được rất nhiều giới, ngành, các nhà chính trị, kinh doanh, nghiên cứu mà đặc biệt trong giáo dục là môt vấn đề được quan tâm trong thời gian gần đây.
Điểm trung tâm của những nỗ lực phát triển nguồn nhân lực được mọi người nhất trí và chú trọng tập trung vào 2 chủ đề chính là “Học tập và nâng cao chất lượng vì hiệu quả thực hiện nhiệm vụ ” (Shirley Fletcher)[127, tr. Bằng việc chú trọng vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, hiện nay rất phổ biến trên toàn thế giới. Được hình thành và phát triển rộng khắp tại Mỹ vào những năm 1970 trong phong trào đào tạo và giáo dục. Các nhà giáo dục và đào tạo nghề dựa trên việc thực hiện nhiệm vụ, các tiếp cận về khả năng người học và nhu cầu lao động đã phát 10 triển một cách mạnh mẽ trên một nấc thang mới trong những năm 1990 với hàng loạt các tổ chức có tầm cỡ quốc gia ở Mỹ, Anh, Úc, New Zealand, xứ Wales, vv.
Davos Kloster (2014), Ông cho rằng Kỹ năng là một tài sản quan trọng của các cá nhân khi tham gia lao động tại các doanh nghiệp và xã hội. Tầm quan trọng của kỹ năng ngày càng được nâng cao trong một thế giới năng động và hội nhập. Xây dựng các kỹ năng cơ bản, bằng cách mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục ngay từ thuở ban đầu, là điều cần thiết. Mặt khác, cũng rất quan trọng để đảm bảo rằng các kỹ năng của người lao động đã được học tại các trường có thể vận dụng trong quá trình làm việc; rằng những kĩ năng đó được duy trì và tiếp tục cải thiện trong thời gian làm việc; rằng người lao động được ghi nhận và vận dụng kĩ năng đó khi họ tham gia thị trường lao động [145] Vấn đề này đã thúc đẩy và khuyến khích bởi những áp lực chính trị như là cách thức để chuẩn bị lực lượng lao động cho nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu.
Sở dĩ có sự phát triển mạnh mẽ này là do rất nhiều học giả và các nhà thực hành phát triển nguồn nhân lực xem tiếp cận này là cách thức có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, được ủng hộ mạnh mẽ nhất [122 tr78] để cân bằng giáo dục, đào tạo và những đòi hỏi tại nơi làm việc [120 tr10] và là “cách thức để chuẩn bị lực lượng lao dộng cho một nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu” [124, tr.1], và “một câu trả lời mạnh mẽ đối với các vấn đề mà các tổ chức và cá nhân đang phải đối mặt trong thế kỷ thứ 21 [128, tr. Tác giả Rothwell và Lindholm [126 tr46] viết: Nhũng người chuyên làm công tác đào tạo và phát triển đang sử dụng mô hình khả năng của người học để xác định một cách rõ ràng những khả năng cụ thể của từng tổ chức để nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc thực hiện nhiệm vụ và thống nhất các khả năng của cá nhân với các năng lực cốt lõi của tố chức. Do những đặc tính và ưu điểm của đào tạo dựa vào yêu cầu thị trường lao động do vậy các mô hình đào tạo hướng vào thị trường lao động được xác định đã và đang được xây dựng, phát triển và sử dụng như là những công cụ cho việc phát triển rất nhiều chương trình Giáo dục,đào tạo và phát triển khác nhau trên toàn thế giới [131]. * Kinh nghiệm điển hình của một số nước trên thế giới về đào tạo nghề Trên thế giới, đặt biệt là các nước phát triển luôn đề cao công tác đào tạo nghề, có sự định hướng ngay từ khi còn đang học trong các trường phổ thông.
Như ở Nhật 11 bản, Mỹ, Đức, Trung quốc, Hàn quốc…đã có những công cụ tâm lý để kiểm tra và giúp phân hoá năng lực, hứng thú nhằm giúp trẻ phát triển đúng hướng. Ở Cộng hoà pháp: Vào giữa thế kỷ XIX (năm 1894) xuất hiện nhiều cuốn sách mang nội dung đề cập tới vấn đề phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển công nghiệp. Nội dung cuốn sách khẳng định tính cấp thiết phải hướng nghiệp, trang bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất có nghề nghiệp phù hợp với năng lực của mình và xã hội. [88] Ở CHLB Đức: Vấn đề đào tạo nghề nghiệp đã được nhiều nhà giáo dục học nổi tiếng thuộc tổ chức nghiên cứu về lao động, kỹ thuật và kinh tế trong hoạt động dạy nghề của Cộng hoà liêng bang Đức.
Các công trình nghiên cứu đã làm sáng tỏ về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo nghề nghiệp, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên phát triển thành những con người trưởng thành trong cuộc sống lao động và xã hội.[88] UNESCO: Jacques DeIors, Chủ tịch uỷ ban Quốc tế độc lập về giáo dục cho thế kỷ XXI của UNESCO khi phân tích “Những trụ cột của giáo dục” đã viết “Học tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại, đó là bốn trụ cột mà uỷ ban đã trình bày và minh hoạ những nền tảng của giáo dục”. Trong đào tạo, đặc biệt là đào tạo nghề trong giai đoạn hiện nay, các trường dạy nghề gắn bó chặt chẽ với các cơ sở sản xuất và dịch vụ. Kết hợp với đào tạo phong phú và đa dạng góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề.Trong hơn một thập kỉ qua, hệ thống giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề của Trung Quốc có những đổi mới liên quan đến chính sách. Chính phủ Trung Quốc xây dựng hệ thống các cơ sở đào tạo nghề một cách bài bản từ đào tạo trung học, kĩ thuật, nâng cao, đến các cơ sở phi Chính phủ, đội ngũ giảng dạy ở các CSDN có kiến thức chuyên môn lẫn kinh nghiệm thực tiễn cao, có định hướng kế hoạch giảng dạy và ổn định đội ngũ chuyên môn.