CHƯƠNG 1 TONG QUAN CÁC VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. TONG QUAN VE VAT LIEU HYDROXIT LỚP KEP (LDHs) 1. Giới thiệu về vat liệu hydroxit lớp kép (LDHs) Các hydroxit lớp kép (Layered Double Hydroxides — LDHs) đã được biết đến từ hơn 150 năm trước đây. Công thức chung của các LDHs là: [M”*).
Chúng còn được gọi là vật liệu giống hiđrotalcite hay đơn giản là vật liệu hiđrotalcite (HT) theo tên gọi của một khoáng sét trong họ, ton tại trong tự nhiên với công thức chính xác là MgsAlz(OH)ieCOa. Trong những năm gần đây, các vật liệu dạng hydroxit lớp kép (LDHs) được quan tâm nghiên cứu do cấu trúc đặc biệt của chúng. Về bản chất, các lớp hydroxit trong hệ vật liệu này chồng xếp lên nhau và xen giữa các lớp hydroxit là các anion hữu cơ hoặc vô cơ. Lớp xen giữa 2 lớp hydroxit cũng có thê là chất trung tính hoặc cation (lớp hydroxit hoặc muối của hydroxit) hoặc anion hữu cơ/vô cơ hoặc cả hai.
Trong trường hợp chứa cả anion hữu cơ và vô cơ, chúng được gọi là vật liệu lai hữu cơ — vô cơ (OIHM) [26]. Nhờ đó, vật liệu 2 lớp hydroxit có khả năng trao đổi anion và hỗ trợ xúc tác oxi hóa — khử [63]. Cấu trúc của vật liệu hydroxit lớp kép LDHs Cấu trúc của LDHs tương tự các hydroxit đơn giản của kim loại hóa trị hai, chăng hạn như brucite Mg(OH)›, trong đó tắm hydroxit được hình thành bởi sự kết hợp của các bát diện M(OH)s (M = Mg, Ca, Cd, Fe, Ni, Cu.) nối với nhau ở các cạnh theo kiểu cau trúc Cdl›. Lớp hydroxit: là hỗn hợp của các hydroxit của các kim loại hóa tri (TT) và hóa tri (IID), tại đỉnh là các nhóm OH, tâm là các kim loại hóa tri 2 và 3, có cấu trúc tương tự như cấu trúc brucite trong tự nhiên.
Trong lớp hydroxit một phần kim loại hóa tri (II) được thay thế bởi kim loại hóa trị (HD nên lớp hydroxit mang điện dương và được bù bởi anion CO3* xen giữa các lớp. Trên thực tế, vật liệu LDHs không đơn thuần chỉ chứa kim loại hóa trị II mà thường có mặt thêm một nguyên tố kim loại hóa trị III, thông thường là hệ gồm magiê và nhôm hydroxit (còn gọi là hidrotalcite) [35]. Các tắm kim loại hydroxit đan xen lần lượt tạo thành cấu trúc lớp LDHs. Khoảng không gian giữa 2 tam hydroxit liền kề chứa các phân tử nước hấp phụ và anion vơ cơ hay hữu cơ tùy thuộc vào thành phần nguyên tố hóa tri IIIL Nếu như trong tam hydroxit có mặt ion hóa trị II dẫn đến hiện tượng dư thừa điện tích đương trong công thức câu tạo hydroxit.
Do đó, các anion vô cơ như cacbonat, sulfat, nitrat. được chèn vào khoảng không gian giữa 2 lớp hydroxit lién ké dé trung hoa dién. Vi thé, trong vật liệu LDHs luôn có mặt các anion va các phân tử nước nam giữa 2 lớp hydroxit. Liên kết giữa các ion với lớp hydroxit là liên kết tĩnh điện.
Không có giới hạn cho các anion nhưng các anion này phải thỏa mãn các điều kiện sau [40]: - Ôn định trong điều kiện hoạt động, - Phù hợp giữa kích thước anion và hình học hoặc hình học với thể tích không gian của lớp đan xen giữa 2 lớp hydroxit liền kề. Một lượng lớn anion có thé được chèn vào không gian giữa các lớp như: - Anion đơn: CO”, OH’, F, Cl, Br, I, NO*, CIO* - lon phức halogen: [NiCl4] 7, [CoC] 4] 7, [IrCl 6] * - Ion phức Xyanua: [Fe(CN) 6] *, [C(CN) 6] *, [Mo(CN) s]*. - lon phức oxo:: [Mo0,(0,CC(S)Ph;)3] - Các hợp chat Macroclinical: metalloporphyrins, metallophthalocyanines. - Oxometalat: chromat, vanadat, molybdat.
- Anion hữu cơ hoặc các polyme: anion của axit adipic, axit oxalic, axit malonic hoặc polyacrylate v. Lưu ý rằng có sự khác biệt rất rõ giữa các nhóm vô cơ và hữu cơ. Các anion nhóm vô cơ thích hợp cho các lớp đan xen kích thước nhỏ trong khi các ion hữu co phù hợp cho các lớp đan xen lớn hơn. Nói chung, các anion đơn giản được sử dung (CO7, OH’, halogenua.) thường hay gặp hơn cả dé trung hòa điện tích dư thừa trong LDHs [43, 49].
Lớp xen giữa hai tắm hydroxit bát diện cứ thế luân phiên xếp chồng lên nhau làm cho LDHs có cấu trúc lớp, lớp hydroxit liên kết với lớp xen giữa bang lực hút tĩnh điện (hình 1. Liên kết giữa các phân tử nước và các anion trong lớp xen giữa là liên kết hiđro. Các anion và các phân tử nước trong lớp xen giữa được phân bố một cách ngẫu nhiên và có thé di chuyên tự do không định hướng, các anion khác có thé thêm vào hoặc bị loại bỏ trong lớp xen giữa nhưng không làm thay đổi tinh chất của LDHs. Khoảng cách lop co bản t Lop xen giữa © Cac amon A” @ Các phân ty nước | Lớp Brucite @ Cation kim loại MỸ” hoặc M** © Cac anton OH Hình 1.
Hình dang cấu trúc lép của LDHs[35] 1. Tính chất của LDHs e_ Tính chất trao đôi ion Các đa kim loại hay các oxit kim loại trong dung dịch có sức hấp dẫn rất lớn với các LDHs, do đó LDHs trở thành một trong những hợp chất chủ yếu dé trao đôi ion. Phương pháp trao đổi ion có dang sau: [M2*M3+A] + A”-=[M?*M3*A°]+ A- Trong đó A là anion lớp xen giữa A’ là anion cần trao đổi hoặc viết dạng rút gọn: HT-A’ + A = HT-AA’ HT-A: HT có 1 anion xen giữa A’ HT-AA’: HT có 2 anion xen giữa cùng tồn tại, do quá trình trao đổi không hoàn toàn, A không trao đôi hết với A’. Sự trao đôi thuận lợi với các anion có mật độ điện tích cao.
Sự trao đổi anion trong hydroxit lớp kép phụ thuộc vào các yếu tổ sau: - Sự tương tác tĩnh điện của lớp hydroxit tích điện dương với anion xen giữa và năng lượng tự do các anion cần trao đôi. - Ái lực trao đôi của lớp hydroxit với các anion cần trao đồi trong dung dịch và ái lực của lớp hydroxit với anion trong lớp xen giữa. - Cấu tạo cong kénh của ion cần trao đổi (A). - Hang số cân bang tăng khi bán kính anion giảm, trao đổi ion sẽ thuận lợi với các anion trong dung dịch có nồng độ cao.
- Quả trình trao đổi anion. - Anion hóa tri II được ưu tiên hơn anion hóa tri I và thời gian trao đôi cũng nhanh hơn. - Sự trao đổi ion còn có sự ưu tiên đối với các ion có cấu tạo giống với một trong những ion ban đầu. - Khả năng trao đổi anion còn phụ thuộc vào pH của dung dịch [86].
e Tính chất hấp phụ Cùng với khả năng trao đổi ion, tính chất hấp phụ cũng rất quan trọng để ứng dụng của vật liệu LDHs cho các quá trình vật lý. Các chất hấp phụ không chỉ phụ thuộc vào mật độ điện tích mà còn do sự hình thành các liên kết hiđro giữa lớp hydroxit và chất bị hấp phụ [63]. Các phương pháp điều chế LDHs LDHs có thé được điều chế trực tiếp từ các dung dịch muối kim loại, oxit kim loại hay điều chế từ những khoáng tự nhiên bằng cách trao đổi anion hay nung rồi hydrat hóa trở lại với một anion khác dé sap xép lại cấu trúc. Một số phương pháp đã được sử dung dé tổng hợp hydroxit lớp kép như: phương pháp muối — bazo, phương pháp muối — oxit, phương pháp đồng kết tủa.
trong đó phương pháp đồng kết tủa tạo ra các tinh thể LDHs là phổ biến nhất [18, 86]. * Phương pháp muối — bazo: Năm 1942, Feikenecht và Geber lần đầu tiên tông dãy các hidrotalcite [Mg — Al] từ hỗn hợp muối của hai kim loại trên với dung dịch bazơ kiềm khác nhau (COs?, SOz?, CH3COO)). Đây là phương pháp được sử dụng phô biến nhất dé điều chế hiđrotalcite carbonat (HTC) của hai (hoặc lớn hơn) cation kim loại hóa tri II và kim loại hóa tri I. Sau Feitkenecht và Geber phương pháp này được tiếp tục phát triển dựa trên sự thay đổi các thông số như: nồng độ các chất, điều kiện lọc, rửa và điều chỉnh pH.
Đây chính là những yếu tố quyết định sự hình thành của hidrotalcite carbonat (HTC) [124]. * Phương pháp muối — oxi: Phương pháp nay được Boehm, Steinle va Vieweger sử dụng lần đầu tiên năm 1977 dé điều chế các hydroxit lớp kép [Zn-Cr-Cl]. Quá trình thực nghiệm bao gồm tạo huyền phù ZnO từ lượng dư dung dịch muối CrCl trong vài ngày ở nhiệt độ phòng. Năm 1981 cũng với những tiền chất trên Lal và Howe đã điều chế hiđrotalcite [Zn-Cr-Cl] bang cách cho ZnO (ở dạng bột nhão) vào dung dich CrCl; và khuấy trong 10 giờ.
Tuy nhiên, kết quả không thu được sản phẩm tinh khiết do vẫn còn ZnO dư. Phương pháp muối — oxit còn được dùng điều chế các loại HTC khác như: [Zn-AI-CI]; [Zn-Cr-Cl]; [Zn-Cr-NOa]; [Zn-Al-NO3]. * Phương pháp dong kết tủa: Phương pháp này tông hợp hydroxit lớp kép từ hai muối kim loại. Cho hỗn hợp muối của hai kim loại vào dung dịch muối của kim loại kiềm có tính bazơ.
Hỗn hợp dung dịch được giữ ở pH không đổi trong quá trình điều chế. Các chất tham gia phản ứng được khuấy trộn với tốc độ không đổi trong quá trình phản ứng. Ưu điểm của phương pháp đồng kết tủa ở pH có định điều chế được LDHs, tinh thé có kích thước đều đặn, nhỏ (cỡ nanomet, micromet), độ đồng nhất cao, ít tạp chất, diện tích bề mặt lớn và tỷ trọng nhỏ. Tuy nhiên cấu trúc và tính chất hóa lý của sản phẩm còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: phương pháp kết tủa, bản chất và nồng độ của chất phản ứng, pH kết tủa, nhiệt độ và thời gian già hóa, độ tinh khiết, rửa tủa và say khô [31].
* Phương pháp sol-gel: Phương pháp sol-gel lần đầu tiên được đưa ra bởi Lopez và cộng sự dé tông hợp các mẫu Mg-Al hydroxit lớp kép. Quá trình này tao ra dung dịch huyền phù dạng keo (sol) sau đó tạo thành gel (gel) do các liên kết tạo tủa bên trong. Sự hình thành LDHs là kết quả của quá trình thủy phân alkoxide kim loại. Đầu tiên các alkoxide được hòa tan trong một dung môi hữu cơ rồi đưa nước vào từ từ tạo liên kết chéo.
LDHs được tổng hợp bởi kỹ thuật này có độ đồng nhất cao, điện tích bề mặt riêng lớn và độ xốp cao. * Phương pháp trao đổi anion: Câu trúc lớp của LDHs cũng có thê xem như là do các lớp mang điện tích dương xếp chồng lên nhau giữa các tầng anion, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự khuếch tán anion trong khoảng không gian xen giữa và làm cho vật liệu hydroxit dễ dàng trao đổi các ion vô cơ. Nhờ tính chất này người ta tong hợp hydroxit mới bằng cách trao đổi anion.