CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC Liên quan đến vấn đề hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam, cũng như hội nhập kinh tế quốc tế đã có không ít tác giả tiếp cận ở các khía cạnh hoạt động và góc độ nghiên cứu khác nhau về NHTM. Dưới đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến phân tích nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng như hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian qua. Cụ thể: Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh doanh qua một số nghiệp vụ, khía cạnh chủ yếu của ngân hàng thương mại Nguyễn Thị Như Thủy (2015) với luận án tiến sĩ : “Hiệu quả tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam” [36], nghiên cứu đã nêu hiệu quả tín dụng từ góc độ ngân hàng dựa trên hai nhóm chỉ tiêu.
Nhóm chỉ tiêu thứ nhất là đo lường hiệu quả tín dụng qua việc xác định hiệu quả tín dụng cuối cùng là lợi nhuận từ HĐTD thể hiện qua quy mô và tốc độ tăng trưởng lợi nhuận từ HĐTD. Nhóm chỉ tiêu thứ hai là đo lường hiệu quả tín dụng thông qua nhóm chỉ tiêu trung gian gồm: nhóm chỉ tiêu đánh giá tín dụng chung được thể hiện qua quy mô tín dụng và chỉ tiêu phản ánh tốc độ tăng doanh số từ tín dụng, nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả trực tiếp thể hiện qua tỷ lệ nợ xấu, hiệu quả sử dụng vốn, hệ số rủi ro tín dụng, hệ số thu nợ, vòng quay vốn tín dụng. Từ việc đưa ra các chỉ tiêu phân tích, tác giả nêu các nhân tố ảnh hưởng bao gồm các nhân tố bên trong và bên ngoài ngân hàng. Từ đó tác giả đưa ra các giải pháp: nâng cao hiệu quả sử dụng vốn hợp lý, xác định vòng quay vốn tín dụng phù hợp, gia tăng tài sản có và giảm bớt rủi ro tín dụng, giảm tỷ lệ nợ xấu.
Vũ Anh Quân (2017) với luận án tiến sĩ “Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn Hà Nội”[64], luận án 12 đã hệ thống hóa những lý luận cơ bản về hiệu quả tín dụng của ngân hàng thương mại cũng như phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng của các NHTMCP trên địa bàn Hà nội. Luận án đã chỉ ra : đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần tại khu vực Hà nội nhân tố nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu có ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu quả tín dụng trong giai đoạn phân tích, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tập trung vào việc tăng trưởng tín dụng ổn định, tăng chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động vốn, nâng cao công tác định giá tài sản, giảm nợ xấu, đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020, nâng cao công tác quản lý lương nhân viên. Phùng Thị Lan Hương (2015), với luận án Tiến sĩ “Phân tích tài chính với việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Việt Nam” [51] đã cho thấy sự cần thiết phải đánh giá một cách chi tiết hoạt động kinh doanh của ngân hàng, để nhận biết, phán đoán, dự báo, đưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư, đồng thời có sự điều chỉnh nhất định nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Đồng thời nghiên cứu này đã đưa ra các phân tích tài chính bao gồm các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng gồm: (1) Quy mô vốn chủ sở hữu và hệ số an toàn vốn; (2) Nhóm chỉ tiêu về quy mô và chất lượng tài sản (được thể hiện qua chỉ tiêu tăng trưởng tổng tài sản, tỷ lệ cho vay, chất lượng tín dụng thể hiện thông qua tỷ lệ nợ xấu); (3) Các chỉ tiêu khả năng sinh lời (Lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản có bình quân (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ lãi ròng cận biên (NIM)).
Nghiên cứu đã phân tích hiệu quả hoạt động của 6 ngân hàng là Agribank, BIDV, VCB, Vietinbank, Techcombank trong giai đoạn 2009 – 2013 dựa trên các chỉ số tài chính. Lê Xuân Nghĩa (2011) Tại kỷ yếu Diễn đàn kinh tế mùa xuân 2013, nghiên cứu “Tái cấu trúc Ngân hàng thương mại - Nâng cao năng lực quản trị rủi ro”[9] đã chỉ ra rằng yếu kém của các NHTM đa phần là năng lực quản trị điều hành, hệ thốngcông nghệ thông tin và quy trình QTRRTD. Theo như kết 13 quả nghiên cứu, tái cấu trúc NHTM là cần thiết, là trọng tâm của tái cấu trúc nền kinh tế: (i) Cuộc chạy đua vốn theo nghị định số 141/2006/NĐ-CP của Chính phủ về ban hành Danh mục mức vốn pháp định của các TCTD ảnh hưởng đến năng lực quản trị, chất lượng nguồn nhân lực không đáp ứng kịp với tốc độ tăng tài sản tương ứng. Tái cấu trúc là sáp nhập tạo thành các NHTM có quy mô lớn chuẩn bị sẵn sàng vốn đối phó với rủi ro như: nợ xấu cao, tỷ suất sinh lời của vốn thấp; (ii) Hệ thống QTRR không tuân theo chuẩn mực quốc tế, do đó không đo lường được chính xác rủi ro để đưa ra biện pháp xử lý rủi ro tốt hơn; (iii) năng lực quản trị điều hành tại các NHTM thiếu và yếu: không tuân theo các chuẩn mực quốc tế từ bộ máy QTRR, quy trình chính sách, các công cụ vận hành, bộ máy kiểm toán nội bộ (KTNB).
Đây là những nhận định sâu sắc và sát với thực tiễn năng lực QTRRTD tại các NHTM Việt Nam. Tuy nhiên, tái cấu trúc NHTM nghiên cứu mới chỉ kết luận, tái cấu trúc là tập trung tăng quy mô vốn cho các ngân hàng thông qua sáp nhập, các nhân tố khác là kết quả của quá trình sau sáp nhập. Hội thảo khoa học giới thiệu kết quả nghiên cứu đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ “Nhận diện các yếu tố tác động đến năng lực đổi mới sáng tạo của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam”[63] đã cho thấy đổi mới sáng tạo được nhận diện là yếu tố mang tính sống còn, bất cứ tổ chức nào cũng phải thay đổi mình để thích ứng với những thay đổi của môi trường, đặc biệt là đáp ứng với yêu cầu của khách hàng, nhất là đối với hoạt động ngân hàng. Theo đó, nhóm nghiên cứu đã xây dựng một mô hình năng lực đổi mới sáng tạo của ngân hàng gắn với 6 nhóm yếu tố, đó là: sản phẩm, quy trình, công nghệ, tổ chức, marketing, liên kết.
6 nhân tố tác động đến năng lực đổi mới sáng tạo của ngân hàng đó là: Năng lực hấp thu kiến thức; hệ thống liên kết; định hướng học hỏi; văn hoá của tổ chức; đặc trưng của ngành và nguồn lực liên quan đến hoạt động nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới. Kết quả nghiên cứu thực trạng năng lực đổi mới sáng tạo của NHTM Việt Nam cho thấy, đối với năng lực đổi mới sản phẩm, ngân hàng đang tập trung vào nâng cao chất lượng, bổ sung các tính năng 14 mới và phát triển sản phẩm mới, yếu tố giảm chi phí vận hành còn hạn chế hơn. Đáng chú ý, các ngân hàng nhỏ, trung bình đang thực hiện đổi mới sáng tạo tốt hơn còn các ngân hàng quy mô lớn cho thấy sự thay đổi ít linh hoạt hơn. Về năng lực đổi mới quy trình, các ngân hàng quy mô nhỏ rất quan tâm đến tiết kiệm chi phí, thông qua việc giảm các hoạt động không tăng giá trị, rút ngắn thời gian cung cấp dịch vụ, tổ chức và vận hành quy trình hiệu quả.
Về năng lực đổi mới marketing, các ngân hàng đang tập trung vào việc đổi mới kênh phân phối, quảng bá sản phẩm. Đối với năng lực đổi mới tổ chức, các nhà băng tập trung vào việc đổi mới hệ thống hoạt động và quản trị chất lượng, đổi mới hoạt động quản trị nguồn nhân lực. Về năng lực đổi mới liên kết, các ngân hàng cũng đã tăng cường kết nối với khách hàng tốt hơn, hiểu rõ nhu cầu của khách hàng hơn thông qua các sản phẩm chuyên biệt. Các ngân hàng cũng chủ động hợp tác với việc nghiên cứu và trường đại học, đây là nền tảng tri thức của sự đổi mới.
Về năng lực đổi mới công nghệ, các ngân hàng cũng đã tích cực đổi mới về công nghệ, ứng dụng công nghệ mới trong ngành. Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh của ngân hàng thương mại Phạm Thị Bích Lương (2007) với luận án Tiến sĩ “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM Nhà nước Việt Nam hiện nay” [47], đã hệ thống vấn đề lý thuyết cơ bản về hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Trên cơ sở đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMNN Việt Nam giai đoạn 2000 – 2005 theo các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả. Đưa ra đề xuất giải pháp có tính đột phá như: xây dựng tập đoàn tài chính trên việc hợp nhất các NHTM NN, cổ phần hóa triệt để các NHTM NN; giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các NHTM NN.
nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM NN ở Việt Nam cho giai đoạn 2005-2010. Nguyễn Việt Hùng (2008) với luận án Tiến sĩ “Phân tích các nhân tố ảnh 15 hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam” [39], đã nghiên cứu cơ sở lý luận về việc đo lường hiệu quả của hoạt động NH và mô hình phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM; đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của các NHTM và làm rõ các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả của các NHTM ở Việt Nam trong thời gian vừa qua dựa trên cơ sở các mô hình phân tích định lượng; Đã đề xuất một số các giải pháp nhằm cải thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng khả năng cạnh tranh của các NHTM Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu của luận án được mở rộng phân tích cho 32 NHTM ở Việt Nam, gồm 3 loại hình: NHTM nhà nước, NHTM CP và NH liên doanh; thời kỳ nghiên cứu giai đoạn từ 2001 – 2005.