phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo và phụ lục kèm theo, luận án gồm 4 chương như sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết. Trong chương này, luận án tổng quan về các vấn đề liên quan đến đề tài của luận án như tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam trên các phương diện như lý thuyết về diễn ngôn, thực tiễn vận dụng phân tích diễn ngôn và các nghiên cứu về diễn ngôn kinh tế. Ngoài ra, luận án cũng xây dựng cơ sở lý thuyết về diễn ngôn (văn bản), phân tích diễn ngôn, ngôn ngữ nói và viết, khái niệm và cấu trúc của bài báo khoa học, phong cách và phong cách khoa học, ngữ vực, ngữ pháp chức năng hệ thống (SFL) của Halliday trên các phương diện Trường, Không khí và Cách thức nhằm biểu đạt nghĩa kinh nghiệm, nghĩa liên nhân, nghĩa văn bản và phương pháp so sánh đối chiếu. Chƣơng 2: Đối chiếu đặc điểm của Trường trong bài báo TCCNTC tiếng Anh và tiếng Việt.
Cụ thể, luận án tập trung miêu tả, phân tích các kiểu quá trình và chu cảnh; đồng thời đối chiếu, so sánh để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm Trường trong bài báo TCCNTC tiếng Anh và tiếng Việt. Chƣơng 3: Đối chiếu đặc điểm của Không khí trong bài báo TCCNTC tiếng Anh và tiếng Việt. Cụ thể, luận án tập trung miêu tả, phân tích các kiểu thức và tình thái; đồng thời đối chiếu, so sánh để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm Không khí trong bài báo TCCNTC tiếng Anh và tiếng Việt. 8 Chƣơng 4: Đối chiếu đặc điểm của Cách thức trong bài báo TCCNTC tiếng Anh và tiếng Việt.
Cụ thể, luận án tập trung miêu tả, phân tích cấu trúc Đề-Thuyết, quy chiếu, liên kết logic; đồng thời đối chiếu, so sánh để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm Cách thức trong bài báo TCCNTC tiếng Anh và tiếng Việt. 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT Để có được hướng tiếp cận đề tài, chương này sẽ giải quyết một số vấn đề cơ bản sau. Thứ nhất, tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và về các lý thuyết liên quan đến diễn ngôn, phân tích diễn ngôn, các ứng dụng của phân tích diễn ngôn, phân tích diễn ngôn dựa vào ngữ pháp chức năng hệ thống. Thứ hai, trình bày các khái niệm về diễn ngôn (văn bản), phân tích diễn ngôn, ngôn ngữ nói và viết, định nghĩa và cấu trúc của bài báo khoa học, đặc điểm ngôn ngữ của các bài báo trong tạp chí chuyên ngành Tài chính, các khái niệm về phong cách và phong cách khoa học, thể loại, ngữ cảnh và ngữ vực, các siêu chức năng trong ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday (SFG), khái niệm cú trong tiếng Anh và tiếng Việt và khái niệm về ngôn ngữ so sánh, đối chiếu.Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Lý thuyết về diễn ngôn Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về các khía cạnh của diễn ngôn như liên kết văn bản, kết cấu văn bản. Khi bàn về mối quan hệ giữa liên kết văn bản và kết cấu văn bản, các tác giả đã đề cập đến đến các công cụ liên kết về mặt ngữ nghĩa như Halliday, M. Theo Halliday (1976), tính liên kết trong văn bản là một yếu tố tạo ra sự kết nối về ngữ nghĩa của chúng.
Các tác giả đã liệt kê các yếu tố tạo nên sự liên kết trong văn bản như hệ quy chiếu, tỉnh lược, phép thế, từ nối, liên kết từ vựng. Cụ thể, các tác giả cho rằng liên kết là một thành tố cấu thành văn bản trong hệ thống ngôn ngữ. Các 10 yếu tố liên kết là công cụ để các yếu tố ngôn ngữ không có mối liên hệ với nhau về mặt cấu trúc lại được liên kết với nhau thông qua sự phụ thuộc của yếu tố này vào yếu tố kia để hiểu nghĩa (“Cohesion, therefore, is part of the text-forming component in the linguistic system. It is the means whereby elements that are structurally unrelated to one another are linked together, through the dependence of one on the other for its interpretation.
Khi đề cập đến cách tiếp cận nghiên cứu của Halliday and Hasan về tính liên kết Halliday, M. (1976) [123], chúng tôi nhận thấy các chỉ tố diễn ngôn đa dạng và phong phú và có mối liên hệ giữa các chỉ tố diễn ngôn và bối cảnh. Các kết quả nghiên cứu này đã đóng góp cho việc nghiên cứu ngôn ngữ ở khía cạnh nghĩa của từ và chức năng ngôn ngữ. Một khía cạnh nghiên cứu nữa được các tác giả bàn đến đó là vấn đề ngữ vực trong phân tích diễn ngôn.
Tác giả cũng nhấn mạnh thêm rằng việc tổ chức sắp xếp ngôn ngữ phản ánh ba loại nghĩa tương ứng với ba siêu chức năng - đó là nghĩa kinh nghiệm, nghĩa liên nhân và nghĩa văn bản (“All languages are organized around two main kinds of meaning, the ideational‟ or reflective, and the interpersonal or active and combined with these is a third metafunctional component, the textual‟), which breathes relevance into the other two” [113, p. Các tác giả như Sinclair, & Coulthard (1975) [179], Halliday, M.M (1975) [179], Eggins, S &Slade, D (1997) [80], Louhiala-Salminen, L(1999) [160] khi bàn về mối quan hệ giữa ngôn ngữ, ý nghĩa và bối cảnh đã đưa ra các quan điểm, nhận định khác nhau về mối quan hệ giữa các chỉ tố diễn ngôn và tính liên kết. Halliday (1976) cho rằng nghĩa 11 ngoại tại cố hữu trong bản thân hiện tượng được nói về, còn nghĩa nội tại cố hữu trong quá trình giao tiếp và ý nghĩa này phụ thuộc vào sự lựa chọn vai giao tiếp, kênh giao tiếp và thái độ giao tiếp [123, p. Một khía cạnh khác trong nghiên cứu diễn ngôn được nhiều học giả quan tâm đó là mối quan hệ giữa diễn ngôn và ngữ nghĩa bao gồm các nghiên cứu về sự thay đổi của nghĩa như trong tác phẩm của Shuy (2001) [176], hay nghiên cứu về yếu tố tình huống được đề cập đến trong việc hiểu nghĩa của thông điệp giao tiếp, mối quan hệ giữa ngôn ngữ, ngữ nghĩa, văn hóa của Bloom Field (1984).
Trong tác phẩm của mình, ông cho rằng “định nghĩa về nghĩa bao gồm tình huống ở đó người nói phát ngôn và người nghe phản hồi lại phát ngôn” [52, p. Ngoài ra, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và bối cảnh trong diễn ngôn cũng được quan tâm nghiên cứu. Nhiều tác giả đã đưa ra các nhận định khác nhau về vai trò của bối cảnh trong phân tích diễn ngôn. Trong Discourse Analysis, Harris cho rằng từ bối cảnh tình huống chúng ta có thể suy ra những gì người nói đang nói (“from the situation that they are in, how to interpret what someone says”).
Nhận định của Harris cho thấy vai trò quan trọng của bối cảnh tình huống trong giao tiếp. Tác giả cho rằng nếu không có ngữ cảnh tình huống thì những gì người phát ngôn muốn nói sẽ bị hiểu sai lệch [143]. Cùng quan điểm với Harris, Vandijk có một số quan điểm về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và bối cảnh. Tác giả cho rằng bối cảnh là yếu tố không những tạo ra tính đơn nhất của mỗi văn bản mà còn tạo ra nền tảng cơ bản giúp người tham gia giao tiếp sử dụng ngôn ngữ phù hợp với bối cảnh [201].
Năm 2009, Vandijk bổ sung thêm mối liên hệ giữa xã hội và diễn ngôn và cho rằng mối quan hệ này thường mang tính gián tiếp và phụ thuộc vào cách bản thân người sử dụng ngôn ngữ định nghĩa sự đan xen giữa thể loại diễn ngôn và sự kiện giao tiếp [203]. Nói cách khác, bối cảnh xã hội không những ảnh hưởng hoặc bị ảnh 12 hưởng bởi diễn ngôn mà còn bởi cách những người tham gia diễn ngôn xác định tình huống ở đó diễn ngôn xuất hiện. Bối cảnh không phải là yếu tố khách quan mà nó luôn được nhìn nhận qua lăng kính chủ quan trong quá trình tương tác của những nhóm người, cộng đồng người tham gia giao tiếp. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và bối cảnh cũng được đề cập đến trong Firth,J.
Trong các công trình nghiên cứu của mình, mỗi tác giả đều có những đóng góp riêng đối với lĩnh vực phân tích diễn ngôn. Chẳng hạn, Firth khi nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ học, ngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh văn hóa, ông cho rằng để hiểu được những gì người tham gia giao tiếp đang nói và viết, chúng ta cần hiểu bối cảnh tình huống và bối cảnh văn hóa trong sự kiện giao tiếp đó [93]. Một người tham gia giao tiếp có thể lựa chọn bối cảnh văn hóa phù hợp với bối cảnh tình huống. Cả hai yếu tố này đều ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngôn ngữ phù hợp [135].
Khía cạnh tiếp theo trong nghiên cứu diễn ngôn được các tác giả tiếp cận đó là nghiên cứu diễn ngôn trong các lĩnh vực như diễn ngôn phê phán [202] diễn ngôn chính trị, diễn ngôn luật pháp, diễn ngôn giáo dục [56]. Trong các công trình này, các tác giả đã đưa ra các kết luận nghiên cứu về việc sử dụng ngôn ngữ trong các lĩnh vực khác nhau của xã hội, qua đó giúp người nói/ người viết hiểu và sử dụng đúng các thuật ngữ, từ vựng và văn phong trong từng lĩnh vực cụ thể. Khi bàn về khái niệm phân tích diễn ngôn, Harris, Z. (1952) đã tập trung nghiên cứu ngôn ngữ ở cấp độ lớn hơn câu nhằm mục đích miêu tả cách thức ngôn ngữ được phân bổ trong văn bản và cách 13 thức các ngôn ngữ này được kết hợp lại với nhau để tạo ra phong cách văn bản đặc trưng.
[141] Bên cạnh các vấn đề về mối quan hệ giữa diễn ngôn và ngữ nghĩa thì hành động ngôn từ cũng là một khía cạnh trong nghiên cứu ngôn ngữ được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm. Lý thuyết về hành động ngôn từ lần đầu tiên được Austin đưa ra năm 1962. Trong tác phẩm How to do things with words, ông đã miêu tả các phát ngôn ngôn hành hiển ngôn giống như các cú tuyên bố có nghĩa, thực hiện một chức năng nào đó, thực hiện một hành động ngôn trung. Ông đã tập trung vào một nhóm được gọi là phát ngôn ngôn hành để đối lập với phát ngôn tường thuật.
Tác giả cho rằng qua các phát ngôn của mình, chúng ta thể hiện hành động làm một cái gì đó để đưa ra lời hứa, lời cảnh báo, lời khen hay lời thề [45]. Bên cạnh đó, một số tác giả khác cho rằng ngôn ngữ không chỉ được sử dụng để truyền đạt thông tin mà còn thể hiện hành động như trong các nghiên cứu của Halliday (1989) [125], Halliday, M.