phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính bao gồm 3 chương như sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn của đề tài. Chƣơng 2: Đặc điểm địa danh có thành tố gốc tiếng dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang. Chƣơng 3: Thực trạng chính tả địa danh có thành tố gốc tiếng dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang. 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CỞ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Tổng quan nghiên cứu về địa danh 1. Trên thế giới Nghiên cứu về địa danh trên thế giới xuất hiện sớm cùng với sự hình thành và phát triển của ngành địa danh học và được chú ý nhiều vào những năm 80 của thế kỉ XIX. Những công trình đầu tiên nghiên cứu về địa danh trên thế giới có thể kể đến là “Địa danh học” của J.Egli (Thụy Sĩ) công bố vào năm 1872; “Địa danh học” của J.Nagl (Áo) công bố vào năm 1903 (dẫn theo [102, tr.2]; tác giả người Pháp A.Dauzat có “Nguồn gốc và sự phát triển của địa danh” (1926) và “Địa danh học Pháp” (1948) [151]. Nghiên cứu địa danh theo hướng nghiên cứu ngôn ngữ địa danh học, địa lý địa danh học và lịch sử địa danh học được các tác giả phương Tây chú trọng.
Có nhiều công trình nghiên cứu về địa danh được công bố, tiêu biểu là các công trình: “Địa lý từ nguyên học” (1835) của T.Gibson; “Từ và các địa điểm hay sự minh họa có tính nguyên lai về lịch sử, dân tộc học và địa lý học” (1864) của tác giả I Ssac Taylor, v.v; Qua các công trình nghiên cứu này, “cơ sơ lý thuyết đã được xác lập: đối tượng của địa danh học đã được xác định, sự phân loại địa danh tương đối hợp lý, phương pháp nghiên cứu đã mang tính khoa học” [56; tr. Các công trình “Les noms de lieux” (1965) của Charles Rostaing [152] “Các tên gọi, một khảo sát về việc đặt tên địa điểm” (1958) của George, “Thực hành địa danh học” (1977) của P.Raper đã đánh dấu sự phát triển của ngành Địa danh học. Trong đó, đáng chú ý là Charles Rostaing (Pháp) trong tác phẩm: “Les noms de lieux” [152, tr.9] đã nêu ra hai nguyên tắc 9 nghiên cứu địa danh. Đó là phải tìm ra các hình thức cổ của các từ cấu tạo nên và muốn biết từ nguyên của địa danh thì phải dựa trên kiến thức ngữ âm học địa phương.
Như vậy, những công trình nghiên cứu về địa danh trong giai đoạn hình thành ngành địa danh học đã nhìn nhận địa danh dưới con mắt của nhiều ngành khoa học khác nhau. Ở mỗi phương diện ấy, các tác giả đều có những đóng góp cho địa danh học - một ngành khoa học có tính chất liên ngành. Nghiên cứu của các nhà địa danh học Nga đã đánh dấu một bước phát triển mới cho địa danh học. Có thể kể tên tác giả E.Murzaev với Những khuynh hướng nghiên cứu địa danh học; A.Kapenko với Bàn về địa danh học đồng đại; A.Popôv với Những nguyên tắc cơ bản của công tác nghiên cứu địa danh, Chto takoe toponimika? (Địa danh học là gì) của A.
Superanskaja (dẫn theo [56, tr22])… Các tác giả Nga đã đặt nền tảng đầu tiên cho việc xây dựng hệ thống lí luận về địa danh học.Superanskaia với Địa danh học là gì (1985) [105] đã đặt ra những vấn đề vừa mang tính cụ thể vừa mang tính khái quát cao về địa danh học. Tác giả đã trình bày cách hiểu về khái niệm địa danh, đi sâu vào những vấn đề thiết thực liên quan đến việc phân tích địa danh. Superanskaja đã đưa ra khái niệm địa danh, phân loại địa danh theo cách của mình. Tác giả đã mở rộng hơn cách nhìn nhận về địa danh và rất chi tiết, cụ thể khi chia địa danh thành 8 loại: tên gọi của các điểm dân cư; tên gọi các con sông; tên gọi núi non; tên gọi công trình trong thành phố; tên gọi các đường phố; tên gọi quảng trường; tên gọi mạng lưới giao thông; tên gọi địa điểm phi dân cư nhỏ.
Không những thế, công trình Địa danh học là gì còn nêu lên đặc tính liên tục của tên gọi địa danh, không gian tên riêng và các loại địa danh (địa danh kí hiệu, địa danh mô tả, địa danh ước vọng) cũng như tên gọi các đối tượng địa lí theo địa hình. Địa danh học là gì là một công trình 10 khoa học có giá trị, đã tổng kết những kết quả nghiên cứu mới, là cơ sở chắc chắn cho các công trình nghiên cứu về địa danh học tiếp theo. Qua các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy địa danh trên thế giới được tìm hiểu ở các góc độ khái quát về lý thuyết địa danh như khái niệm, phân loại, phân tích địa danh và mối quan hệ giữa địa danh học với các ngành khoa học xã hội khác. Đây chắc chắn là cơ sở quan trọng về mặt lý thuyết cho các nghiên cứu về lĩnh vực này ở Việt Nam.
Ở Việt Nam Ở Việt Nam, địa danh trở thành hiện tượng được quan tâm nghiên cứu vào khoảng giữa thế kỉ XX. Cho đến nay, nghiên cứu về địa danh được thực hiện theo nhiều hướng khác nhau. Nghiên cứu địa danh theo hướng tiếp cận địa lý - lịch sử - văn hóa có các tác giả như: Nguyễn Văn Âu, Bùi Thiết, Nguyễn Dược, Trung Hải, Nguyễn Như Ý. Những nghiên cứu về địa danh dưới góc nhìn địa lý - lịch sử - văn hóa của các tác giả trên đây đều hệ thống hóa các địa danh hoặc nghiên cứu địa danh với những lớp địa dnah gắn với vùng địa lý cụ thể.
Theo hướng nghiên cứu này có thể kể tên các công trình nghiên cứu có thể kể tên là: Địa danh Việt Nam (1993) [4], Một số vấn đề địa danh học Việt Nam (2000) [5] của Nguyễn Văn Âu; tác giả Bùi Thiết có Địa danh văn hóa Việt Nam (1999) [120]; năm 2001 đồng tác giả Nguyễn Dược và Trung Hải xuất bản Sổ tay địa danh Việt Nam [34]; Nguyễn Như Ý (chủ biên) với Từ điển địa danh văn hóa và lịch sử Việt Nam (2011) [146]; tác giả Đỗ Hữu Thích (trưởng ban biên tập) với công trình Địa chí Thanh Hoá, tập 1. Địa lý và lịch sử (2000); tác giả Đinh Xuân Vịnh với Sổ tay địa danh Việt Nam (2002) đã khái quát những địa danh ở hầu hết các khu vực của Việt Nam. Tác giả Nguyễn Văn Âu [4], [5] đưa ra khái niệm địa danh, cách hiểu và phân tích địa danh theo hướng địa lý. Theo tác giả thì “địa danh học là một 11 môn khoa học chuyên nghiên cứu về tên địa lí của các địa phương.
Tác giả chia địa danh Việt Nam thành ba cấp: loại, kiểu, dạng. Ở “loại” địa danh, tác giả chia làm hai loại: địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế - xã hội. Ở “kiểu” địa danh, tác giả chia thành bảy kiểu: thủy danh, lâm danh, sơn danh, làng xã, huyện thị, tỉnh, thành phố, quốc gia và mười hai dạng: sông ngòi, hồ đầm, đồi núi, hải đảo, rừng rú, truông - trảng, làng - xã, huyện - quận, thị trấn, tỉnh, thành phố, quốc gia. Ở “dạng” địa danh, theo tác giả có 13 dạng địa danh từ sông ngòi, hồ đầm, đồi núi đến các đơn vị dân cư như làng xã, huyện quận, thị trấn, tỉnh, thành phố, quốc gia.
Đây là cách phân chia địa danh phức tạp và dễ gây nhầm lẫn, chẳng hạn như giữa các “kiểu” và các “dạng” địa danh có sự chồng chéo, khó phân biệt. Nguyễn Như Ý cùng với các tác giả Nguyễn Thanh Chương, Bùi Thiết [146] tổng hợp 5000 địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam. Các tác giả phân chia thành 5 nhóm địa danh như: những địa danh có các di tích lịch sử văn hoá; những địa danh gắn với những di chỉ khảo cổ học đã được phát hiện và miêu tả, ghi chép trong các sách báo, tạp chí hoặc các thông báo khảo cổ học; những địa danh là các thắng cảnh nổi tiếng; những địa danh là các làng nghề truyền thống, các làng hội, làng danh nhân; những địa danh hành chính từ cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với các số liệu về diện tích, dân số, các quận, huyện, thị xã… Công trình là một nguồn tư liệu lớn về địa danh, cung cấp một cách tổng quan về các địa danh lịch sử, văn hóa của Việt Nam cho người đọc. Thành phố Hải Phòng có“Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng” (1998) đã tập hợp hàng ngàn địa danh của thành phố dưới dạng từ điển bách khoa.
Một số công trình nghiên cứu về địa danh miền Trung như Quảng Nam Đà Nẵng, xưa và nay của tác giả Thái Nhân Hòa do Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành năm 1996. Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản Sổ tay địa danh du lịch các 12 tỉnh Trung Trung Bộ năm 1997. Tác giả Thanh Tâm có bài Tìm hiểu địa danh thành phố Huế in trên Tạp chí Sông Hương năm 1996. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi có sách “Từ điển địa danh Quảng Ngãi” (2013)… Nghiên cứu địa danh theo hướng ngôn ngữ học Đến những năm 60 của thế kỉ XX, cùng với sự phát triển của ngành địa danh học trên thế giới, vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam có những bước chuyển mình.
Bài viết “Mối quan hệ về ngôn ngữ cổ đại Đông Nam Á qua một vài tên sông” của tác giả Hoàng Thị Châu (1964) đánh dấu cho bước chuyển đó. Nghiên cứu địa danh theo hướng ngôn ngữ đã hình thành và phát triển. Các tác giả đại diện cho hướng nghiên cứu này là: Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trường, Từ Thu Mai, Phan Xuân Đạm, v. Những năm gần đây, địa danh học thực sự trở thành một đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học và có rất nhiều công trình nghiên cứu về các địa danh.
Tác giả Lê Trung Hoa với hàng loạt công trình nghiên cứu về địa danh [52], [53], [54], [55], [56], [57], [58], đặc biệt là công trình nghiên cứu địa danh thành phố Hồ Chí Minh (luận án tiến sĩ và phát triển thành chuyên luận) (2002) [52]. Với các công trình đó, tác giả chỉ ra và phân tích về ý nghĩa và nguồn gốc địa danh; ý nghĩa, nguồn gốc và quá trình phát triển của địa danh; vấn đề đô thị hóa và quá trình phát triển của địa danh. Lê Trung Hoa trình bày một cách hệ thống những vấn đề về địa danh như: định nghĩa địa danh, nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh, phân loại địa danh [52]. Đây là công trình quan trọng nghiên cứu về địa danh dưới góc độ ngôn ngữ học.