Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ "Dạy học Xác suất – Thống kê ở trường trung học nước CHDCND Lào theo hướng kết nối với thực tiễn" do nghiên cứu sinh Thongchanh Vonglathsamy thực hiện thuộc chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán (mã số: 9140111) tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (năm 2022), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Văn Dũng và GS. Bùi Văn Nghị.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh đổi mới giáo dục tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Theo quan điểm "Giáo dục và Thể thao nước CHDCND Lào dựa trên năng lực", ngành giáo dục Lào đứng trước yêu cầu cải cách cơ bản, toàn diện từ mục tiêu, nội dung chương trình đến phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của người học. Tầm nhìn phát triển văn hóa - xã hội và chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2025, tầm nhìn 2030 của Chính phủ Lào và Bộ Giáo dục và Thể thao Lào đã đặt ra trọng tâm nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu kinh tế - xã hội.
Trong toán học, mạch kiến thức Xác suất – Thống kê (XSTK) ra đời từ khoảng thế kỷ XVII, nghiên cứu các hiện tượng và quy luật ngẫu nhiên thường gặp trong thực tế, cung cấp các ứng dụng quan trọng trong kinh tế, kỹ thuật và đời sống. Tuy nhiên, thực tế dạy học XSTK tại các trường trung học Lào còn nặng về thuyết trình lý thuyết toán học thuần túy; học sinh chủ yếu tiếp thu thụ động, ít được thực hành liên hệ và vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống đời sống. Nội dung chương trình và sách giáo khoa (SGK) môn Toán tại Lào còn ít các yếu tố thực tiễn. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, tại Lào chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về dạy học XSTK ở cấp trung học theo hướng kết nối với thực tiễn.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Đề xuất một số biện pháp dạy học XSTK ở trường trung học Lào theo hướng kết nối với thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán tại các trường trung học nước CHDCND Lào.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (4 câu hỏi khoa học):
- Cơ sở lí luận của việc dạy học XSTK ở trường trung học Lào theo hướng kết nối với thực tiễn là gì?
- Thực tiễn dạy học XSTK ở trường trung học Lào theo hướng kết nối với thực tiễn hiện nay như thế nào?
- Những biện pháp dạy học XSTK ở trường trung học Lào theo hướng kết nối với thực tiễn là gì?
- Những biện pháp dạy học XSTK ở trường trung học Lào theo hướng kết nối với thực tiễn có tính khả thi và hiệu quả hay không?
Giả thuyết khoa học
Trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ dạy học XSTK ở trường trung học nước CHDCND Lào, nếu tăng cường các vấn đề thực tế để gợi động cơ, luyện tập trong quá trình dạy học XSTK, tăng cường cho học sinh trải nghiệm qua các hoạt động thực tiễn theo các biện pháp đề xuất trong luận án, học sinh chẳng những hứng thú và có kết quả cao hơn trong học tập XSTK, mà còn tăng cường khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng về XSTK vào thực tiễn.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học XSTK ở trường trung học Lào (từ lớp 6 đến lớp 12) theo hướng kết nối với thực tiễn.
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp dạy học môn XSTK ở trường trung học Lào theo hướng kết nối với thực tiễn.
- Phạm vi nghiên cứu: Mạch kiến thức XSTK trong chương trình môn Toán trường trung học Lào (từ lớp 6 đến lớp 12); địa bàn khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm tại một số trường trung học thuộc Thủ đô Vientiane và tỉnh Vientiane, nước CHDCND Lào.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng hợp có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến dạy học toán và dạy học XSTK gắn với thực tiễn:
Các nghiên cứu quốc tế về dạy học Toán gắn với thực tiễn
- Lý thuyết Giáo dục Toán học thực (Realistic Mathematics Education – RME) phát triển tại Hà Lan từ những năm 70 của thế kỷ XX (Freudenthal, Romberg 2001; Marja Van den Heuvel-Panhuizen và Paul Drijvers, 2014 với 6 nguyên tắc cốt lõi: hoạt động, thực tế, cấp độ, đan xen, tương tác, hướng dẫn).
- Luận án của Nguyễn Thanh Thủy (2005) tại Đại học Amsterdam áp dụng RME vào đào tạo sinh viên sư phạm toán tại Việt Nam; luận án của Reidar Mosvold (2005) tại Hà Lan về toán học trong đời sống hàng ngày; nghiên cứu của González, Moll & Amanti (2005).
- Giáo dục STEM tại Đại học Arizona (Hoa Kỳ) từ năm 1990; quan điểm của Zemelman, Daniels, Hyde (1998) và NCTM (2001) về phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tế; báo cáo TIMSS của Hội đồng Nghiên cứu Giáo dục Úc (ACER) về tỷ lệ kết nối thực tế trong bài toán (Úc chiếm 27%, Nhật Bản chiếm 9%); các nghiên cứu về mô hình hóa toán học của Werner Blum (1991, 1992), Blum, Galbraith, Henn, Niss (2007), Kaiser, Blum, Borromeo Ferri, Stillman (2011), Kaiser G. (2007) và ICTMA; nghiên cứu của Yarhands Dissou Arthur (2018), Kwek (2015), Mesture Kayhan Altay, Betül Yalvaç, Emel Yeltekin (2017), Putri Yuanita và Effandi Zakaria (2018), Premadasa Kirthi và Bhatia Kavita (2013); các chương trình đánh giá quốc tế như PISA và HiMCM.
Các nghiên cứu tại Việt Nam về dạy học môn Toán gắn với thực tiễn
- Các luận án tiến sĩ: Nguyễn Ngọc Anh (2000) về bài toán cực trị liên môn và thực tế lớp 12; Bùi Huy Ngọc (2003) về khai thác nội dung thực tế trong Số học và Đại số THCS; Phan Anh (2012) về năng lực toán học hóa tình huống thực tiễn trong Đại số và Giải tích THPT; Vũ Hữu Tuyên (2016) về thiết kế bài toán hình học gắn với thực tiễn; Nguyễn Minh Giang (2016) về rèn luyện kỹ năng dạy học hàm số gắn với thực tiễn cho sinh viên sư phạm; Lê Bá Phương (2016); Phan Văn Lý (2016) với 6 biện pháp dạy học toán CĐSP; Hà Xuân Thành (2017) về phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn; Phạm Nguyễn Hồng Ngự (2020).
- Các giáo trình và bài viết chuyên ngành của Hà Thị Đức (2009), Trần Thị Tuyết Oanh và cộng sự (2012), Nguyễn Bá Kim (2004, 2017), Bùi Văn Nghị (2009, 2017), Hoàng Lê Minh (2013), Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thị Châu Giang và Nguyễn Thị Thủy (2017), Trần Trung, Nguyễn Mạnh Cường, Phạm Thị Phúc (2015), Nguyễn Danh Nam (2017), Nguyễn Tiến Trung và cộng sự (2019), cùng 71 báo cáo tại Hội nghị Quốc tế về Giáo dục Toán học (ICME 2018) tại ĐHSP Hà Nội.
Nghiên cứu về dạy học Xác suất – Thống kê
- Trên thế giới: Joan Garfield (1995) về cách học thống kê; Kucukbeyaz, Batto và Rosa (2006) tại Argentina; Carmen Batanero (2016) tại ICME-13; Andres Mariano Vidal (2005) về trò chơi xác suất; Dự án NRICH thuộc Đại học Cambridge (2020) với chủ đề "Thống kê - Toán học của Đời sống thực"; Li Zhang (2014); Joseph W. Pale (2016); Sandra Nunes (2015); Shuhui Li và cộng sự (2016).
- Tại Việt Nam: Trần Kiều (1988) về thống kê mô tả THCS; Đỗ Mạnh Hùng (1993) về xác suất cho chuyên toán; Trần Đức Chiến (2007) về rèn luyện tư duy thống kê; Phạm Văn Trạo (2008) về học phần XSTK cho sinh viên ĐHSP; Nguyễn Thị Tân An (2013) về mô hình hóa trong XSTK; Vũ Hồng Linh (2020) về dạy học XSTK theo lý thuyết kết nối có CNTT hỗ trợ; Lê Thị Hoài Châu (2012); Lê Bình Dương và Nguyễn Thị Hậu (2019) về khắc phục sai lầm và rèn luyện kỹ năng siêu nhận thức; Hoàng Thị Ngọc Ánh và Đỗ Thị Trinh (2019); Phan Thị Tình (2020); cùng các luận án dạy học XSTK định hướng nghề nghiệp của Tạ Hữu Hiếu (2010), Nguyễn Thị Thanh Hà (2014), Nguyễn Thanh Tùng (2016), Võ Thị Huyền (2017), Ngô Tất Hoạt (2011), Mai Văn Thi (2018), Quách Thị Sen (2021).
- Tại Lào: Chỉ có 2 luận văn thạc sĩ nghiên cứu ở bậc đại học gồm Phonxay Silivong (2016) tại ĐH Savannakhet và Keovilay Thonlamee (2017) cho sinh viên ngành kinh tế.
Khoảng trống luận án giải quyết
Tại Lào chưa có công trình nghiên cứu nào giải quyết việc dạy học XSTK gắn với thực tiễn ở cấp trung học (từ lớp 6 đến lớp 12). Luận án của Thongchanh Vonglathsamy trực tiếp bù đắp khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm cơ bản
- Thực tế và thực tiễn: Luận án phân biệt thực tế là những gì đang diễn ra khách quan trong tự nhiên và xã hội; thực tiễn là hoạt động vật chất - cảm tính có mục đích của con người (lao động sản xuất, học tập, đời sống). Dạy học kết nối với thực tiễn là tạo sự gắn kết giữa tri thức XSTK với hoạt động thực tế gần gũi, đời sống và liên môn.
- Bài toán thực tiễn: Là bài toán mà trong giả thiết hoặc kết luận có chứa các yếu tố gắn liền với thực tiễn cần giải quyết hoặc làm sáng tỏ, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh (tham khảo định nghĩa của A. Leontiev, Bùi Huy Ngọc, Phan Thị Tình).
- Lý thuyết kết nối (Connectivism): Luận án vận dụng lý thuyết kết nối của George Siemens (2005) trong môi trường số, kết hợp mô hình bộ ba chữ E (Étudiant - Enseignant - Environnement) của Jean-Marc Denommée & Madeleine Roy (2000), cùng lý thuyết kết nối các thành tố mục tiêu - nội dung - phương pháp dạy học của Nguyễn Bá Kim (2017).
- Năng lực toán học và khung PISA: Vận dụng định nghĩa năng lực toán học của PISA (lập công thức, vận dụng, giải thích toán học) với 3 cấp độ năng lực toán phổ thông:
| Cấp độ |
Tên cấp độ |
Đặc điểm năng lực theo PISA |
| Cấp độ 1 |
Ghi nhớ, tái hiện |
Nhớ lại các đối tượng, khái niệm, định nghĩa, tính chất; thực hiện cách làm quen thuộc; áp dụng thuật toán tiêu chuẩn. |
| Cấp độ 2 |
Kết nối, tích hợp |
Kết nối, tích hợp thông tin giải quyết vấn đề đơn giản; liên hệ các cách biểu đạt; đọc, giải thích ký hiệu và ngôn ngữ toán học trong mối quan hệ với ngôn ngữ tự nhiên. |
| Cấp độ 3 |
Khái quát hóa, toán học hóa |
Nhận biết nội dung toán học trong tình huống có vấn đề; vận dụng tri thức giải quyết vấn đề thực tiễn; phân tích, tổng hợp, suy luận, lập luận và khái quát hóa. |
- Quy trình giải quyết bài toán thực tế: Gồm 5 bước thành phần:
- Thu nhận thông tin từ tình huống thực tế;
- Chuyển đổi về thông tin toán học;
- Thiết lập mô hình bài toán;
- Lựa chọn và vận dụng phương pháp toán học để giải quyết bài toán;
- Đối chiếu với tình huống thực tế và trả lời câu hỏi ban đầu.
- Học tập trong ngữ cảnh cuộc sống thực và bối cảnh xác thực: Dựa trên quan điểm của Van den Heuvel-Panhuizen (2005) về việc thay thế các bài tập "trần trụi" (bare) bằng các bài toán có ngữ cảnh thực (real-life context) và bối cảnh xác thực (authentic context) theo Vos (2011, 2015).
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp các văn kiện giáo dục của Lào, chương trình GDPT, SGK Toán Lào và Việt Nam, các công trình khoa học quốc tế để xây dựng khung lý thuyết.
- Phương pháp quan sát, điều tra: Dự giờ, phát phiếu hỏi, khảo sát ý kiến giáo viên và học sinh tại các trường trung học Lào nhằm đánh giá thực trạng dạy học XSTK.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm theo các biện pháp đề xuất, sử dụng bài kiểm tra đánh giá định tính và định lượng (so sánh đối chứng, lập bảng tần số, tần suất lũy tích hội tụ lùi).
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Chương trình và SGK Toán trung học Lào từ lớp 6 đến lớp 12.
- Dữ liệu khảo sát giáo viên và học sinh tại 18 trường trung học thuộc Thủ đô Vientiane và 2 trường tại huyện Met, tỉnh Vientiane (Meuangmet, Nakangpa).
- Dữ liệu điểm số kiểm tra thực nghiệm tại khối 9 và khối 11.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 1 tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về dạy học môn Toán và XSTK theo hướng kết nối với thực tiễn, phân tích chương trình và khảo sát thực trạng giáo dục tại Lào.
-
Phân tích chương trình và SGK môn Toán trung học Lào:
- Mạch kiến thức XSTK chiếm tỷ lệ thời lượng nhất định nhưng số lượng ví dụ và bài tập gắn với thực tiễn trong SGK còn thấp. Phần lớn các bài tập trong SGK mang tính hàn lâm, áp dụng công thức thuần túy, thiếu các ngữ cảnh thực tế của đất nước Lào.
-
Khảo sát thực trạng dạy và học XSTK tại Lào:
- Tác giả tiến hành khảo sát giáo viên và học sinh tại các trường trung học ở Vientiane. Kết quả chỉ ra:
- Đa số giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của việc liên hệ thực tiễn nhưng gặp khó khăn về nguồn tư liệu bài tập thực tế và kỹ năng thiết kế hoạt động trải nghiệm.
- Phương pháp dạy học chủ đạo vẫn là thuyết trình, truyền thụ một chiều.
- Học sinh gặp khó khăn trong việc hiểu bản chất các khái niệm ngẫu nhiên, số đặc trưng (số trung bình, số trung vị), quy tắc nhân, công thức xác suất toàn phần và công thức Bayes, cũng như lúng túng khi chuyển đổi bài toán thực tế sang mô hình toán học.
Chương 2. Biện pháp dạy học Xác suất Thống kê ở trường trung học nước CHDCND Lào theo hướng kết nối với thực tiễn
Dựa trên các định hướng sư phạm, luận án xây dựng hệ thống 5 biện pháp dạy học cụ thể:
-
Biện pháp 1: Lấy các ngữ cảnh có thực trong đời sống làm ví dụ, bài toán trong quá trình dạy học Xác suất – Thống kê ở trường trung học.
- Thay vì đưa ra các phép tính số học thuần túy hoặc bài toán trừu tượng, giáo viên đưa vào các ngữ cảnh gần gũi với đời sống và văn hóa Lào:
- Tình huống chia bánh, chia socola ($3\frac{1}{2} \div \frac{1}{4}$);
- Tình huống bác sĩ khám bệnh tại trạm y tế từ 8h30 đến 12h00 với thời gian mỗi ca là $\frac{1}{4}$ giờ;
- Tình huống đoàn nghệ thuật Thủ đô Vientiane xây dựng kế hoạch biểu diễn múa lăm vông tại các tỉnh trong thời lượng $3\frac{1}{2}$ giờ, mỗi tiết mục kéo dài $\frac{1}{4}$ giờ.
-
Biện pháp 2: Tổ chức cho học sinh hoạt động trải nghiệm trong quá trình dạy học Xác suất – Thống kê ở trường trung học.
- Tổ chức cho học sinh tự thu thập dữ liệu thực tế tại trường lớp, tiến hành đo chiều cao, cân nặng để tính toán và phân loại chỉ số khối cơ thể (BMI).
- Tổ chức hoạt động thực nghiệm ngẫu nhiên: gieo đồng xu 500 lần, 10.000 lần; gieo con xúc xắc bằng thao tác trực tiếp kết hợp mô phỏng 1.000 lần trên phần mềm máy tính Yenka để học sinh quan sát sự ổn định của tần suất và hình thành trực giác xác suất.
-
Biện pháp 3: Làm rõ ý nghĩa, vai trò của các khái niệm, quy tắc, định lý trong các bài học Xác suất – Thống kê thông qua kết nối với thực tiễn.
- Phân tích sự khác biệt và ý nghĩa thực tế giữa số trung bình cộng và số trung vị khi tập dữ liệu có giá trị ngoại lai (dị biệt).
- Vận dụng công thức xác suất toàn phần và công thức Bayes vào các bài toán đánh giá chất lượng sản phẩm nông nghiệp (tình huống nghiên cứu giống lúa Lào của Tiến sĩ Chai và cộng sự) và các xét nghiệm y khoa.
-
Biện pháp 4: Tổ chức các trò chơi học tập, đồng thời nâng cao hiểu biết của học sinh về các trò chơi trên truyền hình, các trò chơi may rủi.
- Đưa vào bài học các trò chơi quen thuộc: trò chơi búng ghim quay quanh chiếc đinh, bài toán xác suất cào trúng thưởng của vé số 10.000 kíp Lào.
- Phân tích toán học trò chơi chọn 3 ô cửa trên truyền hình (bài toán Monty Hall) nhằm giúp học sinh nhận thức bản chất xác suất có điều kiện, tránh sa vào các tệ nạn cờ bạc, may rủi.
-
Biện pháp 5: Tăng cường các bài toán vận dụng kiến thức Xác suất – Thống kê vào giải quyết vấn đề thực tiễn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.
- Thiết kế và tuyển chọn hệ thống bài toán thực tế đa dạng thuộc các lĩnh vực: kinh tế gia đình, y tế, thể dục thể thao, giao thông và khí tượng thủy văn, yêu cầu học sinh thực hiện đủ quy trình mô hình hóa toán học.
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
Chương 3 trình bày việc tổ chức dạy học thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của 5 biện pháp đã đề xuất.
-
Quy trình và đối tượng thực nghiệm:
- Thực nghiệm tiến hành trên hai nhóm lớp đối chứng (ĐC) và thực nghiệm (TN) tại khối lớp 9 (cấp THCS) và khối lớp 11 (cấp THPT).
- Nội dung thực nghiệm:
- Khối 9: Dạy học bài "Số trung bình, số trung vị" (gắn với hoạt động thống kê điểm số và phân loại chỉ số BMI học sinh).
- Khối 11: Dạy học bài "Xác suất có điều kiện, Xác suất toàn phần - Công thức Bayes" (gắn với bài toán chọn giống lúa, trò chơi truyền hình, xét nghiệm y tế).
-
Kết quả đánh giá định tính:
- Học sinh các lớp thực nghiệm thể hiện sự hứng thú, chủ động tham gia thảo luận nhóm, tích cực phát biểu và tự tin khi thuyết trình kết quả thu thập dữ liệu thực tế. Khả năng liên hệ kiến thức toán học với các hiện tượng đời sống được cải thiện rõ nét.
-
Kết quả đánh giá định lượng:
- Luận án thống kê điểm số qua các bài kiểm tra đợt 1 và đợt 2 (tháng 10 và tháng 11 năm 2018, đầu năm học 2021 - 2022).
- Bảng điểm và bảng tần suất lũy tích cho thấy: Điểm trung bình của các lớp thực nghiệm khối 9 và khối 11 đều cao hơn lớp đối chứng; tỷ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi ở nhóm thực nghiệm cao hơn và tỷ lệ điểm yếu kém thấp hơn nhóm đối chứng.
- Đồ thị đường phân bố tần số lũy tích hội tụ lùi của nhóm TN luôn nằm hoàn toàn về phía bên phải so với đường của nhóm ĐC, khẳng định hiệu quả học tập vượt trội của phương pháp dạy học kết nối với thực tiễn.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về dạy học môn Toán nói chung và mạch kiến thức XSTK nói riêng theo hướng kết nối với thực tiễn trong bối cảnh đổi mới giáo dục tại CHDCND Lào.
- Cụ thể hóa khung năng lực toán học của PISA và quy trình 5 bước giải quyết bài toán thực tế vào nội dung XSTK ở cấp trung học.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Khảo sát và đánh giá toàn diện thực trạng dạy học XSTK tại các trường trung học ở Lào, chỉ ra nguyên nhân hạn chế về phương pháp giảng dạy và tài liệu học tập.
- Đề xuất 5 biện pháp sư phạm có cấu trúc hoàn chỉnh, gắn liền với các ví dụ thực tiễn sinh động, phù hợp với đặc thù văn hóa, xã hội và chương trình giáo dục phổ thông Lào.
- Xây dựng hệ thống bài toán thực tiễn và thiết kế giáo án mẫu cho các nội dung "Số trung bình, số trung vị" (lớp 9) và "Xác suất có điều kiện, Xác suất toàn phần - Công thức Bayes" (lớp 11), ứng dụng phần mềm Yenka trong mô phỏng trải nghiệm.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với Bộ Giáo dục và Thể thao Lào: Cần điều chỉnh nội dung chương trình và SGK Toán trung học theo hướng tăng cường thời lượng, bổ sung các ví dụ, bài toán có bối cảnh thực tế đời sống Lào; đổi mới phương thức kiểm tra đánh giá theo định hướng đánh giá năng lực.
- Đối với các cơ sở đào tạo giáo viên (ĐHSP, CĐSP): Cần đưa các chuyên đề về dạy học toán gắn với thực tiễn, phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm và ứng dụng CNTT vào chương trình đào tạo sinh viên sư phạm Toán.
- Đối với giáo viên trung học: Cần chủ động sưu tầm, xây dựng các tình huống thực tế, đổi mới phương pháp dạy học từ truyền thụ thụ động sang tổ chức hoạt động học tập dựa trên trải nghiệm của học sinh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Địa bàn khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm của luận án chủ yếu tập trung tại khu vực Thủ đô Vientiane và huyện Met thuộc tỉnh Vientiane; phạm vi thực nghiệm sư phạm mới triển khai tập trung ở 2 chủ đề điển hình tại khối lớp 9 và khối lớp 11.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu áp dụng hệ thống biện pháp dạy học kết nối thực tiễn cho tất cả các khối lớp còn lại (từ lớp 6 đến lớp 12) trên phạm vi toàn bộ các tỉnh thành của CHDCND Lào; nghiên cứu sâu hơn về quy trình thiết kế đề kiểm tra đánh giá năng lực toán học gắn với thực tiễn.
Giá trị tham khảo
- Đối với cán bộ quản lý và nhà phát triển chương trình: Luận án cung cấp số liệu thực trạng và căn cứ khoa học phục vụ công tác biên soạn, đổi mới chương trình, SGK môn Toán phổ thông tại Lào.
- Đối với giáo viên môn Toán tại các trường trung học: Luận án là tài liệu tham khảo trực tiếp với 5 biện pháp sư phạm, các kịch bản tổ chức hoạt động trải nghiệm, cách khai thác phần mềm Yenka và hệ thống bài toán thực tiễn phong phú.
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lí luận và PPDH môn Toán: Luận án cung cấp khung phương pháp luận kết hợp lý thuyết RME, lý thuyết kết nối và quy trình thực nghiệm sư phạm định tính kết hợp định lượng trong nghiên cứu giáo dục toán học.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả luận án xác định thực trạng việc dạy học Xác suất – Thống kê ở trường trung học Lào hiện nay như thế nào?
Thực trạng dạy học XSTK tại các trường trung học Lào còn nặng về thuyết trình lý thuyết toán học thuần túy; học sinh tiếp thu thụ động, ít được thực hành và vận dụng kiến thức vào đời sống; nội dung SGK còn ít ví dụ và bài tập gắn với bối cảnh thực tế của đất nước Lào.
2. Luận án đã đề xuất những biện pháp sư phạm cụ thể nào?
Luận án đề xuất 5 biện pháp sư phạm: (1) Lấy ngữ cảnh có thực trong đời sống làm ví dụ, bài toán; (2) Tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh; (3) Làm rõ ý nghĩa, vai trò của khái niệm, quy tắc, định lý qua kết nối thực tiễn; (4) Tổ chức trò chơi học tập, nâng cao hiểu biết về trò chơi truyền hình và trò chơi may rủi; (5) Tăng cường bài toán vận dụng kiến thức XSTK giải quyết vấn đề thực tiễn trong nhiều lĩnh vực.
3. Nội dung nào trong chương trình đã được tác giả lựa chọn để tổ chức dạy học thực nghiệm sư phạm?
Tác giả lựa chọn hai bài học cụ thể: Bài "Số trung bình, số trung vị" ở khối lớp 9 (gắn với khảo sát dữ liệu điểm số, chỉ số BMI) và bài "Xác suất có điều kiện, Xác suất toàn phần - Công thức Bayes" ở khối lớp 11 (gắn với bài toán kiểm nghiệm giống lúa của Tiến sĩ Chai, y tế và trò chơi truyền hình).
4. Phần mềm công nghệ nào được sử dụng hỗ trợ tổ chức hoạt động trải nghiệm trong luận án?
Luận án sử dụng phần mềm Yenka để thực hiện mô phỏng thí nghiệm ngẫu nhiên gieo con xúc xắc 1.000 lần, giúp học sinh trực quan hóa tần suất xuất hiện và quy luật số lớn trong xác suất.
5. Các kết quả đánh giá thực nghiệm sư phạm chứng minh điều gì?
Kết quả đánh giá định tính cho thấy học sinh hứng thú, chủ động học tập hơn; kết quả định lượng cho thấy điểm số kiểm tra của nhóm thực nghiệm cao hơn nhóm đối chứng, đường phân bố tần số lũy tích hội tụ lùi dịch chuyển về phía điểm cao, khẳng định tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Thongchanh Vonglathsamy đã giải quyết toàn diện vấn đề dạy học mạch kiến thức Xác suất – Thống kê theo hướng kết nối với thực tiễn tại trường trung học nước CHDCND Lào. Bằng việc phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng chương trình và SGK, tác giả đã đề xuất 5 biện pháp sư phạm đồng bộ kèm hệ thống bài toán thực tế và giáo án thực nghiệm. Kết quả thực nghiệm sư phạm tại khối lớp 9 và 11 đã kiểm chứng tính khả thi, hiệu quả của các biện pháp trong việc nâng cao kết quả học tập và phát triển năng lực vận dụng toán học vào đời sống cho học sinh Lào. Công trình là tài liệu khoa học có giá trị tham khảo thiết thực cho công cuộc đổi mới giáo dục toán học tại nước CHDCND Lào.