mở đầu về Công thức xác suất đầy đủ 28 112 - Công thức Bayes 29 Bảng 29. Phiếu giao nhiệm vụ tự học ở nhà 123 30 Bảng 30. Bảng phân công nhiệm vụ trong hợp đồng 130 Bảng 31. Một số kiến thức môn TUD có thể sử dụng phương pháp 31 dạy học theo hợp đồng khi SV khối KTCN học các môn chuyên 131 ngành Bảng 32.
Bảng phân công nhiệm vụ trong bài “Mẫu ngẫu nhiên và 32 132 các đặc trưng của nó” 33 Bảng 33. Bảng phân công nhiệm vụ trong bài “Các thông số của 134 luan an mạch điện trong miền p” Bảng 34. Mục tiêu môn TUD cho SV nhóm ngành KTCN tại 34 137 trường ĐHHHVN Bảng 35. Chuẩn đầu ra (về kiến thức) môn TUD cho SV nhóm 35 141 ngành KTCN tại trường ĐHHHVN Bảng 36.
Bảng đề xuất chấm điểm đánh giá quá trình TN cho SV 36 136 trong mỗi buổi học môn TUD bằng DHTN Bảng 37. Bảng thể hiện sự tác động giữa các biện pháp sư phạm 37 142 và rèn luyện một số kỹ năng nghề nghiệp cốt lõi Biểu đồ 1. Biểu đồ tổng hợp đánh giá mức độ vận dụng kiến thức, 38 85 KN môn TUD 39 Biểu đồ 2. Biểu đồ kết quả học tập môn Toán cao cấp (Vòng 1) 147 Biểu đồ 3.
Biểu đồ kết quả điểm kiểm tra bài số 2 (Thực nghiệm sư 40 150 phạm vòng 1) 41 Biểu đồ 4. Biểu đồ kết quả học tập môn Toán cao cấp (Vòng 2) 152 Biểu đồ 5. Biểu đồ kết quả điểm kiểm tra bài số 2 (Thực nghiệm sư 42 155 phạm vòng 2) Hình 1. Mô hình kim tự tháp học tập của viện NTL ở Bethel, Maine 43 6 (Mỹ) 44 Hình 2.
Mô hình HTTN của Z. Mô hình HTTN của J. Chu trình bốn giai đoạn HTTN của D. Mô hình xoắn ốc gồm nhiều chu trình bốn bước 47 32 trong HTTN luan an 1 0.
Lý do chọn đề tài Trong khi yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát triển của nền kinh tế 4.0 đang ngày càng mạnh mẽ thì việc đào tạo nhân lực cung cấp cho thị trường lao động ở các trường đại học nước ta vẫn còn thể hiện nhiều bất cập [34]. Do đó, vấn đề đổi mới dạy và học đang trở thành một vấn đề cấp bách trong các cơ sở giáo dục, từ mầm non cho tới đại học. Điều này được thể hiện rất rõ ở một số nghị quyết, chiến lược liên quan đến lĩnh vực giáo dục của Đảng, Chính phủ, của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong giai đoạn gần đây, đồng thời đã được quán triệt trong tất cả các cấp bậc học [3], [5], [7], [12]. Hiện nay, Đảng và Chính phủ đang rất quan tâm đến chiến lược biển với mong muốn nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn [2].
Đáp ứng yêu cầu đó, trường ĐHHHVN luôn xác định là đầu tàu trong vai trò đào tạo nhân lực chất lượng cao cho các ngành nghề đi biển trong cuộc cách mạng công nghiệp 4. Thực tế cho thấy rằng dạy học ĐH nói chung và dạy học ĐH có khối KTCN nói riêng cần phải có giải pháp đồng bộ trong việc cải tiến, đổi mới nội dung và phương pháp [15]. Hiện nay đã có khá nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Trong các nghiên cứu đó thì vấn đề cải tiến tổ chức dạy học ĐH theo hướng tổ chức cho SV HTTN được xem là một hướng quan trọng, nhằm đáp ứng chuẩn đầu ra và giúp SV làm quen với nghề nghiệp chuyên ngành của mình.
Hiện nay, quá trình đào tạo kỹ sư tại đa số các trường ĐH nói chung và tại trường ĐHHHVN nói riêng chưa có nhiều thay đổi so với trước đây. Việc truyền đạt thường vẫn được thực hiện theo hướng một chiều, quá trình học tập không gắn với TN hoặc có thì khá ít và hiệu quả không cao. Để giải quyết vấn đề này, các trường ĐH, nhất là các trường ĐH kỹ thuật đã và đang có nhiều biện pháp. Một trong số đó là việc thay đổi về chương trình đào tạo đáp ứng chuẩn đầu ra và cải tiến phương pháp dạy học tăng cường tính TN của nội dung dạy học.
Nói riêng tại trường ĐHHHVN, vấn đề cấp bách đặt ra đối với các GV là làm sao phải đổi mới phương pháp dạy học nhằm nhằm tăng tính TN, góp phần đáp ứng luan an 2 chuẩn đầu ra và xa hơn nữa là đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực hàng hải chất lượng cao mà xã hội đang yêu cầu. Trong các môn Toán ở bậc ĐH thì TUD gồm nhiều nội dung Toán như: Xác suất thống kê, Phương pháp tính, Tối ưu hóa, Lượng giác cầu, Hàm phức và biến đổi Laplace. Mặt khác, môn TUD lại có liên quan trực tiếp đến nhiều môn chuyên ngành và có nhiều ứng dụng trong thực tiễn ngành nghề sau này của SV. Đây là môn học có nội dung phong phú và giàu tính ứng dụng, thể hiện rõ tính liên môn.
Do đó, để đạt được hiệu quả cho quá trình dạy học TUD, các GV không chỉ cần phải nghiên cứu kỹ về nội dung mà còn phải đổi mới phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với đặc trưng của môn học này. Nhìn một cách tổng quan thì mặc dù vấn đề vận dụng kiến thức TUD của SV là rất cần thiết nhưng việc dạy học TUD ở bậc ĐH nước ta còn chưa được chú trọng và bộc lộ một số hạn chế, như là: thời lượng môn học còn ít; kiểm tra đánh giá còn nặng tính hàn lâm, chưa có tính liên môn và ít liên hệ đến nghề nghiệp SV đang được đào tạo; trong quá trình giảng dạy, một số GV còn chưa coi trọng và còn lúng túng trong trong việc liên hệ giữa kiến thức TUD và các môn chuyên ngành. Về nội dung, kiến thức TUD tại nhiều trường ĐH hiện còn đang mang nặng tính lý thuyết, ít thể hiện rõ tính liên môn với các môn chuyên ngành nên SV chưa thể hình dung được tầm quan trọng cũng như mối liên hệ giữa TUD với việc rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cốt lõi cho SV. Dạy học Toán ở bậc ĐH nói chung và dạy học môn TUD nói riêng như thế nào để môn học này thể hiện được vai trò quan trọng trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là một câu hỏi được nhiều nhà giáo dục trăn trở, là một chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, nhưng với mong muốn đóng góp một nghiên cứu mới đối với trường ĐH kỹ thuật và với một môn học đặc thù là TUD, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Dạy học môn Toán ứng dụng theo định hướng trải nghiệm cho sinh viên khối Kỹ thuật và Công nghệ tại trường Đại học Hàng hải Việt Nam”. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 0. Nghiên cứu trên thế giới a. Nghiên cứu về học tập trải nghiệm trên thế giới - Về những ý tưởng sơ khai của HTTN thì phải nhắc đến quan điểm dạy và học của một số nhà giáo dục như J.… Hầu hết các nhà giáo dục đó đều cho rằng vấn đề dạy và học cần phải gắn với môi trường thực tiễn, gắn với tự nhiên và trên cơ sở hành động của người học.Komensky đã đưa ra hệ thống quan điểm của ông về vấn đề dạy và học, thể hiện ở một số điểm chính sau: i) Học phải gắn liền với sự vật cụ thể, không chỉ dựa vào sách vở mà còn phải dựa vào môi trường tự nhiên.
ii) Dạy học phải tuân theo nguyên tắc thích ứng tự nhiên và đảm bảo tính trực quan. iii) Quá trình dạy học phải qua các giai đoạn: cảm giác, trí nhớ, tư duy và năng lực phê phán sáng tạo. iv) Quá trình dạy học phải phù hợp với người học và sự hiểu biết do các giác quan đem lại.Komensky quan niệm rằng: Học là phải dựa vào những TN với sự vật cụ thể, với môi trường tự nhiên và những gì người ta học được là từ giác quan mang lại. Dạy phải dựa vào những KN sẵn có của người học, có tính phù hợp với đối tượng, trực quan và phải tuân theo nguyên tắc thích ứng với môi trường [97].
+ Bên cạnh quan điểm của J.Komensky, nhà sư phạm J.Rousseau cũng cho rằng: i) Dạy học là phải có nhiệm vụ phát triển các giác quan. ii) Thực tiễn cuộc sống đem lại KN tốt nhất. iii) Hoạt động dạy học phải dựa trên nền tảng là hoạt động. Những quan điểm của ông đã làm nên cuộc cách mạng giáo dục ở nước Pháp trong thời đại đó.
Yếu tố KN được ông rất coi trọng và vấn đề dạy học là phải dựa trên KN, đồng thời học cũng là để lấy KN.Pestalozzi thì quan niệm rằng: Nền tảng của sự hiểu biết là trực giác và ngôn ngữ, dạy toán phải cụ thể, dạy hình thể phải thông qua sự quan sát, dạy ngôn ngữ phải dựa vào các giác quan, tập đọc phải dựa vào ngôn ngữ. - Dưới góc độ tâm lý, HTTN cũng được một số nhà tâm lý học (L.Piaget,…) xem xét như là sự chuyển hóa KN của người học dưới tác động của môi trường xã hội. + Điển hình là các quan điểm của nhà tâm lý học L. Trong các tác phẩm của mình, hầu hết ông đều nhấn mạnh đến học thuyết phát triển.
luan an 4 Trong học thuyết đó, ông đã đưa ra lý thuyết “Vùng phát triển gần”. Khái niệm này minh họa cho vùng KN cá nhân nằm giữa khả năng phát triển tiềm tàng và khả năng phát triển hiện tại.Vygotsky, nói chung, ở mỗi cá nhân, do những KN có sẵn từ trước và do di truyền nên khả năng huy động đến vùng này là khác nhau. Tuy nhiên, khi đương đầu với một vấn đề học tập nào đó thì KN thường trực của cá nhân sẽ được huy động, được thử thách và cải thiện dẫn người học đạt trình độ phát triển cao hơn. Mức độ phát triển cao hơn này lại làm nền tảng cho những chu kỳ phát triển tiếp sau đó [100].Piaget (1896 – 1980, Thụy Sỹ) đã thực hiện nhiều nghiên cứu về bản chất của tri thức, trí tuệ và trí thông minh.
Ông đã chỉ ra rằng: ở những độ tuổi khác nhau thì quá trình phát triển của trí thông minh có sự khác nhau. Liên quan đến mối liên hệ giữa trí thông minh và những KN, những TN cá nhân, J.