CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Truyện trinh thám Việt Nam ra đời vào đầu thế kỷ XX. Trong một quãng thời gian rất dài, thể loại này thường bị coi là “văn chương hạng hai”, ít được giới nghiên cứu chú ý. Đây là một thực tế rất dễ nhận thấy và do nhiều nguyên nhân khác nhau chi phối, cả chủ quan lẫn khách quan.
Trước hết là bởi truyện trinh thám ở giai đoạn đầu chưa có những thành tựu thật sự nổi bật. Một trở ngại khác là do thị hiếu thẩm mỹ của người Việt nửa đầu thế kỷ XX; họ chưa thể quen với hình ảnh nhân vật thám tử điều tra dựa trên cơ sở tư duy logic, kết hợp với phương tiện khoa học hiện đại để phá án. Hoạt động thám tử, điều tra vụ án theo lối phương Tây vẫn còn là những thứ xa lạ đối với người Việt Nam vốn quen với lối truyện “kỳ án”, “công án”. Thế nên người đọc thường cho rằng truyện trinh thám là kết quả của sự bịa đặt, hư cấu, do nhà văn tự tưởng tượng ra.
Đấy là chưa kể, do sự chi phối của quan niệm truyền thống, văn chương đích thực phải là thứ văn chương dùng để “tải đạo”, “ngôn chí”, những thứ vốn rất mờ nhạt đối với truyện trinh thám. Bởi vậy, thể loại này đương nhiên không được chú trọng, không được đánh giá cao. Hoạt động sáng tác, nghiên cứu, phê bình văn học trinh thám do vậy cũng có những đặc điểm riêng. Giai đoạn trước 1945 Năm 1928, tác giả S.S Van Dine (1888 – 1939, bút danh của Willard Huntington Wright), nhà phê bình nghệ thuật, nhà văn Mỹ, đã đưa ra “Hai mươi nguyên tắc của việc viết truyện trinh thám”.
Ông cho rằng “Truyện trinh thám là một dạng của trò chơi trí tuệ. Hơn nữa, có thể nói, đó còn là một sự thử thách mang tính thể thao, trong đó tác giả cần phải đọ sức một cách trung thực với độc giả” [151]. Đây được coi là những nguyên lý mẫu mực về mặt lý thuyết cho các nhà văn, nhà nghiên cứu khi tìm đến truyện trinh thám. Ở Việt Nam, những năm đầu thế kỷ XX, các nhà văn chủ yếu tiếp xúc với truyện trinh thám phương Tây thông qua tác phẩm của các nhà văn như Edgar Allan Poe, Conan Doyle, Agatha Christie.
Họ coi tác phẩm của các nhà văn này như một 8 thứ khuôn mẫu trong lĩnh vực truyện trinh thám để học hỏi, mô phỏng theo. Trong quá trình tìm tòi, thử nghiệm để sáng tác một thể loại hoàn toàn mới mẻ như vậy, các nhà văn Việt Nam đã tạo ra một kiểu truyện trinh thám với những đặc điểm riêng. Đó là những tác phẩm mà cốt truyện xoay quanh việc điều tra một vụ án (thường là cái chết bí ẩn, một vụ mất cắp), có nhân vật thám tử (chuyên nghiệp hoặc không chuyên); và trong suốt quá trình điều tra, cả tác giả và độc giả cùng khám phá bí mật cho đến kết thúc câu chuyện, vụ án được làm sáng tỏ. Đây cũng là những những nguyên tắc cơ bản của truyện trinh thám Phương Tây mà các nhà văn Việt Nam đã vận dụng.
Bên cạnh đó, họ còn biết kết hợp với kiểu truyện “kỳ án”, “công án” rất phổ biến trong văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc. Sự kết hợp này đã tạo nên một thể loại truyện trinh thám “hỗn hợp”, được pha trộn yếu tố vụ án – ái tình – hành động – võ hiệp rất độc đáo. Tuy nhiên, trên thực tế, hiện tượng này lại chưa được giới nghiên cứu tìm hiểu một cách đầy đủ. Có thể nói cho đến giữa thế kỷ XX, ở Việt Nam vẫn chưa có một công trình nghiên cứu quy mô nào về thể loại truyện trinh thám được công bố.
Những gì được gọi là nghiên cứu thực ra chỉ là những nhận xét, lời bàn sơ lược về một số hiện tượng cụ thể; đó thường là các bài giới thiệu, phân tích về nội dung, nghệ thuật trong tác phẩm của một số cây bút như Thế Lữ, Phạm Cao Củng… do chính các nhà văn thực hiện. Trong “Lời giới thiệu” Vàng và máu, Khái Hưng đã nhận xét về hiện tượng kết hợp “bút pháp” phương Tây và phương Đông ở các truyện trinh thám kinh dị của Thế Lữ. Nhà văn lý giải như sau: “Tác giả những truyện Vàng và máu và Một đêm trăng đã tỏ ra có óc khoa học của Edgar Poe và tâm hồn thi sĩ của Bồ Tùng Linh, hai nhà viết những truyện ghê gớm huyền hoặc, làm cho độc giả yếu bóng vía phải rùng mình lúc đêm khuya” [51, tr. Đưa ra đánh giá này, Khái Hưng dường như chỉ căn cứ vào các truyện trinh thám kinh dị của Thế Lữ ở giai đoạn đầu (Vàng và máu, Một đêm trăng xuất hiện vào năm 1934).
Thực ra, khái quát như vậy về Thế Lữ là chưa đầy đủ bởi ông còn có cả loạt truyện trinh thám suy luận (tập trung nhất là truyện về nhân vật thám tử Lê Phong) xuất hiện từ năm 1937. 9 Trong khi đó, Dương Quảng Hàm lại có cái nhìn khác về tác phẩm Vàng và máu, Bên đường thiên lôi của Thế Lữ. Nhà nghiên cứu nhấn mạnh đến “chủ đích” của tác giả khi sáng tác truyện trinh thám kinh dị: Ông thường công kích những điều mê tín dị đoan. Muốn đạt chủ đích ấy, ông đặt những câu chuyện có vẻ rất rùng rợn làm cho người đọc ghê sợ, rồi đến đoạn kết, ông đem cái lẽ khoa học ra mà giải thích các việc đã xảy ra một cách rất đơn giản, tự nhiên.
Chính vì thế, các câu chuyện có sức hấp dẫn kỳ lạ, làm cho người đọc thích thú [45, tr. Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan, trong cuốn Nhà văn hiện đại, Tập II (1943), cũng dành một phần để nói về truyện trinh thám Việt Nam. Ông đặc biệt chú ý đến Phạm Cao Củng, theo tác giả, Phạm Cao Củng là tiêu biểu nhất trong số các cây bút theo đuổi thể loại văn học này. Vũ Ngọc Phan cho rằng : Trong các tiểu thuyết trinh thám của Thế Lữ, Bùi Huy Phồn và Phạm Cao Củng, chỉ có tiểu thuyết của Phạm Cao Củng là có phần đặc sắc hơn., các truyện trinh thám của Bùi Huy Phồn mang tính chất “hoạt kê”.
cách điều tra, phán đoán sự việc mà ông miêu tả trong truyện còn đơn giản, nhiều yếu tố ngẫu nhiên, vô lý [89, tr. Có thể thấy Vũ Ngọc Phan đã đánh giá cao sự sáng tạo của Phạm Cao Củng trong việc tiếp biến một thể loại văn học có nguồn gốc từ phương Tây. Ở đây cái nhìn của ông đối với Thế Lữ có phần gần gũi với Khái Hưng. Theo Vũ Ngọc Phan thì “Về tiểu thuyết, tuy loại truyện trinh thám của Thế Lữ chưa thành công, nhưng về những truyện ghê sợ, ông đã chứng tỏ là một tiểu thuyết gia có biệt tài, nghệ thuật viết tiểu thuyết của Thế Lữ ở đây đã lên tới trình độ cao” [89, tr.
Điều đáng lưu ý là Vũ Ngọc Phan tuy đề cao khả năng của Thế Lữ trong các tác phẩm trinh thám kinh dị (ông gọi là “truyện ghê sợ”) nhưng không hiểu vì sao ông lại không thừa nhận sự thành công của Thế Lữ trong loạt tác phẩm viết về thám tử Lê Phong. Đối với các tác giả chỉ viết một vài truyện mang màu sắc trinh thám như Thúy Am (Anh hùng tương ngộ, Cái hầm bí mật, Người hay ma), Cuồng Sĩ (Ai giết quan tòa), Vũ Đình Tuyết (Mảnh giấy bí mật, Con ma đeo kính Vuông khăn đẩm máu), một số tác phẩm do Tân Dân Quán xuất bản không ghi tên tác giả như Con khỉ giết người, Xác chết chạy đi đâu … hầu như rất ít hoặc không được các nhà nghiên cứu nhắc đến. 10 Ngoài các bài viết về tác giả cụ thể vừa kể trên, một số nhà nghiên cứu, nhà văn cũng đề cập đến những vấn đề chung của thể loại trinh thám. Nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng có thái độ không mấy thiện cảm về truyện trinh thám.
Tác giả giễu cợt nhân vật “thám tử” trong truyện Cái lò gạch bí mật (với đề từ: Truyện trinh thám An Nam), một kẻ có cái gì đó không bình thường: “Trinh độ này thích đọc truyện trinh thám Tây, và cả ngày, lúc nào anh cũng có vẻ bí mật, hay nhận xét từng cái cử chỉ cỏn con của người khác, và hay suy xét tâm lý người ta bằng những câu vụn vặt mà anh nghe lóm được. Anh muốn làm nhà trinh thám thứ nhất của nước Việt Nam” [155, tr. Kết thúc truyện, tang vật mà nhà thám tử tìm thấy sau nhiều ngày theo dõi kẻ tình nghi: “Tang vật đó to bằng vành khăn đàn bà, cuộn khoanh lù lù trên mặt đất thành một bãi, đầu hình búp măng, màu vàng, mà ở đuôi là có hơi ngắn, thôi thối … [155, tr. Nhìn chung, hầu hết những công trình nghiên cứu về truyện trinh thám trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX chỉ tập trung vào hai tác giả ở miền Bắc, nhưng chủ yếu tập trung vào nhóm truyện kinh dị.
Mặc dù có biểu dương sự sáng tạo của nhà văn Việt Nam trong việc tiếp thu thể loại văn học phương Tây, nhưng lại không thực sự coi trọng giá trị của thể loại truyện trinh thám ở Việt Nam. Giai đoạn từ 1945 đến 1975 Lịch sử Việt Nam, kể từ 1945 đến 1975 vận động theo một tiến trình rất đặc biệt. Năm 1945, cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đánh dấu một giai đoạn lịch sử: chấm dứt sự hiện hữu của chế độ thực dân – phong kiến. Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, lịch sử dân tộc lại bước vào một hoàn cảnh mới: từ 1945 đến 1954, nổ ra cuộc kháng chiến chống Pháp; từ 1954, đất nước chia đôi thành Miền Nam và Miền Bắc.
Từ đây, mỗi miền là một thể chế chính trị, có nền kinh tế, đời sống văn hóa riêng; và tương ứng với đó là một nền văn học phát triển theo những đường hướng, đặc điểm riêng. Tình trạng này kéo dài đến 1975, khi đất nước được thống nhất. Ở Miền Bắc, để đáp ứng yêu cầu thực tế của đời sống, các nhà văn đã tạo nên một nền văn học mới – văn học Cách mạng. Trong hoàn cảnh cả xã hội dốc sức cho hai nhiệm vụ chính là xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đấu tranh thống nhất nước nhà, văn học cũng được huy động như một nguồn lực để phục vụ sự nghiệp chung.
Văn chương được coi là vũ khí chiến đấu chứ không còn là phương tiện giải trí.