Luận án tiến sĩ về đặc trưng thể loại truyện trinh thám Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Luận án tiến sĩ phân tích ngôn ngữ và văn hóa việt nam truyện trinh thám việt nam nửa đầu thế kỷ xx từ đặc trưng thể loại, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ
156
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1.1. Giai đoạn trước 1945

1.1.2. Giai đoạn từ 1945 đến 1975

1.1.3. Giai đoạn từ 1975 đến nay

1.2. ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.2.1. Những vấn đề đã được thống nhất

1.2.2. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, thảo luận

2. CHƯƠNG 2: DIỆN MẠO TRUYỆN TRINH THÁM VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG TRUYỆN TRINH THÁM

2.1. Khái niệm truyện trinh thám. Đặc trưng thể loại truyện trinh thám

2.2. Phân loại truyện trinh thám Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA TRUYỆN TRINH THÁM VIỆT NAM

3.1. Các giai đoạn hình thành và phát triển. Quy luật vận động của truyện trinh thám. Truyện trinh thám trong tiến trình hiện đại hóa văn xuôi

4. CHƯƠNG 4: ĐẶC ĐIỂM HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN TRINH THÁM VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX. HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT

4.1. Nhân vật thám tử

4.2. Nhân vật tội phạm

5. CHƯƠNG 5: HÌNH TƯỢNG KHÔNG GIAN, THỜI GIAN

5.1. Hình tượng không gian

5.2. Hình tượng thời gian

6. CHƯƠNG 6: ĐẶC ĐIỂM CỐT TRUYỆN VÀ PHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN TRINH THÁM VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

6.1. Vấn đề cốt truyện truyện trinh thám

6.2. Mô hình cốt truyện truyện trinh thám Việt Nam

6.3. PHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT

6.3.1. Điểm nhìn - vai kể

6.3.2. Ngôn ngữ trần thuật

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Truyện trinh thám Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Truyện trinh thám là một thể loại văn học xuất hiện muộn nhưng phát triển nhanh chóng trong nửa đầu thế kỷ XX. Thể loại truyện này kết hợp yếu tố phương Tây và truyền thống phương Đông, tạo nên sự độc đáo. Tác phẩm văn học trinh thám thu hút đông đảo độc giả, đặc biệt là tầng lớp trung lưu. Văn học Việt Nam thời kỳ này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ văn minh phương Tây, dẫn đến sự hình thành và phát triển của thể loại này. Đặc trưng thể loại của truyện trinh thám bao gồm cốt truyện ly kỳ, nhân vật thám tử thông minh, và kết thúc bất ngờ. Trinh thám Việt Nam không chỉ giải trí mà còn phản ánh xã hội đương thời.

1.1. Khái niệm và đặc trưng

Khái niệm truyện trinh thám được định nghĩa là thể loại văn học tập trung vào việc giải quyết các vụ án bí ẩn. Đặc trưng thể loại bao gồm cốt truyện chặt chẽ, nhân vật thám tử sắc sảo, và yếu tố bất ngờ. Truyện ngắn trinh thám thường có kết cấu ngắn gọn, tập trung vào một vụ án duy nhất. Nghệ thuật kể chuyện trong truyện trinh thám Việt Nam kết hợp giữa logic phương Tây và yếu tố kỳ ảo phương Đông.

1.2. Quá trình hình thành và phát triển

Truyện trinh thám Việt Nam hình thành từ sự tiếp thu văn học phương Tây, đặc biệt là tác phẩm của Edgar Allan Poe và Conan Doyle. Thế kỷ XX là giai đoạn vàng của thể loại này với sự xuất hiện của nhiều tác giả nổi bật như Thế Lữ và Phạm Cao Củng. Bối cảnh lịch sử của Việt Nam thời kỳ này, với sự giao thoa văn hóa Đông-Tây, đã tạo điều kiện cho sự phát triển của truyện trinh thám. Xu hướng văn học hiện đại hóa cũng góp phần định hình thể loại này.

II. Đặc điểm hình tượng nghệ thuật

Nhân vật trong truyện trinh thám Việt Nam thường là những thám tử thông minh, có khả năng suy luận logic. Hình tượng nhân vật phản ánh sự giao thoa giữa văn hóa phương Đông và phương Tây. Không gian và thời gian trong truyện trinh thám thường được miêu tả chi tiết, tạo nên bầu không khí bí ẩn. Cốt truyện được xây dựng chặt chẽ, với nhiều tình tiết bất ngờ. Phương thức trần thuật kết hợp giữa kể chuyện và miêu tả, tạo nên sự hấp dẫn cho người đọc.

2.1. Nhân vật thám tử và tội phạm

Nhân vật thám tử trong truyện trinh thám Việt Nam thường là những người có trí tuệ sắc bén, khả năng quan sát tinh tế. Nhân vật tội phạm thường được xây dựng phức tạp, với động cơ và hành vi khó đoán. Nghệ thuật kể chuyện tập trung vào quá trình điều tra, phá án, tạo nên sự kịch tính. Đối tượng độc giả của truyện trinh thám là những người yêu thích sự ly kỳ, bí ẩn.

2.2. Không gian và thời gian nghệ thuật

Hình tượng không gian trong truyện trinh thám thường là những địa điểm bí ẩn, như biệt thự cổ, khu rừng hoang. Hình tượng thời gian thường được miêu tả là ban đêm, tạo nên không khí rùng rợn. Tình huống truyện thường xoay quanh các vụ án bí ẩn, với nhiều tình tiết bất ngờ. Mạch truyện được xây dựng chặt chẽ, dẫn dắt người đọc từ bất ngờ này đến bất ngờ khác.

III. Phân tích và đánh giá

Phân tích văn học cho thấy truyện trinh thám Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX có giá trị nghệ thuật và tư tưởng đáng kể. Tác giả nổi bật như Thế Lữ và Phạm Cao Củng đã đóng góp lớn cho sự phát triển của thể loại này. Đặc điểm văn hóa của Việt Nam được phản ánh qua cách xây dựng nhân vật và cốt truyện. Phê bình văn học đánh giá cao sự sáng tạo và tính độc đáo của truyện trinh thám Việt Nam. Thực tiễn ứng dụng của thể loại này là khả năng thu hút và giáo dục độc giả thông qua các câu chuyện ly kỳ, bí ẩn.

3.1. Giá trị nghệ thuật và tư tưởng

Truyện trinh thám không chỉ mang tính giải trí mà còn có giá trị nghệ thuật và tư tưởng sâu sắc. Tác phẩm văn học của Thế Lữ và Phạm Cao Củng phản ánh xã hội Việt Nam đương thời. Đặc trưng thể loại được thể hiện qua cách xây dựng cốt truyện và nhân vật. Phê bình văn học đánh giá cao sự sáng tạo và tính độc đáo của truyện trinh thám Việt Nam.

3.2. Ảnh hưởng và đóng góp

Truyện trinh thám đã góp phần đa dạng hóa văn học Việt Nam hiện đại. Tác giả nổi bật như Thế Lữ và Phạm Cao Củng đã tạo nên những tác phẩm có giá trị lâu dài. Đối tượng độc giả của thể loại này là những người yêu thích sự ly kỳ, bí ẩn. Thực tiễn ứng dụng của truyện trinh thám là khả năng thu hút và giáo dục độc giả thông qua các câu chuyện hấp dẫn.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Truyện trinh thám Việt Nam ra đời vào đầu thế kỷ XX. Trong một quãng thời gian rất dài, thể loại này thường bị coi là “văn chương hạng hai”, ít được giới nghiên cứu chú ý. Đây là một thực tế rất dễ nhận thấy và do nhiều nguyên nhân khác nhau chi phối, cả chủ quan lẫn khách quan.

Trước hết là bởi truyện trinh thám ở giai đoạn đầu chưa có những thành tựu thật sự nổi bật. Một trở ngại khác là do thị hiếu thẩm mỹ của người Việt nửa đầu thế kỷ XX; họ chưa thể quen với hình ảnh nhân vật thám tử điều tra dựa trên cơ sở tư duy logic, kết hợp với phương tiện khoa học hiện đại để phá án. Hoạt động thám tử, điều tra vụ án theo lối phương Tây vẫn còn là những thứ xa lạ đối với người Việt Nam vốn quen với lối truyện “kỳ án”, “công án”. Thế nên người đọc thường cho rằng truyện trinh thám là kết quả của sự bịa đặt, hư cấu, do nhà văn tự tưởng tượng ra.

Đấy là chưa kể, do sự chi phối của quan niệm truyền thống, văn chương đích thực phải là thứ văn chương dùng để “tải đạo”, “ngôn chí”, những thứ vốn rất mờ nhạt đối với truyện trinh thám. Bởi vậy, thể loại này đương nhiên không được chú trọng, không được đánh giá cao. Hoạt động sáng tác, nghiên cứu, phê bình văn học trinh thám do vậy cũng có những đặc điểm riêng. Giai đoạn trước 1945 Năm 1928, tác giả S.S Van Dine (1888 – 1939, bút danh của Willard Huntington Wright), nhà phê bình nghệ thuật, nhà văn Mỹ, đã đưa ra “Hai mươi nguyên tắc của việc viết truyện trinh thám”.

Ông cho rằng “Truyện trinh thám là một dạng của trò chơi trí tuệ. Hơn nữa, có thể nói, đó còn là một sự thử thách mang tính thể thao, trong đó tác giả cần phải đọ sức một cách trung thực với độc giả” [151]. Đây được coi là những nguyên lý mẫu mực về mặt lý thuyết cho các nhà văn, nhà nghiên cứu khi tìm đến truyện trinh thám. Ở Việt Nam, những năm đầu thế kỷ XX, các nhà văn chủ yếu tiếp xúc với truyện trinh thám phương Tây thông qua tác phẩm của các nhà văn như Edgar Allan Poe, Conan Doyle, Agatha Christie.

Họ coi tác phẩm của các nhà văn này như một 8 thứ khuôn mẫu trong lĩnh vực truyện trinh thám để học hỏi, mô phỏng theo. Trong quá trình tìm tòi, thử nghiệm để sáng tác một thể loại hoàn toàn mới mẻ như vậy, các nhà văn Việt Nam đã tạo ra một kiểu truyện trinh thám với những đặc điểm riêng. Đó là những tác phẩm mà cốt truyện xoay quanh việc điều tra một vụ án (thường là cái chết bí ẩn, một vụ mất cắp), có nhân vật thám tử (chuyên nghiệp hoặc không chuyên); và trong suốt quá trình điều tra, cả tác giả và độc giả cùng khám phá bí mật cho đến kết thúc câu chuyện, vụ án được làm sáng tỏ. Đây cũng là những những nguyên tắc cơ bản của truyện trinh thám Phương Tây mà các nhà văn Việt Nam đã vận dụng.

Bên cạnh đó, họ còn biết kết hợp với kiểu truyện “kỳ án”, “công án” rất phổ biến trong văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc. Sự kết hợp này đã tạo nên một thể loại truyện trinh thám “hỗn hợp”, được pha trộn yếu tố vụ án – ái tình – hành động – võ hiệp rất độc đáo. Tuy nhiên, trên thực tế, hiện tượng này lại chưa được giới nghiên cứu tìm hiểu một cách đầy đủ. Có thể nói cho đến giữa thế kỷ XX, ở Việt Nam vẫn chưa có một công trình nghiên cứu quy mô nào về thể loại truyện trinh thám được công bố.

Những gì được gọi là nghiên cứu thực ra chỉ là những nhận xét, lời bàn sơ lược về một số hiện tượng cụ thể; đó thường là các bài giới thiệu, phân tích về nội dung, nghệ thuật trong tác phẩm của một số cây bút như Thế Lữ, Phạm Cao Củng… do chính các nhà văn thực hiện. Trong “Lời giới thiệu” Vàng và máu, Khái Hưng đã nhận xét về hiện tượng kết hợp “bút pháp” phương Tây và phương Đông ở các truyện trinh thám kinh dị của Thế Lữ. Nhà văn lý giải như sau: “Tác giả những truyện Vàng và máu và Một đêm trăng đã tỏ ra có óc khoa học của Edgar Poe và tâm hồn thi sĩ của Bồ Tùng Linh, hai nhà viết những truyện ghê gớm huyền hoặc, làm cho độc giả yếu bóng vía phải rùng mình lúc đêm khuya” [51, tr. Đưa ra đánh giá này, Khái Hưng dường như chỉ căn cứ vào các truyện trinh thám kinh dị của Thế Lữ ở giai đoạn đầu (Vàng và máu, Một đêm trăng xuất hiện vào năm 1934).

Thực ra, khái quát như vậy về Thế Lữ là chưa đầy đủ bởi ông còn có cả loạt truyện trinh thám suy luận (tập trung nhất là truyện về nhân vật thám tử Lê Phong) xuất hiện từ năm 1937. 9 Trong khi đó, Dương Quảng Hàm lại có cái nhìn khác về tác phẩm Vàng và máu, Bên đường thiên lôi của Thế Lữ. Nhà nghiên cứu nhấn mạnh đến “chủ đích” của tác giả khi sáng tác truyện trinh thám kinh dị: Ông thường công kích những điều mê tín dị đoan. Muốn đạt chủ đích ấy, ông đặt những câu chuyện có vẻ rất rùng rợn làm cho người đọc ghê sợ, rồi đến đoạn kết, ông đem cái lẽ khoa học ra mà giải thích các việc đã xảy ra một cách rất đơn giản, tự nhiên.

Chính vì thế, các câu chuyện có sức hấp dẫn kỳ lạ, làm cho người đọc thích thú [45, tr. Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan, trong cuốn Nhà văn hiện đại, Tập II (1943), cũng dành một phần để nói về truyện trinh thám Việt Nam. Ông đặc biệt chú ý đến Phạm Cao Củng, theo tác giả, Phạm Cao Củng là tiêu biểu nhất trong số các cây bút theo đuổi thể loại văn học này. Vũ Ngọc Phan cho rằng : Trong các tiểu thuyết trinh thám của Thế Lữ, Bùi Huy Phồn và Phạm Cao Củng, chỉ có tiểu thuyết của Phạm Cao Củng là có phần đặc sắc hơn., các truyện trinh thám của Bùi Huy Phồn mang tính chất “hoạt kê”.

cách điều tra, phán đoán sự việc mà ông miêu tả trong truyện còn đơn giản, nhiều yếu tố ngẫu nhiên, vô lý [89, tr. Có thể thấy Vũ Ngọc Phan đã đánh giá cao sự sáng tạo của Phạm Cao Củng trong việc tiếp biến một thể loại văn học có nguồn gốc từ phương Tây. Ở đây cái nhìn của ông đối với Thế Lữ có phần gần gũi với Khái Hưng. Theo Vũ Ngọc Phan thì “Về tiểu thuyết, tuy loại truyện trinh thám của Thế Lữ chưa thành công, nhưng về những truyện ghê sợ, ông đã chứng tỏ là một tiểu thuyết gia có biệt tài, nghệ thuật viết tiểu thuyết của Thế Lữ ở đây đã lên tới trình độ cao” [89, tr.

Điều đáng lưu ý là Vũ Ngọc Phan tuy đề cao khả năng của Thế Lữ trong các tác phẩm trinh thám kinh dị (ông gọi là “truyện ghê sợ”) nhưng không hiểu vì sao ông lại không thừa nhận sự thành công của Thế Lữ trong loạt tác phẩm viết về thám tử Lê Phong. Đối với các tác giả chỉ viết một vài truyện mang màu sắc trinh thám như Thúy Am (Anh hùng tương ngộ, Cái hầm bí mật, Người hay ma), Cuồng Sĩ (Ai giết quan tòa), Vũ Đình Tuyết (Mảnh giấy bí mật, Con ma đeo kính Vuông khăn đẩm máu), một số tác phẩm do Tân Dân Quán xuất bản không ghi tên tác giả như Con khỉ giết người, Xác chết chạy đi đâu … hầu như rất ít hoặc không được các nhà nghiên cứu nhắc đến. 10 Ngoài các bài viết về tác giả cụ thể vừa kể trên, một số nhà nghiên cứu, nhà văn cũng đề cập đến những vấn đề chung của thể loại trinh thám. Nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng có thái độ không mấy thiện cảm về truyện trinh thám.

Tác giả giễu cợt nhân vật “thám tử” trong truyện Cái lò gạch bí mật (với đề từ: Truyện trinh thám An Nam), một kẻ có cái gì đó không bình thường: “Trinh độ này thích đọc truyện trinh thám Tây, và cả ngày, lúc nào anh cũng có vẻ bí mật, hay nhận xét từng cái cử chỉ cỏn con của người khác, và hay suy xét tâm lý người ta bằng những câu vụn vặt mà anh nghe lóm được. Anh muốn làm nhà trinh thám thứ nhất của nước Việt Nam” [155, tr. Kết thúc truyện, tang vật mà nhà thám tử tìm thấy sau nhiều ngày theo dõi kẻ tình nghi: “Tang vật đó to bằng vành khăn đàn bà, cuộn khoanh lù lù trên mặt đất thành một bãi, đầu hình búp măng, màu vàng, mà ở đuôi là có hơi ngắn, thôi thối … [155, tr. Nhìn chung, hầu hết những công trình nghiên cứu về truyện trinh thám trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX chỉ tập trung vào hai tác giả ở miền Bắc, nhưng chủ yếu tập trung vào nhóm truyện kinh dị.

Mặc dù có biểu dương sự sáng tạo của nhà văn Việt Nam trong việc tiếp thu thể loại văn học phương Tây, nhưng lại không thực sự coi trọng giá trị của thể loại truyện trinh thám ở Việt Nam. Giai đoạn từ 1945 đến 1975 Lịch sử Việt Nam, kể từ 1945 đến 1975 vận động theo một tiến trình rất đặc biệt. Năm 1945, cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đánh dấu một giai đoạn lịch sử: chấm dứt sự hiện hữu của chế độ thực dân – phong kiến. Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, lịch sử dân tộc lại bước vào một hoàn cảnh mới: từ 1945 đến 1954, nổ ra cuộc kháng chiến chống Pháp; từ 1954, đất nước chia đôi thành Miền Nam và Miền Bắc.

Từ đây, mỗi miền là một thể chế chính trị, có nền kinh tế, đời sống văn hóa riêng; và tương ứng với đó là một nền văn học phát triển theo những đường hướng, đặc điểm riêng. Tình trạng này kéo dài đến 1975, khi đất nước được thống nhất. Ở Miền Bắc, để đáp ứng yêu cầu thực tế của đời sống, các nhà văn đã tạo nên một nền văn học mới – văn học Cách mạng. Trong hoàn cảnh cả xã hội dốc sức cho hai nhiệm vụ chính là xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đấu tranh thống nhất nước nhà, văn học cũng được huy động như một nguồn lực để phục vụ sự nghiệp chung.

Văn chương được coi là vũ khí chiến đấu chứ không còn là phương tiện giải trí.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Đặc trưng thể loại truyện trinh thám Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX là một nghiên cứu chuyên sâu về sự phát triển và đặc điểm nổi bật của thể loại trinh thám trong văn học Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX. Tài liệu này không chỉ làm rõ các yếu tố cấu thành nên thể loại này mà còn phân tích cách thức nó phản ánh bối cảnh xã hội, văn hóa và lịch sử đương thời. Độc giả sẽ được khám phá những tác phẩm tiêu biểu, phong cách sáng tác, và sự ảnh hưởng của văn học phương Tây lên truyện trinh thám Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về các thể loại văn học khác, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ hồi ký tự truyện hiện đại việt nam từ góc nhìn diễn ngôn thể loại, nghiên cứu về hồi ký và tự truyện trong văn học hiện đại. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ tính đối thoại trong truyện ngắn nguyễn minh châu sau 1975 cung cấp góc nhìn sâu sắc về phong cách sáng tác của một trong những nhà văn nổi tiếng nhất Việt Nam. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ văn học việt nam hiện đại đặc điểm hồi kí của các nhà thơ lưu trọng lư huy cận xuân diệu sẽ giúp bạn hiểu thêm về thể loại hồi ký trong văn học hiện đại.

Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan, từ đó mở rộng hiểu biết về văn học Việt Nam và thế giới.