Luận án tiến sĩ: Chẩn đoán và điều trị phẫu thuật u tủy vùng cổ

Luận án tiến sĩ nghiên cứu chẩn đoán và điều trị phẫu thuật u tủy vùng cổ, cung cấp phương pháp hiệu quả trong chẩn đoán và can thiệp phẫu thuật.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

174
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Đặc điểm giải phẫu liên quan đến phẫu thuật u tủy vùng cổ

1.2. Giải phẫu cột sống cổ

1.3. Cấu trúc thần kinh- mạch máu

1.4. Phân loại u tủy cổ

1.4.1. Phân loại theo giải phẫu

1.4.2. Phân loại theo tổ chức học

1.5. Đặc điểm mô bệnh học u tủy cổ thường gặp

1.6. Đặc điểm lâm sàng u tủy cổ

1.6.1. Triệu chứng lâm sàng chung

1.6.2. Đặc điểm lâm sàng của u ở các vị trí

1.7. Chẩn đoán hình ảnh u tủy cổ

1.7.1. Chụp X quang cột sống cổ

1.7.2. Chụp cắt lớp vi tính

1.7.3. Chụp cộng hưởng từ

1.8. Điều trị u tủy cổ

1.8.1. Điều trị phẫu thuật u tủy cổ

1.8.2. Hóa trị trong u tủy cổ

1.8.3. Xạ trị u tủy cổ

1.9. Tình hình nghiên cứu u tủy cổ

1.9.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.9.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Thiết kế nghiên cứu

2.4.2. Nội dung nghiên cứu

2.5. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

2.6. Nghiên cứu biểu hiện lâm sàng

2.7. Nghiên cứu chẩn đoán hình ảnh

2.8. Điều trị phẫu thuật

2.9. Đánh giá kết quả phẫu thuật

2.10. Phương pháp thống kê và xử lý số liệu

2.11. Đạo đức nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Một số đặc điểm dịch tễ học, thời gian phát hiện bệnh

3.1.1. Tuổi và giới

3.1.2. Thời gian phát hiện bệnh

3.2. Phân loại u tủy cổ

3.3. Các đặc điểm chẩn đoán u tủy vùng cổ

3.3.1. Triệu chứng lâm sàng

3.3.2. Hình ảnh cộng hưởng từ

3.4. Vi phẫu thuật u tủy cổ

3.4.1. Phương pháp phẫu thuật

3.4.2. Tai biến trong phẫu thuật - Biến chứng sau phẫu thuật

3.4.3. Điều trị phối hợp sau phẫu thuật

3.5. Đánh giá kết quả sau phẫu thuật

3.5.1. Đánh giá kết quả gần sau phẫu thuật

3.5.2. Đánh giá kết quả xa sau phẫu thuật

3.6. Tái phát sau phẫu thuật. Biến dạng cột sống sau phẫu thuật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nghiên cứu và chẩn đoán u tủy vùng cổ

Nghiên cứu về u tủy vùng cổ tập trung vào việc xác định các đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và mô bệnh học. Chẩn đoán hình ảnh đóng vai trò quan trọng, với cộng hưởng từ (CHT) là phương pháp tiêu chuẩn để xác định vị trí, kích thước và bản chất của u. Các triệu chứng lâm sàng như đau, yếu liệt chi và rối loạn cảm giác thường gặp, đặc biệt ở u tủy vùng cổ do vị trí giải phẫu phức tạp. Phân loại u tủy theo giải phẫu và tổ chức học giúp định hướng điều trị phù hợp.

1.1. Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh

Triệu chứng lâm sàng của u tủy vùng cổ bao gồm đau cổ, yếu liệt chi và rối loạn cảm giác. Chẩn đoán hình ảnh sử dụng CHT để xác định vị trí, kích thước và mức độ xâm lấn của u. Hình ảnh CHT cũng giúp phân biệt u nội tủy và u ngoại tủy, cung cấp thông tin quan trọng cho việc lập kế hoạch phẫu thuật.

1.2. Phân loại u tủy theo giải phẫu và mô bệnh học

Phân loại u tủy theo giải phẫu bao gồm u nội tủy và u ngoại tủy. U ngoại tủy thường gặp hơn, bao gồm u màng tủy và u rễ thần kinh. Phân loại theo mô bệnh học dựa trên tiêu chuẩn của WHO, bao gồm u thần kinh đệm, u màng tủy và u mạch máu. Việc phân loại chính xác giúp đánh giá tiên lượng và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

II. Điều trị phẫu thuật u tủy vùng cổ

Điều trị phẫu thuật là phương pháp chính để loại bỏ u tủy vùng cổ. Vi phẫu thuật sử dụng kính hiển vi giúp tăng độ chính xác và giảm thiểu tổn thương các cấu trúc thần kinh và mạch máu. Phẫu thuật được thực hiện qua đường sau hoặc đường trước tùy thuộc vào vị trí và kích thước của u. Kết quả phẫu thuật được đánh giá dựa trên mức độ loại bỏ u và cải thiện chức năng thần kinh.

2.1. Phương pháp phẫu thuật và kỹ thuật vi phẫu

Phẫu thuật u tủy vùng cổ thường được thực hiện qua đường sau để tiếp cận u nằm trong ống sống. Vi phẫu thuật sử dụng kính hiển vi giúp loại bỏ u một cách chính xác, bảo tồn các cấu trúc thần kinh và mạch máu. Trong một số trường hợp, phẫu thuật qua đường trước được áp dụng để tiếp cận u nằm phía trước tủy sống.

2.2. Đánh giá kết quả và biến chứng sau phẫu thuật

Kết quả phẫu thuật được đánh giá dựa trên mức độ loại bỏ u và cải thiện chức năng thần kinh. Biến chứng sau phẫu thuật bao gồm tái phát u, biến dạng cột sống và tổn thương thần kinh. Việc theo dõi lâu dài giúp phát hiện sớm các biến chứng và đưa ra biện pháp điều trị kịp thời.

III. Ứng dụng và giá trị thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu về chẩn đoán và điều trị u tủy vùng cổ có giá trị thực tiễn cao trong việc nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị. Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin quan trọng về đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và mô bệnh học của u tủy vùng cổ. Phương pháp điều trị phẫu thuật được cải thiện nhờ việc áp dụng kỹ thuật vi phẫu, giúp giảm thiểu tổn thương và cải thiện kết quả điều trị.

3.1. Đóng góp của nghiên cứu trong y học

Nghiên cứu đóng góp vào việc nâng cao hiểu biết về bệnh lý u tủy vùng cổ, cung cấp cơ sở khoa học cho việc chẩn đoán và điều trị. Kết quả nghiên cứu được công bố trên các tạp chí y học uy tín, góp phần vào sự phát triển của khoa học sức khỏephẫu thuật thần kinh.

3.2. Ứng dụng thực tiễn trong điều trị bệnh nhân

Nghiên cứu có ứng dụng thực tiễn trong việc điều trị bệnh nhân u tủy vùng cổ. Phương pháp chẩn đoán hình ảnhphẫu thuật vi phẫu được áp dụng rộng rãi, giúp cải thiện kết quả điều trị và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Kết quả nghiên cứu cũng góp phần vào việc đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn của các bác sĩ phẫu thuật thần kinh.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Đặc điểm giải phẫu liên quan đến phẫu thuật u tủy vùng cổ 1. Giải phẫu cột sống cổ Thân đốt sống: đường kính trước sau phía dưới thường lớn hơn đường kính trước sau phía trên. Đường kính trước sau của thân đốt sống từ C3-C7 từ 15,6-17,6mm [13].

Ứng dụng đường kính trước sau thân đốt sống để chọn chiều dài của vít bắt vào thân đốt sống trong phẫu thuật làm cứng cột sống cổ qua lối cổ trước. Cuống: từ hai mặt sau bên của thân đốt sống cho ra hai cuống. Cuống có cấu trúc hình ống ngắn, cùng với mảnh tạo nên cung đốt sống. Khối bên nằm ở giữa mảnh và cuống, có mặt khớp trên và dưới.

Mảnh: ở vùng cổ, các mảnh ngắn và mỏng. Mảnh có thể được cắt bỏ hết trong phẫu thuật mà ít gây ảnh hưởng đến độ vững của cột sống cổ. Ống sống cổ có đặc điểm là rộng ở trên từ C1-C3 và hẹp ở dưới, do vậy u vùng tủy cổ cao thường khi phát triển lớn mới gây chèn ép tủy. Mỏm ngang: mỗi thân đốt sống có hai mỏm ngang.

Các mỏm ngang của các đốt sống cổ từ C6 trở lên có lỗ ngang để động mạch đốt sống đi qua. Lỗ ngang ở C3-C5 nằm lệch vào trong so với điểm trung tâm của khối bên. Trong khi đó lỗ ngang của C6 lại nằm trực diện so với vị trí trung tâm của khối bên, vì vậy cần phải thận trọng khi phẫu thuật bắt vít qua cuống hoặc lấy các u rễ thần kinh nhất là các u Dumbell cho phù hợp theo từng đốt sống cổ để tránh gây tổn thương động mạch đốt sống. Cấu trúc thần kinh - mạch máu 1.

Mặt ngoài tủy sống được phân làm đôi bởi 2 rãnh: rãnh giữa trước và rãnh giữa sau. Rãnh trước là một khe sâu có màng nuôi lách vào giữa, rãnh 4 sau hẹp. Ở hai bên rãnh trước và sau khoảng 2 - 3mm cách đường giữa thoát ra các rễ trước (rễ vận động) và rễ sau (rễ cảm giác) của các dây thần kinh sống. Các rễ sau tách cách đều đường giữa, nên tất cả ở trên một đường dọc.

Khi phẫu thuật lấy u trong tủy thì thường mở tủy ở đường rãnh giữa sau sẽ không ảnh hưởng đến các rễ thần kinh và mạch máu. Tủy cổ bắt đầu từ lỗ chẩm tiếp theo hành tuỷ. Trên mặt phẳng cắt ngang, tủy sống có hình bầu dục, hơi dẹp theo chiều trước – sau, ở giữa là ống trung tâm, bao quanh ống trung tâm là chất xám, bên ngoài là chất trắng. Chất xám được tạo thành bởi các tế bào thần kinh của tủy sống, bố trí trông giống như hình con bướm, có hai sừng trước khá lớn so với hai sừng sau nhỏ hơn.

Sừng trước phình to và hợp bởi các tế bào vận động. Chất trắng hợp bởi các đường dẫn truyền tủy sống hướng lên và hướng xuống. Quan trọng nhất trong các đường dẫn truyền hướng xuống (bó tháp), bó này chiếm toàn bộ phần sau của cột bên tủy sống. Ở vị trí của mỗi khoanh tủy, các sợi rời khỏi bó tháp, đi vào trong tới sừng trước tủy sống.

Các sợi của bó tháp thẳng chạy theo cột trước của tủy sống ngay sát khe trước giữa của tủy sống. Các đường dẫn truyền hướng lên tiếp nhận các thông tin từ các rễ sau. Cột sau tủy sống chứa các sợi dẫn truyền các cảm giác sâu như cảm giác bản thể, nhận biết vị trí. Cột trước bên của tủy sống chứa nhiều bó trong đó có các sợi tiếp nhận thông tin từ bên đối diện về các cảm giác nông [14].

Giống như não, tuỷ được bao phủ bởi màng mềm và màng nhện trong có chứa dịch não tủy, ngoài cùng là màng cứng. Tuỷ cổ bám vào màng cứng bằng các dây chằng răng lược ở hai bên, giữa hai rễ thần kinh. Dây chằng răng lược có tác dụng bảo vệ tuỷ bằng cách giữ tuỷ trong dịch não tuỷ và hạn chế cử động của tuỷ khi cổ vận động. Khi phẫu thuật dựa vào vị trí các dây chằng này để phân biệt phía trước, sau tủy và có thể cắt bỏ để đi ra trước lấy u.

Thiết đồ cắt ngang đốt sống cổ *Nguồn: theo Guerin H. Hệ thống mạch máu tủy sống Động mạch đốt sống là động mạch chính cung cấp máu cho cột sống và tuỷ cổ. Động mạch đốt sống có nguyên ủy tách ra từ động mạch dưới đòn cùng bên, động mạch chạy thẳng lên trên, vào hộp sọ. Ở chỗ nguyên ủy, động mạch ở phía trước hạch sao và mỏm ngang đốt sống cổ7, ở sau tĩnh mạch đốt sống và động mạch cảnh gốc.

Động mạch chui vào lỗ ngang của mỏm ngang đốt sống cổ 6, chạy qua các lỗ ngang của các đốt sống cổ 5, 4, 3, 2 vòng quanh phía sau khối bên đốt sống cổ 1 để qua lỗ chẩm vào hộp sọ. Ở đó, hai ĐM đốt sống hai bên nối với nhau tạo nên ĐM nền. Các ĐM này cung cấp máu cho tủy sống (bởi các động mạch gai sống) và cho trám não (hành não, cầu não và tiểu não). Trong phẫu thuật lấy u với những trường hợp u lan rộng ra ngoài cần thận trọng để tránh gây tổn thương động mạch đốt sống, nhất là trường hợp cắt cung sau C1.

Đoạn trên cung sau C1, động mạch này nằm cách đường giữa 1,5cm nên khi PT không được cắt xương quá đường giữa 1,5cm tránh làm tổn thương ĐM. Tủy sống có 2 hệ ĐM chạy dọc theo: một ĐM gai trước (anterior spinal artery) và hai ĐM gai sau hai bên (posterior spinal artery). Các động mạch này cho các nhánh nhỏ nối với nhau trên bề mặt tủy. 6 Động mạch gai trước: ở đoạn cổ ĐM gai trước bắt nguồn từ sự hợp lại của hai nhánh nhỏ của ĐM đốt sống 2 bên đoạn trong màng cứng, ngay trước khi chúng nhập lại thành ĐM thân nền.

Từ đó ĐM gai trước đi trong khe dọc trước suốt chiều dài tủy sống. Trên đường đi của nó ở đoạn cổ, ĐM gai trước được cấp máu thêm từ các nhánh rễ - tủy của ĐM đốt sống đoạn cổ cao (thường ở mức C3), ĐM cổ lên ở đoạn C6-C7, ĐM cổ sâu ở đoạn từ C6-T1, và thân sườn cổ ở mức C7-T1. Dọc trên đường đi của nó cho các ĐM rãnh trung tâm len vào khe giữa trước tủy, đi hướng tâm đến trung tâm tủy, sau đó cho các nhánh xuyên tỏa ra để nuôi phần lớn chất xám. Ngoài ra còn có các nhánh thông nối với lưới ĐM màng mềm nằm ngay bề mặt tủy, cấp máu cho 2/3 trước của mạng này và cho các nhánh xuyên từ bề mặt tủy vào trung tâm.

Động mạch gai sau: ĐM gai sau thường không thành lập rõ ràng như ĐM gai trước. 2 ĐM gai sau nếu có cũng bắt nguồn từ hai ĐM đốt sống hai bên ngang mức lỗ chẩm, sau đó đi dọc trong rãnh sau bên của tủy. Chúng cho nhiều nhánh nhỏ thông nối với nhau và với ĐM gai trước dọc theo đường đi, tạo nên một mạng lưới mạch máu nhỏ nằm nông trên màng mềm tủy (Vasocorona). ĐM gai sau cấp máu cho tủy qua mạng lưới mạch máu màng mềm tủy, bằng các nhánh xuyên từ Vasocorona đi hướng tâm vào nhu mô tủy.

ĐM gai sau phụ trách nuôi 1/3 sau tủy. Hệ thống tĩnh mạch trong tủy sống dẫn máu vào mạng tĩnh mạch màng nuôi rồi đổ vào các tĩnh mạch rễ. Hệ thống tĩnh mạch trong tủy sống được chia làm hai nhóm: các tĩnh mạch trung tâm và các tĩnh mạch xuyên hình tia. Các tĩnh mạch trung tâm là các tĩnh mạch sắp xếp theo hình răng lược nhận máu từ một bên của chất xám, đổ vào thân chung là các tĩnh mạch phân bố theo chiều dọc ở khe giữa.

Nhiều tĩnh mạch trung tâm nối với nhau và đổ vào tĩnh mạch tủy sống trước. Các tĩnh mạch xuyên hình tia nằm trong các rãnh dọc sau của tủy sống dẫn máu vào mạng tĩnh mạch màng nuôi. Tĩnh mạch tủy sống sau thường có kích thước lớn hơn (0.4 – 1 mm) so với động mạch và đôi 7 khi lại chia ra làm 2 hoặc 3 tĩnh mạch nhỏ hơn. Tĩnh mạch này có hình dạng ngoằn ngoèo, chạy theo rãnh giữa sau và nối với các tĩnh mạch thông từ đó nối với các tĩnh mạch dọc ở bên.

Tĩnh mạch này thường được các phẫu thuật viên dùng làm mốc để tìm đến rãnh giữa sau, nơi có thể mở tủy sống an toàn. Các tĩnh mạch rễ nhận máu từ mạng tĩnh mạch màng nuôi và ở bên ngoài. Nhiều tĩnh mạch rễ hợp lại với nhau ở khu vực dưới màng cứng và đổ máu vào đám rối tĩnh mạch ngoài màng cứng. Tủy sống Rãnh giữa trước Hình 1.

Liên quan giữa tủy sống và xung quanh Màng mềm (nhìn trước). Dây chằng răng *Nguồn: theo Guerin H. Màng nhện và màng và cs (2006) cứng tủy Rễ lưng C6 Rễ trước C6 ĐM-TM gai trước 8 Hình 1. Động mạch đốt sống, các đoạn và liên quan (BA- ĐM thân nền; PICA- ĐM tiểu não sau; SA- ĐM dưới đòn) *Nguồn: theo Prasad S.

Mô tả giải phẫu ĐM gai trước và các động mạch rãnh trung tâm *Nguồn: theo Netter F. Phân loại u tủy cổ 1. Phân loại theo giải phẫu Theo Greenberg M. (2010) [4], u tủy sống chia làm các nhóm như sau: 1.

U ngoài tủy (extramedullary) - U dưới màng cứng ngoài tủy (Intradural-extramedullary) chiếm 40%, chúng phát sinh ở màng mềm hoặc rễ thần kinh. Bao gồm: u màng tủy (meningioma); u xơ thần kinh (neurofibroma); u mỡ (lipoma); u hỗn hợp (miscellaneous); u mạch máu tủy; u tế bào schwann, có thể có dạng hình đồng hồ cát hay hình quả tạ đôi (dumbell) với một phần u nằm trong và một phần phát triển ra ngoài ống sống. - U ngoài màng cứng (Extradural) chiếm khoảng 55%, có thể gặp: + U phát triển ác tính, thường là di căn từ nơi khác đến như u lympho; u di căn từ ung thư phổi, vú, tuyến tiền liệt… + Các u một phần ở ngoài, một phần dưới màng cứng như: u màng tủy (15% u màng tủy là ngoài màng cứng), u rễ thần kinh, u màng tủy ác tính. U nội tủy (intramedullary) Gặp khoảng 5%, phát sinh ở chất tủy, xâm lấn phá hủy chất xám và các bó thần kinh tủy, bao gồm: u tế bào hình sao khoảng 30% (astrocytoma); u màng ống nội tủy khoảng 30% (ependymoma); u hỗn hợp khác gồm các u thần kinh đệm ác tính (malignant glioblastoma), u nang da, u thượng bì, u mỡ, u quái, u nguyên bào máu, u tế bào thần kinh đệm ít nhánh… 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu chẩn đoán và điều trị phẫu thuật u tủy vùng cổ" tập trung vào việc phân tích các phương pháp chẩn đoán và điều trị hiệu quả cho các khối u tủy sống ở vùng cổ. Tài liệu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các kỹ thuật phẫu thuật hiện đại mà còn nêu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị, từ đó giúp các bác sĩ và nhà nghiên cứu có thêm thông tin quý giá trong việc cải thiện quy trình điều trị cho bệnh nhân.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến ung thư và điều trị, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Luận án tiến sĩ nghiên cứu sự biểu lộ và mối liên quan của các dấu ấn miễn dịch của aldehyde dehydrogenase kras ở bệnh nhân ung thư dạ dày", nơi nghiên cứu về các dấu ấn miễn dịch trong ung thư. Ngoài ra, "Luận án tiến sĩ đánh giá kết quả điều trị nội tiết ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn iv" cũng sẽ cung cấp thông tin hữu ích về điều trị ung thư nội tiết. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Luận án tiến sĩ nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chống kết tập tiểu cầu của clopidohrel trong điều trị hội chứng mạch vành cấp", giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các phương pháp điều trị trong lĩnh vực y học hiện đại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và cập nhật các xu hướng mới trong nghiên cứu và điều trị bệnh.