Chương 1 trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu câu hỏi và câu hồi đáp của các nhà ngôn ngữ học thế giới cũng như của các nhà Việt ngữ học, tình hình 12 nghiên cứu câu hỏi và câu hồi đáp trong HĐDTV cho người nước ngoài. Những vấn đề lý thuyết cơ bản liên quan đến đề tài như khái niệm câu hỏi và câu hồi đáp, cách phân loại câu hỏi, khái niệm hội thoại, lý thuyết dạy tiếng.cũng được trình bày trong chương này để làm cơ sở cho những nghiên cứu cụ thể về các loại câu hỏi được triển khai ở chương 2 và chương 3 của luận án. Chương 2: Câu hỏi - câu hồi đáp trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Chương 2 sẽ tiến hành khảo sát các loại câu hỏi chính danh và câu hồi đáp trong 03 bộ sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở trình độ cơ sở, trung cấp và cao cấp. Qua kết quả khảo sát, luận án đưa ra những nhận xét, đánh giá, đề xuất việc đưa các loại câu hỏi chính danh vào các sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở 3 trình độ theo quan điểm giao tiếp.
Chương 3: Câu hỏi - câu hồi đáp trong hoạt động dạy - học tiếng Việt cho người nước ngoài Chương 3 khảo sát các loại câu hỏi chính danh và câu hồi đáp sử dụng trong 03 lớp dạy tiếng Việt cho người nước ngoài trình độ cơ sở, trung cấp và cao cấp dựa vào tư liệu ghi âm và quan sát trên lớp học. Từ đó, luận án đưa ra những nhận xét, góp ý và đề xuất trong việc đưa và sử dụng các loại câu hỏi chính danh trong các lớp dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở cả 3 trình độ, theo quan điểm giao tiếp. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương này chúng tôi sẽ trình bày hai nội dung chính. Nội dung thứ nhất là tình hình nghiên cứu câu hỏi và các quan niệm khác nhau của các nhà ngôn ngữ học thế giới cũng như các nhà Việt ngữ học về câu hỏi và câu hồi đáp.
Nội dung thứ hai là những cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài như khái niệm câu hỏi, phân loại câu hỏi, lý thuyết giao tiếp và lý thuyết dạy ngoại ngữ theo phương pháp giao tiếp. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu câu hỏi và câu hồi đáp trên thế giới Cho đến nay, các công trình nghiên cứu về câu hỏi (và tương ứng là câu hồi đáp) trên thế giới thường đi theo hai hướng nghiên cứu chính: hướng nghiên cứu về mặt cú pháp (đối tượng chính là đặc điểm hình thức/cấu trúc của câu hỏi) và hướng nghiên cứu về dụng học (đối tượng nghiên cứu chính là chức năng của câu hỏi trong hoạt động giao tiếp).1 Hướng nghiên cứu thiên về mặt cú pháp Từ thời Hy Lạp cổ đại, các nhà logic học hình thức cổ điển đã nhắc đến câu hỏi nhưng với tư cách là đối tượng bị loại bỏ ra khỏi phạm vi nghiên cứu. Toàn bộ lý thuyết logic hình thức chỉ lấy câu tường thuật làm đối tượng nghiên cứu.
Điển hình là nhà triết học Hy Lạp cổ đại nổi tiếng Aristotle đã viết lý thuyết phán đoán dựa trên nội dung logic của câu tường thuật. Câu hỏi chưa được các nhà triết học, nhà logic học quan tâm đến [dẫn theo Lê Đông, 1996, tr. Ngôn ngữ học truyền thống (giai đoạn trung và cận đại) chịu ảnh hưởng của logic hình thức, nghiên cứu từ và câu dựa trên chất liệu của ngôn ngữ học Châu Âu. Khi nghiên cứu câu, các nhà ngôn ngữ học truyền thống đã phân loại câu theo mục đích thông báo.
Theo đó ngôn ngữ có 4 loại câu là: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán. Tất cả các câu đều quy vào bốn loại câu 14 trên. Mặc dù tiêu chí phân loại ở đây là mục đích thông báo nhưng Ngữ pháp truyền thống nhận diện các kiểu câu dựa trên những dấu hiệu ngữ pháp. Đối với các ngôn ngữ châu Âu, dấu hiệu ngữ pháp quan trọng nhất để phân chia kiểu câu chính là thức (mood) của động từ.
Riêng với câu hỏi/nghi vấn (interrogative sentence) bên cạnh thức nghi vấn (interrogative mood), chúng còn được nhận diện bằng cả trật tự từ ở hình thức đảo (inversion). Trong thời gian này, các nhà ngôn ngữ học chỉ tập trung chú ý vào các phạm trù riêng như thành phần câu, mô hình cấu trúc câu. trừu tượng hóa ở mức độ cao khỏi ý nghĩa và các hoàn cảnh giao tiếp hiện thực [dẫn theo Lê Đông, 1996, tr. Câu hỏi mới chỉ được nhắc đến trong quá trình phân loại câu chứ chưa được nghiên cứu sâu, ở nhiều phương diện.
Câu hồi đáp cũng chưa được nghiên cứu. Đến thế kỉ XIX, tình hình đã thay đổi. Ngôn ngữ học Cấu trúc ra đời mà đại diện tiêu biểu là F. Saussure, đã mang đến cho ngành ngôn ngữ học một làn gió mới.
Các nhà ngôn ngữ học bắt đầu hướng đến ngôn ngữ như một sự thật cần đặc biệt miêu tả một cách khách quan. Xu hướng này thể hiện rõ trong các trường phái ngôn ngữ học Cấu trúc, đặc biệt là trường phái ngôn ngữ học Cấu trúc Mĩ mà đại diện tiêu biểu là L. Harris với những đóng góp to lớn trong việc miêu tả hệ thống ngữ pháp của ngôn ngữ. Các nhà ngôn ngữ Cấu trúc Mĩ đã nhận diện và phân tích các đơn vị và cấu trúc ngôn ngữ bằng phương pháp phân tích phân bố.
“Theo đó, ngữ học phải là một tập hợp những kĩ thuật miêu tả khách quan các cấu trúc ngôn ngữ (âm vị học, hình thái học, cú pháp học) như nó vốn có” [Đinh Văn Đức, 2012, tr. Trong giai đoạn này “Việc miêu tả câu hỏi dường như chỉ còn là công việc chỉ ra các kiểu phương tiện hình thức mà ngôn ngữ vốn có, khoác lên những mô hình câu đã được miêu tả kĩ lưỡng một bộ áo tình thái thích hợp, gắn với những thao tác cải biến cú pháp [Lê Đông, 1996, tr. Nếu như Cấu trúc luận Mĩ chỉ tập trung phân tích mô tả các cấu trúc bề mặt của ngôn ngữ trong trạng thái tĩnh thì Ngữ pháp Cải biến tạo sinh của Chomsky xem xét nó ở trạng thái động, tức là xem 15 xét quá trình biến đổi, tạo sinh cấu trúc bề mặt (cấu trúc nổi) từ các cấu trúc tiềm ẩn ở bề sâu (cấu trúc chìm). Từ góc độ Ngữ pháp cải biến, Chomsky cũng đề cập đến vấn đề phân loại câu.
Từ bình diện tâm lí, Chomsky phân biệt ba kiểu câu khác nhau về mặt tình thái là câu tường thuật, câu nghi vấn và câu mệnh lệnh. Ông khu biệt ba kiểu câu này bằng tình thái. Như vậy trong giai đoạn này các nhà ngôn ngữ học miêu tả câu hỏi bằng cách chỉ ra các kiểu phương tiện hình thức, mô tả mô hình câu gắn với tình thái, gắn với những thao tác cải biến cú pháp. Một số nhà ngôn ngữ học và logic học cũng đã quan tâm đến bình diện logic – ngữ nghĩa của câu hỏi.
Trong suốt một thời gian dài, việc nghiên cứu câu hỏi chịu ảnh hưởng rất lớn của logic hình thức. Bởi vậy nội dung của câu hỏi thường được trình bày bằng những khái niệm (như mệnh đề, phán đoán.), công thức logic. Kết quả nghiên cứu tìm ra các thuộc tính logic của câu hỏi nhưng lại có phần đơn giản hóa, xa rời với thực tế. Lyons (1980) khi nghiên cứu về các “câu hỏi bộ phận”, “câu hỏi riêng” thì đưa ra dưới dạng mệnh đề.
“Các câu hỏi quen gọi là “câu toàn bộ”, “câu hỏi chung” thì được giải thuyết là “những câu hỏi đặt ra để xác định tính đúng của các thao tác logic, nhằm vào việc lựa chọn và kết hợp các thành phần của phán đoán (chủ từ, hệ từ, vị từ) mà bỏ qua những đặc trưng về ngữ nghĩa – ngữ dụng thực thụ” Jespersen (1971) cho rằng khi đặt ra một câu hỏi toàn bộ là người nói muốn tìm cách để biết xem đặt một chủ từ như thế nào, gắn với một vị từ như thế nào, là có đúng hay không. Tesnière cũng đưa ra các phân tích các câu hỏi toàn bộ tương tự như vậy. Xét ví dụ: Alfred chante – l – til une chanson? thì cái điều mà ta muốn biết là ba khái niệm (Alfred, chanter, chanson) có thể kết nối với nhau được hay không, giữa chúng có tồn tại những mối liên hệ (cú pháp) hay không [Lê Đông, 1996, tr. Nhà logic học P.
Wately cho rằng, tất cả các câu hỏi toàn bộ trên thực tế đều là câu hỏi để biết một vị từ nào đó áp dụng được hay không áp dụng được với một chủ từ nào đó. Vì các phán đoán đều quy về hai dạng (A) là 16 (B) hoặc (A) không/ không phải/ là (B) tức là bao gồm hai thành phần nối với nhau bởi một hệ từ, cho nên nội dung của các câu hỏi này có thể diễn đạt là: hệ từ nào nối chủ từ (A) với vị từ (B)? Các câu hỏi toàn bộ đã trở thành “một thứ công cụ siêu ngôn ngữ của logic học chứ không phải một hiện tượng ngôn ngữ tự nhiên trong giao tiếp hàng ngày” [Lê Đông, 1996, tr. Từ đó nhiều nhà ngôn ngữ học đã đồng nhất câu hỏi với phán đoán logic. Về sau nhà triết học người Anh là J.
Austin đã tìm cách mổ xẻ cơ chế hoạt động của ngôn ngữ để giải thích cơ chế hoạt động, nhằm mục đích của hoạt động đó. Ông đưa ra một loạt các khái niệm mới như tạo lời, ngôn trung, xuyên ngôn, liên nhân .2 Hướng nghiên cứu thiên về mặt dụng học Như chúng ta đã biết, thành tựu lí luận ngôn ngữ học lớn nhất của thế kỉ XX đầu tiên là thuộc về ngôn ngữ học Cấu trúc và tiếp sau đó là ngôn ngữ học Chức năng. Nếu như ngôn ngữ học Cấu trúc tập trung vào nghiên cứu hệ thống cấu trúc ngôn ngữ thì ngôn ngữ học Chức năng lại tập trung vào nghiên cứu cơ chế hoạt động của ngôn ngữ. Các nhà ngôn ngữ học ở giai đoạn hậu Cấu trúc luận thấy rằng nếu chỉ nghiên cứu những mẫu câu và các quan hệ hình thức giữa chúng là không đủ dù đã có những cải cách về mặt nghiên cứu và đã có những biến đổi về lí luận ngôn ngữ học.
“Với nhận thức rằng ngôn ngữ học không chỉ có hình thức, các nhà ngôn ngữ học hiểu rằng với một câu nói thì nghĩa của câu không chỉ đơn thuần là nghĩa của các từ cộng lại mà nghĩa còn xuất hiện trong hành động nói năng và trong những ngữ cảnh.