ĐẶT VẤN ĐỀ Bàn tay, đặc biệt là các ngón tay, là bộ phận tinh tế nhất của hệ vận động, tham gia vào hầu hết các hoạt động trong lao động và trong sinh hoạt hàng ngày, thực hiện chức năng vận động tinh vi và xúc giác tinh tế. Đây là bộ phận tiếp xúc trực tiếp với công cụ lao động nên các chấn thương, vết thương bàn ngón tay trong đó có tổn thương khuyết hổng phần mềm ngón tay là tổn thương thường gặp: Tại Mỹ trong năm 2011 có trên 1 triệu bệnh nhân vết thương bàn ngón tay 1. Tại Việt Nam, chỉ tính riêng tại viện Chấn thương chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh năm 2009, trong tổng số 3139 bệnh nhân phải nhập viện vì vết thương bàn ngón tay có 1290 bệnh nhân có vết thương ở ngón tay, 759 bệnh nhân khuyết hổng phần mềm búp ngón tay 2. Có nhiều phương pháp được sử dụng để tạo hình các khuyết hổng phần mềm ngón tay các phương pháp đều phải bảo đảm mục tiêu: Bảo tồn tối đa chiều dài ngón, phục hồi chức năng vận động tinh vi và xúc giác tinh tế của ngón tay, ngăn ngừa cứng khớp, bảo tồn được lớp mô đệm dưới da tranh bị đau khi va chạm, giúp bệnh nhân sớm quay trở lại thực hiện các hoạt động trong lao động và sinh hoạt hàng ngày3,4.
Beasley 5: Các khuyết hổng phần mềm ngón tay thường bị lộ gân xương khớp nên cần được che phủ bằng các vạt tổ chức. Có 3 yếu tố quan trọng khi lựa chọn vạt tổ chức để tạo hình khuyết hổng phần mềm ngón tay đó là: Bảo tồn được chức năng xúc giác tinh tế của ngón tay, ít làm tổn hại nơi cho vạt và vạt áp dụng có tính khả thi và tin cậy có thể dự đoán được trước kết quả phẫu thuật. Vạt tại chỗ vùng bàn tay là các vạt được lấy từ chính ngón tay hoặc từ bàn tay bị tổn thương 6: Năm 1935 Tranquilli-Leali là người đầu tiên báo cáo việc sử dụng vạt tại chỗ để tạo hình khuyết hổng phần mềm ngón tay kỹ thuật này sau đó được hoan thiện và báo cáo tại hội chấn thương cỉnh hình 2 hoa kỳ năm 1970 bởi Atasoy 7. Từ đó đến nay đã có rất nhiều loại vạt được áp dụng để tạo hình các khuyết hổng phần mềm ngón tay.
Vì vạt tại chỗ đáp ứng được các yêu cầu của chất liệu tạo hình khuyết hổng phần mềm ngón tay và có các ưu điểm: Không làm tổn thương thêm các ngón lành, màu sắc cấu trúc vạt tương đồng với xung quanh, vạt mỏng có đủ thanh phần da và lớp mỡ dưới da khả năng bám dinh với nền nhận tốt giúp bệnh nhân phục hồi cả về chức năng và hình thái của bàn ngón tay 8. Tại Việt Nam đã có các nghiên cứu về tạo hình khuyết hổng phần mềm ngón tay của Trần Thiết Sơn (2007) 9, Nguyễn Anh Tố (2008) 10. Tuy nhiên các nghiên cứu này chỉ đánh giá kết quả của một loại vạt trong tạo hình khuyết hổng phần mềm ngón tay, từ đó đánh giá ưu nhược điểm và đề xuất chỉ định của từng vạt. Nhưng trên thực tế lâm sàng, hình thai tổn thương khuyết hổng phần mềm ngón tay rất đa dạng một loại vạt có thể được sử dụng để tạo hình nhiều hình thai khuyết hổng phần mềm và ngược lại một khuyết hổng phần mềm có thể được tạo hình bằng nhiều loại vạt khác nhau, nên sẽ gây khó khăn cho việc lựa chọn loại vạt phù hợp với đặc điểm tổn thương.
Do đó cần có một cách phân loại khuyết hổng phần mềm ngón tay đơn giản để từ đó có thể dễ dàng đề xuất sử dụng loại vạt phù hợp. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tạo hình các khuyết hổng phần mềm ngón tay bằng vạt cuống liền tại chỗ” nhằm hai mục tiêu: 1. Đánh giá kết quả tạo hình khuyết hổng phần mềm ngón tay bằng vạt cuống liền tại chỗ. Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả tạo hình khuyết hổng phần mềm ngón tay bằng vạt cuống liền tại chỗ.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Sơ lƣợc giải phẫu ngón tay 1. Đặc điểm giải phẫu phần mềm của ngón tay 1. Đặc điểm giải phẫu phần mềm của mặt mu ngón tay Da mặt mu bàn tay (BT) và ngón tay (NT) có đặc điểm: Mỏng, mềm, dễ di động, có khả năng chun giãn đàn hồi tốt, giúp các khớp của NT thực hiện động tác gấp duỗi dễ dàng 11.
Lớp mỡ dưới da vùng mu tay mỏng hơn ở phía gan bàn tay. Dưới lớp mỡ là các gân duỗi ngón tay (NT), đặc điểm khác biệt hẳn của các gân duỗi là bao gân duỗi rất mỏng nhưng có nhiều mạch máu bao quanh nhờ đó ta có thể ghép da trực tiếp lên trên bao gân, rất ít khả năng gây dính gân. Với các khuyết hổng phần mềm (KHPM) mất lớp màng gân, các KHPM quanh vị trí các khớp vùng mu ngón tay cần tạo hình (TH) bằng các vạt tổ chức. Đặc điểm giải phẫu phần mềm của mặt gan ngón tay Da che phủ mặt gan NT có các đặc điểm riêng biệt khác với da ở các vùng khác trên cơ thể: Da ở gan ngón tay dày, chắc, không có lông, có các vách xơ sợi đi từ màng xương búp ngón đến lớp trung bì chia lớp mỡ dưới da của các ngón tay là các cụm mỡ chắc 11.
Các đặc điểm này giúp da vùng ngón tay không bị đau khi va chạm và có khả năng đàn hồi tốt nhanh chóng quay trở lại hình dạng ban đầu khi ngừng lực tác dụng 12. Trên mặt da gan ngón có các nếp vân da và các nếp vân da có cấu trúc đặc trưng riêng cho từng cá thể. Các thụ cảm thể thực hiện chức năng cảm giác có mật độ rất cao nhất là ở mặt gan các búp ngón tay để đảm nhận chức năng xúc giác tinh tế. Dưới tổ chức dưới da là các thành phần quan trọng của ngón tay: gân gấp, xương, mạch máu và thần kinh.
Các vết thương gây khuyết phần mềm thường làm lộ các thành phần này rất dễ bị tổn thương thứ phát hoặc hoại tử. 4 Do đó các KHPM ở mặt gan ngón tay đòi hỏi phải được phẫu thuật tạo hình (PTTH) bằng vạt tổ chức thỏa mãn được hai yêu cầu: Thứ nhất là một lớp mỡ dưới da đủ dầy và có tính đàn hồi tốt để không bị đau khi va chạm. Thứ hai là có khả năng phục hồi lại chức năng xúc giác tinh tế của ngón tay đặc biệt là vùng búp ngón tay. Cấu trúc giải phẫu của ngón tay 13 1.
Đặc điểm cấp máu ngón tay. Động mạch tại ngón tay. Mỗi ngón tay có hai động mạch (ĐM) gan ngón tay riêng (GNTR) nằm dọc theo hai cạnh của gân gấp, và nó nằm giữa dây chằng Cleland và Grayson. Các ĐM GNTR được tách ra từ các ĐM gan ngón tay chung tại vị trí nền của đốt gần đây là các nhánh của cung gan tay nông.
Ngoài ra cung gan tay nông còn cho nhánh GNTR bên trụ của ngón 5 14. Riêng với 2 ĐM mặt gan ngón cái tách ra từ động mạch ngón cái chính cùng với động mạch gan bên quay ngón trỏ là nhánh của cung gan tay sâu. Các ĐM gan ngón chung cũng nhận 1 phần máu từ cung gan tay sâu qua các ĐM liên cốt gan tay 5 nhỏ 15. Trong 2 ĐM GNTR có một ĐM trội là nguồn cung cấp máu chủ yếu, giữa 2 ĐM có các cung nối với nhau nên chỉ cần 1 ĐM còn hoạt động tốt là đủ để nuôi sống ngón tay.
Hệ thống tĩnh mạch sâu đi tùy hành cùng ĐM mặt gan. Các dây thần kinh ngón tay đi kèm với động mạch và phân nhánh cùng với động mạch, bó mạch thần kinh nằm ở mặt gan ngón tay. Hai ĐM GNTR có ba cung nối tiếp với nhau ở mặt gan ngón: Cung ngang mặt gan trên nằm ở ngang mức cổ đốt gần. Các nhánh từ các động mạch ở cả hai bên chui vào giữa các chân của ròng rọc chéo gần và gặp nhau để tạo thành cung.
Cung này cho ra các nhánh để nuôi dưỡng các gân gấp (thông qua các dải hãm) và khớp gian đốt gần. Cung ngang mặt gan giữa nằm ở ngang mức cổ đốt giữa. Nó có liên quan đến ròng rọc chéo xa, và nó cũng nuôi dưỡng gân gấp và khớp gian đốt xa. Cung ngang mặt gan xa được hình thành do vòng nối giữa hai ĐM GNTR tại nền của xương đố 3 ngang mức điểm bám của gân gấp sau tạo thành cung búp ngón tay.
Cấp máu vùng búp ngón tay 16: khi lên nền đốt 3, hai ĐM mặt gan sẽ nối với nhau ở cùng một độ sâu với điểm bám tận của gân gấp sâu thành một cung nối cuối kích thước của mạch từ 0. Từ cung này cho ra các tiểu ĐM đi lên phía đầu búp ngón tay và cho rất nhiều nhánh nối với màng xương của búp ngón tay rồi đi ra sau và nối vào các mạch máu nhỏ của mặt mu. Ngoài nhánh ngang mặt gan tại mỗi đốt ngón tay ĐM GNTR còn cho các mạch xuyên: Mạch xuyên lồi cầu tại vị trí các khớp NT, mạch xuyên hành xương và mạch xuyên da mu ngón tay tại vị trí giữa xương đốt ngón tay. Các nhánh này tạo thành cung lưới ma trận vùng mu tay các cung lưới gần, giữa và xa.
Cung lưới xa là vòng nối cuối của một ngón tay để nuôi dưỡng móng tay. Mạch cấp máu của ngón tay 16 Cặp động mạch mặt gan tách ra hằng định 4 mạch xuyên mu ở mỗi đốt, và lặp lại đều đặn theo thứ tự: a: mạch xuyên lồi cầu; b: mạch xuyên hành xương; c: mạch xuyên da mu; d: cung ngang mặt gan. Giải phẫu động mạch gan ngón của ngón cái 17 1. ĐM ngón cái chính 2.
Cơ đối chiếu ngón cái 3. Gân cơ gấp ngón cái dài 5. Điểm bám của gấp ngón cái ngắn 6. Cung ngang gần mặt gan 8.
Cung ngang xa mặt gan Tuần hoàn động mạch ở mặt mu ngón tay: Da vùng mu ngón tay cũng được nuôi từ các nhánh bên của ĐM mặt gan mỗi ngón tay, ngoài ra còn được cấp máu từ các ĐM mu ngón tay xuất phát từ động mạch liên cốt mu tay (thuộc mạng liên cốt mu), tuy nhiên các ĐM này chỉ cung cấp máu đến mặt 7 mu đốt 1. Động mạch liên cốt mu tay chỉ hằng định ở kẽ ngón 1 và 2, không hằng định ở kẽ ngón 3 và 4 18. Ở ngón 2 động mạch liên cốt mu tay thứ nhất đi đến đốt 1, do đó ta có thể thực hiện được vạt da diều bay ở ngón 2.