Chương 1: Tổng quan về lý thuyết lợi thế so sánh và lựa chọn hàng xuất khẩu của một quốc gia. Chương 2: Thực trạng lựa chọn và xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Hàn Quốc theo lý thuyết lợi thế so sánh. Chương 3: Định hướng và một số giải pháp hoàn thiện việc lựa chọn hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc theo lý thuyết lợi thế so sánh. 11 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT LỢI THẾ SO SÁNH VÀ LỰA CHỌN HÀNG XUẤT KHẨU CỦA MỘT QUỐC GIA 1.
Tổng quan về lý thuyết lợi thế so sánh Hecksher - Ohlin Lý thuyết Heckscher - Ohlin hay còn gọi mô hình H-O, là một mô hình toán cân bằng tổng thể trong lý thuyết thương mại quốc tế do“hai nhà kinh tế học người Thụy Điển là Eli Heckscher (vào năm 1919) và Bertil Ohlin (vào năm 1933) xây dựng. Bằng cách sử dụng khái niệm độ sẵn có các yếu tố hai tác giả muốn đề cập đến mức độ mà một nước có sẵn các nguồn lực như đất đai, lao động và vốn. Các nước có độ sẵn có các yếu tố khác nhau, và khác nhau đó giải thích những sự khác biệt về giá cả các nhân tố sản xuất; cụ thể, độ dồi dào của nhân tố càng lớn thì giá cả của nhân tố đó càng rẻ. Mô hình này dựa vào lý luận về lợi thế so sánh của David Ricardo.
Lý thuyết so sánh của David Ricardo nhấn mạnh rằng lợi thế so sánh xuất phát từ những sự khác biệt về năng suất lao động. Tuy nhiên Eli Heckscher và Bertil Ohlin đã đưa ra cách giải thích khác về lợi thế so sánh. Họ chứng tỏ rằng lợi thế so sánh xuất phát từ những sự khác biệt trong độ sẵn có các yếu tố sản xuất. Các giả thiết cơ bản của lý thuyết H-O Một số giả thiết của lý thuyết H-O: - Thế giới có hai quốc gia, hai hàng hóa, hai yếu tố sản xuất.
Đây là mô hình ba nhân tố: quốc gia, hàng hóa và yếu tố sản xuất (vốn và lao động), khác với mô hình David Ricardo chỉ có hai yếu tố là quốc gia và hàng hóa. - Một quốc gia giàu vốn và một quốc gia giàu lao động, một hàng hóa sử dụng nhiều vốn và một hàng hóa sử dụng nhiều lao động. - Công nghệ sản xuất không đổi và hiệu quả không đổi theo quy mô. - Cạnh tranh hoàn hảo trên các thị trường đầu vào và đầu ra.
- Sở thích và thị hiếu của hai quốc gia như nhau (khía cạnh cầu trong thương mại là như nhau, do đó các quốc gia có thể dễ dàng trao đổi hàng hóa cho nhau). 12 - Các yếu tố sản xuất không di chuyển giữa các quốc gia mà chỉ trong phạm vi từng quốc gia. - Đường giới hạn khả năng sản xuất có hình dạng không đổi và tiềm năng sản xuất của các quốc gia không vượt qua đường giới hạn khả năng sản xuất. - Không có chi phí vận tải, hàng rào thuế quan và các rào cản thương mại khác.
- Hai quốc gia đều chuyên môn hóa không hoàn toàn. - Thương mại diễn ra tự do và cân bằng. Hai quốc gia không có trạng thái mua bán vượt quá khả năng, mất cân bằng thương mại. Hàm lượng các yếu tố sản xuất và mức độ dồi dào của các yếu tố sản xuất Hàm lượng các yếu tố sản xuất Xem xét một mô hình đơn giản gồm hai nguồn lực cơ bản là lao động (L) và vốn (K), sử dụng để sản xuất ra hai hàng hóa là X và Y.
Hàng hóa X được coi là có hàm lượng lao động cao khi: LX LY > KX KY trong đó: LX và LY là lượng lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa X, Y. Còn KX và KY là lượng vốn cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa X, Y. Tương tự, nếu tỷ lệ giữa vốn và lao động là lớn hơn thì X được coi là hàng hóa có hàm lượng vốn cao. Mức độ dồi dào các yếu tố sản xuất Xem xét mô hình đơn giản với hai nước A, B chỉ gồm hai yếu tố sản xuất là K, L.
Quốc gia A sẽ được coi là dồi dào về yếu tố lao động nếu: LA LB KA KB trong đó: LA, LB là lượng lao động, KA KB là lượng vốn – tương ứng với quốc gia A và B. 13 Tương tự, nếu tỷ lệ giữa vốn và lao động là lớn hơn thì A được coi là nước dồi dào về vốn. Nếu căn cứ theo giá lao động, giá vốn (bằng tiền hoặc máy móc thiết bị) quốc gia A cũng được coi là dồi dào về lao động nếu: wA wB < rA rB trong đó: wA, rA là giá thuê lao động và vốn ở quốc gia A wB, rB là giá thuê lao động và vốn ở quốc gia B. Nội dung lý thuyết H – O Với các giả thiết được nêu trên và dựa trên hai khái niệm về hàm lượng yếu tố sản xuất và mức độ dồi dào các yếu tố sản xuất, nội dung lý thuyết H – O được phát biểu khái quát như sau: Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều tương đối yếu tố sản xuất dồi dào và tương đối rẻ ở nước đó và nhập khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều tương đối yếu tố sản xuất khan hiếm tương đối của quốc gia đó.
“Như vậy, lý thuyết H-O cố gắng giải thích mô hình của thương mại quốc tế mà ta chứng kiến trên thị trường thế giới. Giống như lý thuyết của Ricardo, lý thuyết H-O cho rằng thương mại tự do sẽ mang lại lợi ích. Tuy nhiên, điểm khác biệt ở đây là lý thuyết H-O lại lập luận rằng mô hình thương mại quốc tế được xác định bởi sự khác biệt về mức độ sẵn có của các nhân tố sản xuất hơn là bởi sự khác biệt về năng suất lao động. Lý thuyết H-O dễ dàng được minh chứng trên thực tế.
Ví dụ như nước Mỹ trong một thời gian dài là một nước xuất khẩu lớn trên thế giới về hàng nông sản, và điều này phản ánh một phần về sự dồi dào khác thường của Mỹ về diện tích đất có thể canh tác. Hay ngược lại, Trung Quốc nổi trội về xuất khẩu những hàng hóa được sản xuất trong những ngành sử dụng nhiều lao động như là dệt may và giày dép. Điều này phản ánh mức độ dồi dào tương đối của Trung Quốc về lao động giá rẻ. Nước Mỹ, vốn không có nhiều lao động giá rẻ, từ lâu đã là nước nhập khẩu chủ yếu những mặt hàng này.
Lưu ý rằng, mức độ sẵn có ở đây là tương đối, không phải con số tuyệt đối; một nước có thể có số lượng tuyệt đối 14 các nhân tố đất đai và lao động nhiều hơn hẳn so với nước khác, nhưng lại chỉ có mức độ dồi dào tương đối một trong hai yếu tố đó mà thôi. Đánh giá lý thuyết H-O 1.Ưu điểm Lý thuyết H-O được xem là một trong các lý thuyết có mức độ ảnh hưởng rộng lớn trong kinh tế học quốc tế bởi: thứ nhất, lý thuyết này đưa ra được cách giải thích khoa học, chặt chẽ và có tính logic cao về nguồn gốc lợi thế so sánh và thương mại giữa hai quốc gia; Thứ hai, so với lý thuyết so sánh của David Ricacdo thì lý thuyết H – O có tính khái quát cao hơn nhất là được bổ sung thêm khái niệm vốn con người; Thứ ba, lý thuyết này là một công cụ hết sức hữu ích đối với các nhà kinh tế học quốc tế, giúp cho việc nghiên cứu một loạt các vấn đề liên quan đến giá cả các yếu tố sản xuất, tác động của sự tăng trưởng các yếu tố sản xuất đến quy mô sản xuất và thương mại, và ảnh hưởng của thương mại đến quá trình phân phối thu nhập của mỗi quốc gia; Thứ tư, lý thuyết H – O là một bộ phận cấu thành của lý thuyết kinh tế có ảnh hưởng lớn nhất hiện nay – lý thuyết cân bằng tổng quát của trường phái tân cổ điển, và do đó góp phần quan trọng trong việc giải thích cơ chế vận hành của kinh tế thị trường. Nhược điểm Trên thực tế“càng ngày người ta càng thấy có những đặc điểm trong thương mại quốc tế mà mô hình này không thể giải thích,ví dụ như: - Quan hệ thương mại nội ngành ví dụ, Mỹ xuất khẩu xe hơi sang Nhật và châu Âu nhưng cũng nhập khẩu xe hơi từ hai khu vực này. Theo lý thuyết lợi thế so sánh thì trao đổi thương mại trong ngành này không thể xảy ra vì với một mặt hàng, chỉ có một chiều thương mại từ nơi có lợi thế sang nơi không có lợi thế sản xuất mặt hàng đó, như nước chỉ chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp mà thôi.
Nhưng thực tế lại không diễn ra như vậy.” - Quan hệ tự do hóa thương mại: kể từ sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thương mại quốc tế đã được tự do hóa đáng kể và do đó có sự gia tăng nhanh chóng về quy mô. Xuất phát từ lý thuyết H-O thì sẽ có những biến đổi lớn trong phân bổ nguồn lực và mâu thuẫn xã hội. Tuy nhiên thực tế đã chứng minh, thương mại quốc tế phát triển 15 làm tăng năng suất của tất cả các yếu tố sản xuất và tăng phúc lợi xã hội với mọi tầng lớp dân cư trong xã hội. - Thương mại giữa các nước công nghiệp phát triển: ngày nay, hơn nửa thương mại quốc tế được diễn ra giữa các nước công nghiệp phát triển – những nước được coi là có mức độ trang bị các yếu tố sản xuất tương đối giống nhau.
Hơn nữa, kể từ sau Đại chiến thế giới thứ hai, tỷ trọng của các quốc gia này trong thương mại thế giới tăng đều đặn cùng với việc thu nhập bình quân đầu người ngày càng xích lại gần nhau. Điều này thể hiện sự giống nhau ngày càng tăng về mức độ trang bị các yếu tố giữa các quốc gia này và do đó mâu thuẫn với dự đoán của lý thuyết H – O. -“Một giả thiết quan trọng trong lý thuyết H-O là công nghệ tại các quốc gia là tương tự nhau. Điều này có lẽ không sát với thực tế.
Những sự khác biệt về công nghệ có thể sẽ dẫn tới sự khác biệt về năng suất lao động, yếu tố sẽ định hướng các mô hình trao đổi trong thương mại quốc tế.