Tổng quan nghiên cứu

Côn trùng là nhóm sinh vật có lịch sử tiến hóa hơn 370 triệu năm trên Trái Đất, chiếm hơn 1.000.000 loài đã được mô tả và đóng vai trò mắt xích sống còn trong chuỗi thức ăn tự nhiên. Trong đó, các loài thụ phấn hỗ trợ gần 80% cây trồng toàn cầu với giá trị kinh tế ước tính đạt khoảng 20 tỷ USD mỗi năm riêng tại một số quốc gia phát triển. Thuộc bộ Cánh vẩy (Lepidoptera), nhóm bướm ngày (Rhopalocera) là sinh vật biến nhiệt vô cùng mẫn cảm với sự thay đổi của nhiệt độ và thảm thực vật, thường được giới khoa học ví như những chiếc nhiệt kế tý hon của tự nhiên.

Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (tỉnh Thanh Hóa) sở hữu hệ sinh thái núi đá vôi đất thấp phong phú bậc nhất vùng Bắc Trung Bộ. Tuy nhiên, tình trạng suy thoái sinh cảnh do áp lực canh tác nương rẫy và biến đổi khí hậu đang đe dọa trực tiếp đến cấu trúc quần xã côn trùng bản địa. Nghiên cứu này được tiến hành nhằm xác định chính xác thành phần loài, phân tích đặc điểm phân bố theo 6 dạng sinh cảnh đặc trưng, làm rõ các giá trị chỉ thị sinh thái và sinh học của bướm ngày tại xã Cổ Lũng, huyện Bá Thước.

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện liên tục từ tháng 04/2014 đến tháng 08/2014 trên địa bàn xã Cổ Lũng – khu vực có 2.717,1 ha rừng đặc dụng thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, với độ cao dao động từ 500 m đến 1.000 m so với mực nước biển. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng gồm 95 loài thuộc 9 họ bướm ngày, đóng góp cơ sở khoa học định lượng để đánh giá chất lượng rừng và hoạch định chính sách bảo tồn đa dạng sinh học gắn liền với phát triển du lịch sinh thái bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai nền tảng lý thuyết sinh thái học hiện đại:

  • Lý thuyết sinh vật chỉ thị (Bioindicator Theory): Khẳng định tính nhạy cảm của các bậc phân loại côn trùng trước những biến động vi khí hậu và độ che phủ tán rừng, cho phép sử dụng biến động quần thể bướm ngày làm thước đo sức khỏe hệ sinh thái.
  • Giả thuyết xáo trộn trung gian (Intermediate Disturbance Hypothesis): Phản ánh quy luật đa dạng sinh học đạt mức tối đa tại các sinh cảnh có mức độ can thiệp vừa phải (như bìa rừng, trảng cây bụi thứ sinh) so với môi trường rừng rậm khép tán hoàn toàn hoặc khu vực đô thị hóa nghiêm trọng.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng 4 khái niệm cốt lõi: phân loại học phân bộ Rhopalocera, độ bắt gặp tương đối ($P%$), chỉ số phong phú loài Margalef ($d$) và cấu trúc phân tầng thảm thực vật nhiệt đới.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra theo tuyến chuẩn hóa (theo quy trình của Vũ Văn Liên, 2009). Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 22 điểm khảo sát định vị bằng GPS phân bố trên 4 tuyến điều tra trọng điểm: tuyến 1 dọc Bản Khuyên (6 điểm), tuyến 2 từ Bản Đốc đến Bản Nang (4 điểm), tuyến 3 từ Bản Đốc đến Bản Là Ca (7 điểm) và tuyến 4 từ Bản Khuyên đến Bản Hiêu (5 điểm).

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng sinh thái được áp dụng để đảm bảo 22 điểm điều tra bao phủ đầy đủ 6 dạng sinh cảnh điển hình: khu dân cư - nông nghiệp (SC01), trảng cỏ cây gỗ rải rác (SC02), rừng tre nứa (SC03), rừng tự nhiên trên núi đá vôi (SC04), rừng phục hồi sau nương rẫy (SC05) và rừng tự nhiên ven suối (SC06).

Tại mỗi điểm điều tra, tác giả dừng lại 30 phút để quan sát, ghi nhận và thu bắt pha trưởng thành bằng vợt côn trùng tiêu chuẩn (đường kính miệng 30 cm, cán dài 1,0 - 1,5 m). Các mẫu vật được bảo quản trong bao giấy chuyên dụng, xử lý mẫu khô trên miếng xốp và giám định tên khoa học dựa trên các tài liệu chuyên khảo của Chou (1994), Monastyrskii (2007) và Osada (1999).

Dữ liệu được lượng hóa thông qua công thức tính độ bắt gặp:

$$P% = \left(\frac{n}{N}\right) \times 100%$$

Trong đó $n$ là số sinh cảnh bắt gặp và $N$ là tổng số 6 sinh cảnh nghiên cứu, chia thành 3 cấp độ: thường gặp ($P > 50%$), ít gặp ($25% \le P \le 50%$) và ngẫu nhiên gặp ($P < 25%$). Chỉ số Margalef:

$$d = \frac{S - 1}{\ln(N)}$$

được sử dụng nhằm chuẩn hóa sai số kích thước mẫu giữa các sinh cảnh có độ che phủ khác nhau. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đảm bảo tính bao quát trên địa hình núi cao chia cắt mạnh với hơn 70% diện tích có độ dốc trên 25 độ tại Cổ Lũng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận và định loại được 95 loài bướm ngày thuộc 47 giống và 9 họ khác nhau tại xã Cổ Lũng. Cấu trúc phân loại và mức độ phân bố ghi nhận các phát hiện then chốt sau:

  • Ưu thế tuyệt đối của họ Pieridae và Nymphalidae: Họ Bướm cải (Pieridae) chiếm vị trí dẫn đầu về số lượng loài với 23 loài (chiếm 24,21% tổng số loài) thuộc 10 giống (21,28%). Họ Bướm giáp (Nymphalidae) đạt độ đa dạng về giống cao nhất với 11 giống (chiếm 23,40%) và 17 loài (chiếm 17,89%). Họ Bướm mắt rắn (Satyridae) đứng thứ hai về số loài với 21 loài (22,11%), họ Bướm phượng (Papilionidae) có 14 loài (14,74%), trong khi họ Bướm ngọc (Acraeidae) chỉ ghi nhận duy nhất 1 loài (chiếm 1,05%).
  • Cấu trúc tần suất bắt gặp phân hóa mạnh: Nhóm loài ít gặp chiếm ưu thế lớn nhất trong quần xã với 41 loài (khoảng 43%), nhóm loài ngẫu nhiên gặp gồm 39 loài (khoảng 41%), trong khi nhóm loài thường gặp chỉ gồm 15 loài (khoảng 16%). Trong nhóm thường gặp ($P > 50%$), loài Appias albina đạt độ bắt gặp cao nhất (68,18%), tiếp theo là Chilasa clytia, Catopsilia pomona, Appias lyncidaIxias pyrene đều đạt mức 63,64%.
  • Sự phân bố sinh cảnh không đồng đều: Sinh cảnh khu dân cư và đất canh tác nông nghiệp (SC01) ghi nhận số loài phong phú nhất với 71 loài (chiếm 74,74%), kế tiếp là trảng cỏ cây gỗ rải rác SC02 với 68 loài (chiếm 71,58%) và rừng tự nhiên ven suối SC06 với 67 loài (chiếm 70,53%). Ngược lại, sinh cảnh rừng tự nhiên trên núi đá vôi (SC04) chỉ ghi nhận 29 loài (chiếm 30,53%), nhưng lại là sinh cảnh độc bản duy nhất xuất hiện cả 3 loài bướm rừng lớn thuộc họ Amathusiidae gồm Stichophthalma howqua, Discophora sondaicaThaumantis diores.

Thảo luận kết quả

Sự phân hóa thành phần loài bướm ngày phản ánh rõ mối tương quan giữa đặc tính sinh học của côn trùng với cấu trúc vi khí hậu và thảm thực vật. Tỷ lệ xuất hiện áp đảo của họ Pieridae tại các sinh cảnh mở (SC01, SC02, SC06) bắt nguồn từ nguồn cây thức ăn họ Cải và họ Đậu dồi dào, cùng với tập tính ưa sáng, bay nhanh của pha trưởng thành.

Ngược lại, các loài thuộc họ Amathusiidae và một số đại diện họ Papilionidae (Papilio noblei) có tính chuyên hóa sinh thái rất cao, chỉ thích nghi dưới tán rừng nguyên sinh ẩm ướt trên núi đá vôi. Sự biến mất của các loài này ở các vùng đất canh tác khẳng định vai trò chỉ thị sinh thái nhạy cảm của chúng đối với rừng nguyên vẹn.

Khi trình bày các phát hiện này, toàn bộ phân bố số lượng loài theo họ có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ hình tròn (Pie Chart) thể hiện thị phần taxon, trong khi sự biến thiên mật độ loài qua 6 sinh cảnh được mô tả tối ưu bằng biểu đồ cột đa trục (Clustered Bar Chart) kết hợp bảng ma trận đối sánh tần suất bắt gặp $P%$.

So với công trình khảo sát năm 2003 của một nhà côn trùng học quốc tế từng ghi nhận 158 loài bướm cho toàn bộ Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, kết quả 95 loài tại riêng xã Cổ Lũng trong 5 tháng khảo sát chiếm tới khoảng 60,1% tổng khu hệ, chứng minh Cổ Lũng là một điểm nóng đa dạng sinh học quan trọng cần được bảo vệ nghiêm ngặt.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực địa, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm bảo tồn và phát triển bền vững khu hệ bướm ngày tại Pù Luông:

  • Thiết lập mạng lưới giám sát loài chỉ thị chuyên biệt: Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông chủ trì định kỳ 6 tháng một lần tổ chức kiểm kê mật độ các loài bướm quý hiếm và chỉ thị rừng già như Stichophthalma howquaPapilio noblei tại sinh cảnh SC04 trên đai cao 500 - 1.000 m. Mục tiêu duy trì chỉ số phong phú loài Margalef không suy giảm quá 5% qua từng năm trong giai đoạn 2024 - 2028.
  • Phục hồi hành lang thực vật thức ăn cho sâu non và bướm trưởng thành: Hạt Kiểm lâm Bá Thước phối hợp cùng chính quyền địa phương triển khai trồng bổ sung ít nhất 2.000 cây bản địa có hoa và cây chủ thức ăn ven các dòng suối (suối Nủa, suối Ngài) và rìa nương rẫy phục hồi (SC05) trong giai đoạn 2024 - 2026, tạo sinh cảnh liên tục kết nối các phân khu bảo tồn.
  • Phát triển mô hình du lịch sinh thái ngắm bướm cộng đồng: Ban quản lý khu bảo tồn phối hợp với các hộ dân tại Bản Hiêu và Bản Khuyên xây dựng 02 tuyến du lịch trải nghiệm khám phá bướm ngày trong mùa sinh sản (tháng 4 đến tháng 8) từ năm 2025. Giải pháp này hướng đến mục tiêu nâng cao thu nhập của cộng đồng địa phương lên khoảng 15 - 20%, giảm thiểu áp lực săn bắt và khai thác gỗ trái phép.
  • Kiểm soát việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp: Ủy ban nhân dân xã Cổ Lũng ban hành quy chế quản lý phân bón và thuốc trừ sâu hóa học trên 943,3 ha đất sản xuất nông nghiệp; phấn đấu đạt tỷ lệ trên 60% diện tích canh tác lúa và hoa màu chuyển sang dùng chế phẩm sinh học vào năm 2027 nhằm bảo vệ 71 loài bướm tại sinh cảnh SC01.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý khu bảo tồn thiên nhiên và lực lượng kiểm lâm: Ứng dụng danh lục 95 loài và bản đồ phân bố 6 sinh cảnh để xây dựng phương án tuần tra, khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt các dải rừng núi đá vôi nhạy cảm.
  • Các nhà nghiên cứu côn trùng học và sinh thái học: Khai thác dữ liệu định danh 47 giống bướm cùng các chỉ số tần suất bắt gặp $P%$ làm tài liệu đối sánh chuyên sâu về biến động quần xã côn trùng vùng Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.
  • Chuyên gia quy hoạch và doanh nghiệp du lịch sinh thái: Sử dụng các dẫn liệu về tập tính, mùa xuất hiện của các loài bướm phượng, bướm giáp đẹp mắt để thiết kế tour trải nghiệm thiên nhiên bền vững tại quần thể Thác Hiêu.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Lâm nghiệp, Sinh học: Sử dụng khung phương pháp luận điều tra 22 điểm thực địa và mô hình phân tích chỉ số Margalef làm tài liệu tham khảo chuẩn mực trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao họ Bướm cải (Pieridae) lại chiếm số lượng loài nhiều nhất tại khu vực nghiên cứu?
Họ Pieridae chiếm tới 23 loài (24,21%) nhờ khả năng thích nghi cao với các sinh cảnh hở, nhiều ánh sáng và nguồn thực vật thức ăn phong phú (cây họ Đậu, họ Cải) phân bố rộng khắp trên 943,3 ha đất nông nghiệp và trảng cỏ tại Cổ Lũng.

Sinh cảnh nào sở hữu độ đa dạng bướm ngày cao nhất và nguyên nhân do đâu?
Sinh cảnh khu dân cư, nông nghiệp (SC01) và trảng cỏ (SC02) dẫn đầu với lần lượt 71 loài (74,74%) và 68 loài (71,58%). Hiện tượng này phù hợp với giả thuyết xáo trộn trung gian, khi khu vực tiếp giáp bìa rừng tạo hiệu ứng biên với nguồn mật hoa dồi dào.

Những loài bướm nào tại Cổ Lũng đóng vai trò là sinh vật chỉ thị chất lượng rừng?
Các loài bướm rừng lớn thuộc họ Amathusiidae như Stichophthalma howqua, Discophora sondaica và bướm phượng Papilio noblei là sinh vật chỉ thị tiêu biểu. Chúng chỉ xuất hiện tại rừng tự nhiên núi đá vôi tán kín trên đai cao 500 m, biến mất hoàn toàn khi sinh cảnh bị thoái hóa.

Nghiên cứu đã áp dụng phương pháp điều tra thực địa nào để đảm bảo tính chuẩn xác?
Tác giả áp dụng phương pháp điều tra theo tuyến với 4 tuyến và 22 điểm khảo sát cố định (dừng 30 phút/điểm) trong thời gian 5 tháng (4/2014 - 8/2014). Kỹ thuật kết hợp giữa quan sát ghi hình và vợt bắt mẫu khô đảm bảo định loại chính xác 95 loài.

Làm thế nào để kết hợp giữa bảo tồn bướm ngày và nâng cao sinh kế cho người dân bản địa?
Mô hình du lịch sinh thái ngắm bướm theo mùa tại Bản Hiêu kết hợp bảo tồn cây hoa bản địa giúp tạo sinh kế bền vững cho hơn 1.000 hộ dân (chiếm 98% là người Thái), giúp giảm thiểu trực tiếp tình trạng phá rừng đặc dụng rộng 2.717,1 ha.

Kết luận

  • Tổng hợp thành tựu phân loại học: Thiết lập thành công danh lục 95 loài bướm ngày thuộc 47 giống và 9 họ tại xã Cổ Lũng, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông.
  • Xác định cấu trúc ưu thế: Họ Pieridae (23 loài, 24,21%) và Nymphalidae (11 giống, 23,40%) đóng vai trò chủ đạo trong cấu trúc phân loại của khu hệ.
  • Định lượng mức độ bắt gặp: Ghi nhận 15 loài thường gặp ($P > 50%$, chiếm 16%), 41 loài ít gặp (43%) và 39 loài ngẫu nhiên gặp (41%).
  • Làm rõ tính phân hóa sinh cảnh: Xác định sinh cảnh đất nông nghiệp và trảng cỏ có số loài cao nhất (71 loài), trong khi rừng núi đá vôi (29 loài) lưu giữ các loài chỉ thị rừng già quý hiếm.
  • Hoạch định giải pháp khả thi: Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ kết hợp kỹ thuật giám sát chỉ thị, phục hồi cây thức ăn và phát triển du lịch sinh thái.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là cung cấp bộ dữ liệu sinh thái học thực nghiệm toàn diện về bộ Cánh vẩy tại vùng đệm Pù Luông, lấp đầy khoảng trống dữ liệu côn trùng học vùng núi đá vôi Thanh Hóa. Kế hoạch tiếp theo cần mở rộng điều tra bổ sung vào mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) trong giai đoạn 2025 - 2026 để hoàn thiện bức tranh diễn thế mùa vụ của khu hệ bướm. Hãy khai thác ngay cơ sở dữ liệu khoa học này để triển khai các dự án bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế sinh thái bền vững cho cộng đồng địa phương.