Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về bướm đêm tại nước ngoài Các loài bướm đêm (Heterocera) hay còn gọi là Ngài đêm, là nhóm có số lượng loài lớn chiếm khoảng 9/10 tổng số loài trong bộ Cánh vảy (Lepidoptera). Hiện nay trên thế giới có khoảng 112000 loài thuộc bộ Cánh vảy trong đó Bướm ngày khoảng 10% còn lại là bướm đêm. Các loài bướm đêm có đặc điểm hình thái bên ngoài biến đổi rất lớn nên rất khó để mô tả, đa số các loài bướm đêm hoạt động vào ban đêm, có màu sắc cơ thể hơi tối, một số ít loài hoạt động vào ban ngày.
Côn trùng hoạt động ban đêm là những loài hoạt động chủ yếu về đêm khi này chúng bắt đầu hoạt động chính của mình trong nhóm này có rất nhiều loài thuộc nhiều bộ và họ khác nhau như một số loài bộ Cánh cứng (Coleoptera) và bộ Cánh vẩy (Lepidoptera). Giai đoạn những năm đầu thế kỷ 20, công trình nghiên cứu về Bộ Cánh vảy (Lepidoptera) có công trình nghiên cứu của J.de Joannis mang tên “Lepidopteres du Tonkin” xuất bản ở Paris năm 1930. Tác giả đã thống kê được 1798 loài thuộc 746 giống và 45 họ trong đó phần đa là bướm đêm. Năm 1920 – 1940, các nhà thu thập mẫu côn trùng nghiệp dư đã xuất bản một số tài liệu về phân loài bướm gồm 53 tập ở Niderlan.
Năm 1955, viện khoa học Liên Xô (cũ) xuất bản sách tra cứu sâu hại rừng. Năm 1962, nhà xuất bản báo tạp chí và tài liệu Nông nghiệp Mastscova đã xuất bản cuốn phân loại trứng, sâu non và nhộng sâu hại rừng của A. Năm 1965, ở Trung Quốc có xuất bản cuốn phân loại côn trùng của Charles-Brues.L Melander thuộc đại học tổng hợp Harvard. 4 Trong một số tài liệu đều có đề cập đến việc phân loại và phân biệt các loài côn trùng thuộc bộ Cánh vảy, nhưng đó mới chỉ đề cập đến các họ cơ bản, một số loài chưa thật phù hợp với Việt Nam.
Ngoài ra còn rất nhiều tài liệu đề cập đến nhận biết các loài côn trùng như: - Mô tả một số loài Ngài và Bướm của Manfred koch (7/1953); - Mô tả các loài côn trùng thường gặp của giáo sư Wolfgang Dierl (Đức,1959); - Mô tả các loài côn trùng thường gặp của giáo sư Gottricd Amannr. Gần đây, những năm 1970-1978 Donaldi:Borror và Richard E White cho xuất bản cuốn sách “Hướng dẫn về lĩnh vực côn trùng Bắc Mỹ thuộc Mexico”. Trong đó cũng đề cập đến phân loại và nhận biết các họ trong bộ cánh vẩy (Lepidoptera). Do số lượng loài côn trùng rất phong phú hầu như khắp địa cầu, tới các giới hạn của thực vật hiểm họa (Spitzberg).
Độ cao phân bố có thể lên tới 5000m (Hymalaya). Số lượng các loài giảm xuống ở các vùng lạnh và tăng lên đáng kể ở các vùng nóng ẩm và ẩm. “Quần thể các loài côn trùng quý hiếm Trung Quốc” của Hiệp hội Bảo vệ động vật hoang dã Trung Quốc (2005). Đã xác định được 24 loài Bướm đêm với 5 họ.
Cũng một cuốn sách nữa là “Côn trùng rừng” của Lý Thành Đức được xuất bản vào năm 1992 đã mô tả rất chi tiết về hình thái của các họ côn trùng với 1368 loài trong đó riêng về bướm đêm (Heterocera) có 46 họ với 386 loài. Tập tranh về côn trùng thiên địch của Phòng Nghiên cứu động vật, Viện Khoa học Trung Quốc. Với 600 ảnh về các loài côn trùng được xuất bản vào tháng 12 năm 2004 đã mô tả hình thái và đặc điểm của các họ côn trùng với bướm đêm thì đã mô tả được đặc điểm chung của 16 họ và 50 loài 5 Cuốn sách tiếng anh mang tên “Butterfilies and moths” của David Carter đã xuất bản năm 1992 và được tái bản vào năm 2002 đã mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái sinh thái vùng phân bố của bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) trong đó riêng bướm đêm (Moths) có 22 họ hơn 200 loài được mô tả. Tại Trung quốc, Đinh Kiến Vân và cs đã thông kê được 173 loài côn trùng có tính xu quang, trong đó côn trùng bộ Cánh vẩy có 110 loài, bộ Cánh cứng 45 loài, bộ Cánh không đều có 9 loài, bộ cánh đều có 6 loài, bộ Cánh thẳng, bộ Cánh lưới, bộ Chuồn chuồn và bộ Gián có 1 loài.
Nghiên cứu bướm đêm tại Việt Nam Tại Việt Nam, các kết quả nghiên cứu về các loài bướm có tính xu quang còn ít, hầu như chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, cụ thể về chúng. Các kết quả nghiên cứu về bướm đêm chủ yếu được các nhà khoa học thông kê cùng với các loài côn trùng khác, với các mục đích khác nhau. Ở Việt Nam còn tồn tại các khu rừng tự nhiên, có số lượng phong phú về chủng loài của bộ Lepidoptera, các nhà khoa học trên thế giới và khu vực châu Á cũng như Việt Nam, đã có nhiều đoàn nghiên cứu đi sâu vào điều tra khảo sát giám định các loài côn trùng, như đoàn nghiên cứu tổng hợp mang tên “Mission pavie” đã tiến hành khảo sát ở Đông Dương trong vòng 16 năm (1879-1895) đã xác định được 8 bộ, 85 họ và 1040 loài. Năm 1921, Vitalisde salvara đã cho ra đời cuốn sách về “Khu hệ côn trùng đông dương” công bố với 3612 loài.
Về bộ Cánh vảy có công trình của Jde Joannis “Lepidopteres heteroceres dutondin” xuất bản tại Paris năm 1930. Trong đó tác giả đã thống kê được 1789 loài thuộc 746 giống của 45 họ Những tài liệu chi tiết cụ thể về phân loại côn trùng về bướm đêm thì chưa có, mà chỉ được thể hiện ở giáo trình chung như “Côn trùng Lâm Nghiệp” (1989) của Trần Quốc Loanh, “Côn trùng rừng” (1997) của Trần 6 Công Loanh và Nguyễn Thế Nhã với 11 họ ngài đêm và một số loài hại nông nghiệp chính. Tuy vậy việc định tên khoa học cho các mẫu vật côn trùng chủ yếu dựa vào các tài liệu nước ngoài, cùng với sự giúp đỡ của các chuyên gia. Tất cả các tài liệu trên đã giúp tôi trong việc tham khảo và lựa chọn để thực hiện đề tài này.
Nghiên cứu tại khu Bảo tồn Xuân Nha Nghiên cứu về côn trùng nói chung bộ Cánh vẩy nói riêng tại khu Bảo tồn Xuân Nha mới chỉ có khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Lam Hồng năm 2010 viết về bộ Cánh vảy (Lepidoptera) các loài Bướm ngày (Rhopalocera) đã liệt kê được 63 loài trong nhóm này với 7 họ. Cho đến nay chưa có nghiên cứu về bướm đêm tại KBTTN Xuân Nha. 7 Chương 2 MỤC TIÊU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá được sự đa dạng phong phú và đưa ra được biện pháp quản lý loài bướm đêm tại KBTTN Xuân nha, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
Phạm vi nghiên cứu Đối tượng: Các loài bướm đêm thu bắt được bằng bẫy ánh sáng; Địa điểm: KBTTN Xuân nha, Vân hồ, Mộc châu; Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4/2014 đến tháng 8/2014. Nội dung điều tra nghiên cứu 1. Xác định được thành phần loài bướm đêm tại khu vực nghiên cứu; 2. Đánh giá tính đa dạng theo họ bướm đêm; + Theo sinh cảnh + Theo thời gian (tháng nghiên cứu, Khoảng thời gian) 3.
Ảnh hưởng của ánh sáng đến hoạt động của bướm đêm; + Số loài theo họ bướm đêm xuất hiện theo loại đèn + Mức độ xu quang các loài theo họ vào đèn 4. Mô tả hình thái, phân loại, nhận xét đặc tính sinh học để của một số loài chủ yếu; 5. Đề xuất biện pháp quản lý bướm đêm. Phương pháp nghiên cứu 2.
Phương pháp thu thập, đánh giá thông tin, kế thừa tài liệu Kế thừa các tài liệu về quá trình hình thành và xây dựng KBTTN Xuân Nha, kết quả điều tra khu hệ động thực vật bổ sung trong thời gian gần đây, thu thập bản đồ hiện trạng, địa hình của KBT. Phương pháp điều tra thực địa 2. Thiết lập các tuyến khảo sát và các điểm điều tra 1, Xác định sinh cảnh trong khu vực Điều tra Khu hệ Bướm đêm tại khu vực do điều kiện điều tra ban đêm vì vậy cần có nguồn điện cho đèn vì vây đề tài được thực hiện đặt đèn tại nơi có sẵn nguồn điện tại nhà dân hay trung tâm vườn trạm kiểm lâm nơi tiếp giáp gần nhất với những sinh cảnh cần điều tra nên để có thể so sánh được thành phần loài xuất hiện tại các dạng sinh cảnh cụ thể gồm 3 địa điểm như sau: Sinh cảnh 01: Khu dân cư tiếp giáp với khu vực trồng và canh tác Nông nghiệp (Nhà tiếp giáp và sát đồng ruộng để có thể kéo dây đèn đặt tại nơi canh tác trồng lúa, ngô); Sinh cảnh 02: Khu dân cư tiếp giáp với khu vực rừng tự nhiên (Nhà tiếp giáp hoặc gần rừng tự nhiên có thể đưa đèn đặt vào bìa rừng tại đây chủ yếu cây bụi và cây gỗ lớn cây tái sinh); Sinh cảnh 03: Trung tâm khu dân cư (Đặt đèn tại nhà dân cư nơi chủ yếu là trồng rau và các cây ăn quả). 2, Thiết lập các tuyến khảo sát và điểm điều tra Qua quá trình khảo sát và xác định được sinh cảnh chủ yếu tại khu vực điều tra.
Và để xác định được thành phần loài và so sánh được các loài bướm đêm tại nhiều sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu tôi thực hiện lập tuyến điều tra đi qua nhiều sinh cảnh khác nhau. Tôi đã lựa chon được 4 tuyến đại diện cho 3 sinh cảnh trên: Khu vực xã Chiềng Sơn (Huyện Mộc Châu) có 1 tuyến điều tra, xã Chiềng Xuân (Huyện Vân Hồ) có 1 tuyến điều tra, xã Xuân Nha (Huyện Vân hồ) có 2 tuyến điều tra, thông tin cụ thể từng tuyến như sau: - Tuyến 1: Tại xã Chiềng Sơn xuất phát từ UBND xã tới bản Khò Hồng sau đó tới bản Pha Luông với chiều dài 2 km sinh cảnh chủ yếu là: Trảng cỏ cây bụi, khu vực dân cư sinh sống và canh tác nông nghiệp. Bố trí 2 điểm điều tra; - Tuyến 2: Tại xã Chiềng Xuân xuất phát từ bản Khò Hồng tới bản Chiềng Hin với chiều dài 6 km đi qua hầu hết các sinh cảnh nhưng chủ yếu là rừng lá rộng. Bố trí 5 điểm điều tra; 9 - Tuyến 3: Tại xã Xuân Nha xuất phát từ bản Thín tới Tây Tà Lào chiều dài 4 km cũng đi qua hầu hết các sinh cảnh.
Bố trí 4 điểm điều tra; - Tuyến 4: Cũng tại xã Xuân Nha xuất phát từ Bản Ngà tới bản Cọc Mốc chiều dài 6,5 km sinh cảnh chủ yếu ở đây là rừng tre nứa. Bố trí 5 điểm điều tra; Tổng 4 tuyến điều tra lập được 16 điểm điều tra để đặt đèn.