Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Lo âu học đường của học sinh trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh" là luận án tiến sĩ chuyên ngành Tâm lý học (mã số: 9.01), được tác giả Nguyễn Thị Vân thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Công Khanh và bảo vệ vào năm 2019. Luận án giải quyết vấn đề sức khỏe tâm thần trong môi trường học đường ở học sinh lứa tuổi trung học phổ thông (THPT) tại một đô thị lớn thông qua cách tiếp cận hỗn hợp giữa nghiên cứu lý luận, khảo sát thực trạng định lượng, phỏng vấn sâu định tính và triển khai thực nghiệm tác động hỗ trợ tâm lý.
Về tính cấp thiết của đề tài:
- Về mặt lý luận: Lứa tuổi học sinh THPT (tuổi vị thành niên) là thời kỳ quá độ từ trẻ em sang người lớn với nhiều biến đổi phức tạp, khiến các vấn đề cảm xúc và hành vi xã hội dễ nảy sinh. Tỷ lệ học sinh THPT gặp các vấn đề sức khỏe tâm thần trong trường học thường cao hơn so với học sinh tiểu học và trung học cơ sở. Ở giai đoạn này, học sinh phải đối diện đồng thời với áp lực học tập căng thẳng và nhiệm vụ định hướng nghề nghiệp tương lai, dễ dẫn tới các rối loạn tâm thể như lo âu, trầm cảm, căng thẳng (stress). Lo âu liên quan đến học tập tác động tiêu cực đến nhận thức, cảm xúc, hành vi, gây trở ngại cho việc tiếp thu tri thức cũng như sự phát triển nhân cách. Tại Việt Nam, công tác phát hiện sớm và can thiệp tâm lý học đường còn rất hạn chế; việc hỗ trợ tại các cơ sở y tế chủ yếu phụ thuộc vào hóa dược mà thiếu vắng các biện pháp can thiệp tâm lý chuyên sâu để ngăn ngừa tái diễn.
- Về mặt thực tiễn: Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị có mật độ dân số đông, tốc độ phát triển kinh tế và giáo dục nhanh, kéo theo áp lực học tập lớn ở học sinh. Số liệu dịch tễ tại các thành phố lớn (Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM) cho thấy khoảng 16% học sinh THPT có biểu hiện rối loạn cảm xúc, trong đó có rối loạn lo âu. Số liệu thực tế từ Văn phòng Tư vấn trẻ em TP.HCM ghi nhận mỗi năm tiếp nhận khoảng 1.000 ca tư vấn với 45% trẻ chịu sức ép học tập dẫn đến lo âu quá mức. Tại Bệnh viện Tâm thần TP.HCM, vào mùa thi (từ tháng 3 đến tháng 9), bệnh viện tiếp nhận trung bình từ 80 đến 100 bệnh nhân học sinh mỗi ngày do áp lực học tập quá mức. Trong khi đó, các dịch vụ tâm lý học đường tại các trường phổ thông còn manh nha, hoạt động mang tính hình thức, thiếu nhân sự có chuyên môn và thiếu cơ chế pháp lý chính thức.
Mục tiêu, giả thuyết và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận và thực trạng lo âu học đường của học sinh THPT, từ đó đề xuất các biện pháp khắc phục những mặt yếu kém của lo âu học đường ở học sinh THPT tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Giả thuyết khoa học: Lo âu học đường của học sinh THPT tại thành phố Hồ Chí Minh có nhiều biểu hiện với các mức độ khác nhau. Các yếu tố ảnh hưởng đến lo âu học đường chủ yếu là những yếu tố liên quan đến bối cảnh học đường như: áp lực về thành tích học tập; áp lực thi cử; sự kỳ vọng quá cao của cha mẹ vào con cái; mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh. Nếu được can thiệp bằng các biện pháp hỗ trợ tâm lý sẽ làm giảm tình trạng lo âu học đường ở các em.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu lo âu học đường ở học sinh THPT.
- Làm rõ thực trạng mức độ lo âu học đường ở học sinh trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Bước đầu triển khai một số biện pháp hỗ trợ tâm lý giúp làm giảm tình trạng lo âu học đường ở học sinh trung học phổ thông.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện, mức độ và các yếu tố ảnh hưởng đến lo âu học đường của học sinh THPT tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Khách thể nghiên cứu: Học sinh trung học phổ thông.
- Đối tượng khảo sát: Học sinh THPT tại TP.HCM, giáo viên, chuyên gia tâm lý học đường và cha mẹ học sinh.
- Phạm vi không gian (địa bàn nghiên cứu): 6 trường THPT tại thành phố Hồ Chí Minh, đại diện cho các khu vực nội thành và ngoại thành, bao gồm: Trường THPT Trưng Vương (Quận 1), Trường THPT Võ Thị Sáu (Quận Bình Thạnh), Trường THPT Trường Chinh (Quận 12), Trường THPT Nguyễn Hữu Cầu (Huyện Hóc Môn), Trường THPT Gò Vấp (Quận Gò Vấp), Trường THPT Hiệp Bình (Quận Thủ Đức).
- Phạm vi khách thể khảo sát:
- Khảo sát sàng lọc thực trạng: 923 học sinh THPT (gồm 435 nam và 488 nữ) từ khối lớp 10 đến lớp 12.
- Khảo sát mở rộng thực trạng: 50 giáo viên, 50 phụ huynh học sinh và 5 chuyên gia tâm lý học đường.
- Khách thể thực nghiệm can thiệp: 10 học sinh có biểu hiện lo âu học đường, chia đều thành hai nhóm: nhóm thực nghiệm (05 học sinh) và nhóm đối chứng (05 học sinh); 03 giáo viên chủ nhiệm lớp; 05 phụ huynh của 05 học sinh nhóm thực nghiệm; 02 nhà tâm lý học đường.
- Khách thể nghiên cứu trường hợp điển hình: 02 học sinh (viết tắt là T.D và N.H) được theo dõi từ giai đoạn khảo sát thực trạng cho đến suốt tiến trình thực nghiệm can thiệp.
- Phạm vi thời gian: Quá trình thu thập số liệu và thực nghiệm can thiệp diễn ra trong 3 tháng, luận án hoàn thành và bảo vệ vào năm 2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây được tác giả điểm lại trong luận án bao gồm hai bình diện quốc tế và trong nước:
Trên thế giới:
- Lịch sử nghiên cứu lo âu và phân loại tâm bệnh: Khái niệm lo âu được đề cập từ thời Hy Lạp cổ đại bởi Hypocrate (thế kỷ IV TCN). Năm 1844, Kerkgard dùng thuật ngữ Angest; năm 1866 Morel dùng thuật ngữ "Hoang tưởng cảm xúc"; Charles Darwin (1872) phân tích nguồn gốc sợ hãi và lo âu trong tác phẩm về biểu hiện cảm xúc; Sigmund Freud (1894, 1895) đề xuất thuật ngữ "nhiễu tâm lo âu" (anxiety neurosis) và "lo âu lan tràn" (free floating anxiety) dựa trên xung đột vô thức; Klein (1964) phân tách rối loạn hoảng sợ và rối loạn lo âu lan tỏa dựa trên đáp ứng với thuốc Imipramin. Hệ thống phân loại bệnh học của Hiệp hội Tâm thần học Mỹ qua các thời kỳ gồm DSM-I (1952), DSM-II (1968), DSM-III (1980 - văn bản đầu tiên đưa rối loạn lo âu lan tỏa vào hệ thống), DSM-III-R (1987), DSM-IV (1994), DSM-IV-TR (2000), DSM-V (2013), cùng Bảng phân loại bệnh quốc tế ICD-10 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1992).
- Nghiên cứu thực nghiệm và dịch tễ: Công trình theo dõi dọc của M. Prior và cộng sự (1983-2001) trên 2.443 trẻ từ sơ sinh đến 18 tuổi xác định 42% trẻ nhút nhát trước 9 tuổi xuất hiện lo âu ở tuổi 13-14; Warren và Huston nghiên cứu quan hệ gắn bó; dự án National Comorbidity Survey (Mỹ, 2004) chỉ ra 58% bệnh nhân trầm cảm có rối loạn lo âu phối hợp (trong đó 17,2% là lo âu lan tỏa, 9,9% hoảng sợ, 22,4% ám sợ xã hội); Heimberg (1999) nghiên cứu sự tương đồng nội dung lo âu giữa các nhóm lâm sàng.
- Các mô hình tâm lý học đường: Mô hình lo âu học đường của Spielberger (1966) giải thích cơ chế ước lượng nhận thức trước các tình huống đe dọa; mô hình mạng lưới hỗ trợ chuyên biệt RASED của Pháp trực thuộc Bộ Giáo dục phân bổ thành 3 hướng can thiệp (sư phạm, giáo dục, tâm lý); mô hình thực hành tâm lý học đường của Trung Quốc (từ năm 2000) tập trung vào giáo dục sức khỏe tinh thần và kỹ năng xã hội; mô hình dịch vụ tích hợp toàn diện của Hiệp hội Quốc gia các Nhà tâm lý học Trường học Hoa Kỳ (NASP, 2010); và mô hình phân phối dịch vụ 3 tầng của NASP (2008) phân chia dịch vụ thành: Tầng 1 (phòng ngừa cơ bản cho 80% học sinh toàn trường), Tầng 2 (can thiệp nhóm mục tiêu cho 15% học sinh có nguy cơ), Tầng 3 (can thiệp chuyên sâu cá nhân cho 5% học sinh rối nhiễu nặng).
Tại Việt Nam:
- Tác giả Nguyễn Khắc Viện (1995) bước đầu phân loại tâm bệnh trẻ em tại Trung tâm N-T; Nguyễn Công Khanh (2000) khảo sát 503 học sinh THCS tại Hà Nội ghi nhận từ 17,56% đến 19,2% (hoặc 17,74% đến 18,81%) học sinh có biểu hiện lo âu; Nguyễn Hằng Phương (2005) dùng thang Zung nghiên cứu lo âu ở học sinh THPT; Phạm Thị Bích Phượng (2017) khảo sát 969 học sinh tại Trường THPT Marie Curie TP.HCM ghi nhận 12% học sinh có khó khăn tâm lý nguy cơ cao; Mai Mỹ Hạnh (2017) khảo sát tại Trường THCS và THPT Việt Anh ghi nhận 20,8% học sinh THCS và 22,2% học sinh THPT thuộc nhóm nguy cơ cao (tương ứng tầng 2 mô hình NASP); Nguyễn Thị Hồng Nhung và Phạm Thị Thu Hòa (2014) nghiên cứu rối loạn lo âu ở học sinh THCS Phương Mai trong gia đình có bạo lực; Nguyễn Thị Vân (2014) khảo sát thực trạng lo âu của học sinh THPT tỉnh Vĩnh Long chỉ ra áp lực học tập và quan hệ ứng xử là nguyên nhân hàng đầu.
- Về mặt pháp lý và tổ chức, tác giả viện dẫn Thông tư số 2564/BGD&ĐT-HSSV (ngày 4/4/2005) và Thông tư số 9971/BGD&ĐT-HSSV (ngày 28/5/2005) của Bộ Giáo dục và Đào tạo về hướng dẫn tham vấn học đường; công văn tuyển dụng giáo viên chuyên ngành Tâm lý - Giáo dục của Sở GD&ĐT TP.HCM (năm 2008); Hội thảo Tâm lý học đường quốc tế lần thứ VI tại Hà Nội (ngày 1/8/2018); cuốn Cẩm nang tâm lý học đường do Anbooks phối hợp với Liên hiệp Phát triển Tâm lý học đường Quốc tế (CASP-I) phát hành năm 2018.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
Các nghiên cứu tại Việt Nam trước đó chủ yếu xem xét khó khăn tâm lý hoặc rối nhiễu cảm xúc chung, chưa đi sâu khảo sát chuyên biệt về lo âu học đường ở lứa tuổi THPT trên một địa bàn đô thị quy mô lớn như TP.HCM. Phần lớn các công trình dừng lại ở mức độ khảo sát mô tả thực trạng với mẫu khách thể nhỏ hoặc phân tích nguyên nhân mà chưa xây dựng được một công cụ đo lường chuyên biệt cho bối cảnh học tập. Đặc biệt, chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam xây dựng, chuẩn hóa thang đo lo âu học đường riêng cho học sinh THPT và thiết kế một chương trình can thiệp hỗ trợ tâm lý tích hợp đa liệu pháp (kết hợp nhận thức - hành vi, tâm lý nhóm, thư giãn và tư vấn cha mẹ) được kiểm chứng hiệu quả bằng thực nghiệm khoa học có nhóm đối chứng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên 4 hướng tiếp cận lý thuyết cơ bản:
- Tiếp cận tâm lý học đường (School Psychology): Dựa trên khái niệm của nhóm tác giả Trần Thị Lệ Thu, Lê Văn Hảo, Lê Nguyên Phương, Brent Duncan, Đặng Hoàng Minh (2012) và khung lý thuyết phân phối dịch vụ 3 tầng của NASP (2008). Nghiên cứu định vị tập trung vào Tầng 1 (chiếm 80% học sinh) nhằm phát hiện sớm và phòng ngừa các khó khăn tâm lý trong môi trường giáo dục, đồng thời thực hiện can thiệp nhóm ở Tầng 2.
- Tiếp cận nhận thức - hành vi (CBT):
- Mô hình phản xạ có điều kiện của Ivan Pavlov: Lo âu là phản ứng học được qua trải nghiệm chấn thương, gắn liền với sự mất cân bằng giữa hưng phấn và ức chế vỏ não.
- Thuyết điều kiện hóa tạo tác của B.F. Skinner (1938): Hành vi né tránh tình huống gây lo hãi đem lại hệ quả làm giảm sự sợ hãi tức thì, nhưng vô tình duy trì và củng cố phản ứng lo âu.
- Thuyết học tập xã hội của Albert Bandura (1977): Lo âu được hình thành thông qua học tập quan sát, bắt chước và tiếp nhận các hình mẫu lo âu từ cha mẹ hoặc môi trường xung quanh.
- Mô hình nhận thức của Aaron Beck và Emery: Xác định vai trò của "bộ ba nhận thức" (quan điểm tiêu cực về bản thân, tương lai và thế giới), các sơ đồ nhận thức sai lệch, tư duy tự động âm tính, sự thảm họa hóa và khái quát hóa quá mức.
- Liệu pháp hành vi cảm xúc hợp lý (REBT) của Albert Ellis: Khung phân tích ABC (A - Sự kiện kích hoạt, B - Niềm tin, C - Hậu quả cảm xúc/hành vi) và mô hình can thiệp ABCDEF (D - Tranh luận nhận thức, E - Hiệu quả nhận thức mới, F - Cảm xúc mới), kết hợp nguyên lý chấp nhận bản thân vô điều kiện (USA) và chấp nhận người khác vô điều kiện (UOA).
- Tiếp cận tâm lý học hoạt động: Khẳng định hoạt động học tập và giao tiếp là phương thức hình thành và bộc lộ nhân cách. Đánh giá sự biến đổi tâm lý của học sinh THPT thông qua các sản phẩm hoạt động và tương tác học đường là căn cứ xác định mức độ rối loạn lo âu.
- Tiếp cận phân tâm học: Lý thuyết của Sigmund Freud nhìn nhận lo âu nảy sinh từ xung đột nội tâm vô thức giữa xung năng bản năng (tính dục, hung tính) với các rào cản cấm kỵ của ý thức và môi trường, bắt nguồn từ những ức chế và mối lo âu thời thơ ấu.
Về tiêu chuẩn chẩn đoán: Luận án sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán Rối loạn lo âu lan tỏa (Generalized Anxiety Disorder - GAD) theo DSM-IV-TR, DSM-V (2013) và ICD-10 (WHO, 1992, mã bệnh F41.1). Tiêu chuẩn xác định lo âu lan tỏa gồm sự lo lắng quá mức diễn ra phần lớn thời gian trong ít nhất 6 tháng liên quan đến các sự kiện, hoạt động học đường, khó kiểm soát, đi kèm các biểu hiện thần kinh thực vật và gây suy giảm chức năng học tập, sinh hoạt.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận, văn bản: Phân tích, tổng hợp các tài liệu khoa học, văn bản quy phạm pháp luật liên quan.
- Phương pháp trắc nghiệm tâm lý: Xây dựng và sử dụng Thang đo lo âu học đường (LAHD-S) chuyên biệt để lượng giá các biểu hiện bất an, mất kiểm soát trong bối cảnh học đường; kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha và độ hiệu lực thông qua tương quan với các thang đo chuẩn hóa.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thực hiện khảo sát diện rộng trên mẫu 923 học sinh THPT.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thu thập dữ liệu định tính từ 50 giáo viên, 50 phụ huynh và 5 chuyên gia tâm lý học đường.
- Phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Thẩm định nội dung thang đo và quy trình can thiệp.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study): Phân tích sâu 2 học sinh điển hình (T.D và N.H) có biểu hiện lo âu học đường nặng.
- Phương pháp thực nghiệm tác động: Thiết kế thử nghiệm có đối chứng trên 10 học sinh (5 thực nghiệm, 5 đối chứng) trong 3 tháng. Nhóm thực nghiệm được áp dụng chương trình can thiệp tích hợp gồm: điều chỉnh nhận thức (Beck, Ellis), liệu pháp tâm lý nhóm (4 kỹ thuật), kỹ thuật thư giãn vận động căng - chùng cơ của Jacobson (1938), thư giãn tĩnh của Schultz (1932), bài tập thở bụng yoga, và tư vấn phối hợp với gia đình học sinh.
- Phương pháp thống kê toán học: Tính toán điểm trung bình (X), độ lệch chuẩn (SD), phân tích nhân tố khám phá (EFA) với phép xoay Varimax, hệ số tương quan Pearson.
| Thông số nghiên cứu |
Quy mô và chỉ số thực tế trong luận án |
| Mẫu khảo sát định lượng học sinh |
923 học sinh (435 nam, 488 nữ; gồm khối 10, 11, 12) |
| Mẫu khảo sát định tính |
50 giáo viên, 50 phụ huynh học sinh, 5 nhà tâm lý học đường |
| Địa bàn khảo sát |
6 trường THPT tại TP.HCM (Trưng Vương, Võ Thị Sáu, Trường Chinh, Nguyễn Hữu Cầu, Gò Vấp, Hiệp Bình) |
| Mẫu thực nghiệm can thiệp |
10 học sinh (05 thực nghiệm, 05 đối chứng), 03 GVCN, 05 phụ huynh, 02 nhà tâm lý |
| Thời gian can thiệp thực nghiệm |
3 tháng |
| Các kỹ thuật can thiệp chính |
Nhận thức - hành vi (CBT/REBT), tâm lý nhóm, thư giãn căng - chùng cơ/thở yoga, tư vấn gia đình |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận tâm lý học về lo âu học đường của học sinh trung học phổ thông
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về lo âu và lo âu học đường ở lứa tuổi học sinh THPT. Tác giả làm rõ bản chất của cảm xúc lo âu, phân biệt rõ giữa lo lắng thích nghi bình thường (phản ứng tự nhiên giúp cá nhân chuẩn bị và thận trọng trước thử thách) với lo âu bệnh lý (trạng thái bồn chồn, căng thẳng dai dẳng, không tương xứng với tình huống, kéo dài nhiều tháng, đi kèm các triệu chứng thực thể và làm suy giảm chức năng hoạt động). Về mặt sinh lý, chương này liệt kê chi tiết các biểu hiện thần kinh thực vật thường gặp ở người lo âu: tiêu chảy, chóng mặt, vã mồ hôi, tăng phản xạ, tăng huyết áp, đánh trống ngực, co giãn đồng tử, nhịp tim nhanh, đau đầu chi, run rẩy, khó chịu vùng thượng vị và rối loạn tiểu tiện. Về mặt nhận thức, người bị lo âu thường có suy nghĩ thảm họa hóa, không chấp nhận sự không chắc chắn, phóng đại nguy hiểm và suy giảm khả năng tập trung, liên tưởng.
Chương 1 phân tích sâu 4 hướng tiếp cận lý luận (tâm lý học đường, nhận thức - hành vi, tâm lý học hoạt động, phân tâm học), đồng thời giới thiệu chi tiết quy trình can thiệp của các liệu pháp tâm lý:
- Liệu pháp nhận thức của Beck: Gồm 4 bước: (1) Nhận diện tư duy tự động và niềm tin không hợp lý; (2) Kiểm chứng tư duy tự động; (3) Nhận diện các giả định kém thích ứng; (4) Kiểm chứng và thay thế giả định kém thích ứng bằng kỹ thuật tranh luận ý thức, tranh luận tưởng tượng và tranh luận hành vi; kết hợp ghi nhật ký cảm xúc vào sổ tay.
- Liệu pháp nhận thức - hành vi của Albert Ellis: Áp dụng mô hình ABCDEF, hướng dẫn thân chủ đạt được trạng thái chấp nhận bản thân vô điều kiện (USA) và chấp nhận người khác vô điều kiện (UOA).
- Liệu pháp tâm lý nhóm: Thực hiện qua 4 kỹ thuật (chia sẻ kinh nghiệm và cảm xúc trong nhóm; học cách thư giãn tưởng tượng; tạo lập câu chuyện/bộ phim; tìm hiểu ảnh hưởng của xã hội lên bản thân).
- Các kỹ thuật thư giãn: Phân biệt giữa thư giãn căng - chùng cơ tiến dần của Jacobson (1938) và thư giãn tĩnh của Schultz (1932); hướng dẫn chi tiết các bước thư giãn cơ theo yoga, kỹ thuật thở bụng có kiểm soát (đặt sách lên bụng, hít sâu đẩy bụng căng, thở chậm đếm đến 5), kỹ thuật đáp ứng thư giãn (10-20 phút) và kỹ thuật thư giãn tăng dần từng nhóm cơ từ bàn chân lên đến đầu.
- Yếu tố ảnh hưởng: Phân chia thành các yếu tố khách quan (áp lực chương trình, khối lượng bài tập, kiểm tra thi cử, phương pháp giáo dục của giáo viên, kỳ vọng thành tích từ gia đình, bất đồng quan hệ bạn bè) và yếu tố chủ quan (đặc điểm khí chất, kiểu thần kinh, khả năng thích ứng, lòng tự trọng, nhận thức lệch lạc về năng lực bản thân).
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết địa bàn nghiên cứu là thành phố Hồ Chí Minh - trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục lớn của cả nước với áp lực học tập và cạnh tranh cao. Tác giả trình bày thiết kế nghiên cứu gồm 3 giai đoạn: xây dựng cơ sở lý luận và thiết kế công cụ đo; khảo sát thực trạng trên diện rộng và phỏng vấn sâu; tiến hành thực nghiệm can thiệp tâm lý và xử lý số liệu.
Nội dung trọng tâm của chương là quy trình xây dựng Thang đo lo âu học đường (LAHD-S). Khác với các thang đo lo âu chung đo lường mọi phương diện cuộc sống, thang đo LAHD-S được thiết kế tập trung đo lường các phản ứng lo âu, cảm giác bất an và hành vi mất kiểm soát của học sinh gắn liền với không gian trường học và nhiệm vụ học tập (áp lực thi cử, kiểm tra miệng, khối lượng bài vở, quan hệ thầy trò). Thang đo được kiểm định độ tin cậy bằng hệ số Cronbach's Alpha và kiểm định độ hiệu lực thông qua đối chiếu tương quan với các thang đo chuẩn hóa đã được công nhận. Luận án trình bày thiết kế thực nghiệm can thiệp có đối chứng trên 10 học sinh được phát hiện có mức độ lo âu cao từ bước khảo sát thực trạng (nhóm thực nghiệm n = 5, nhóm đối chứng n = 5). Chương trình can thiệp kéo dài 3 tháng, kết hợp đồng bộ 4 giải pháp: điều chỉnh nhận thức, sinh hoạt nhóm, bài tập thư giãn và tư vấn gia đình.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn lo âu học đường ở học sinh trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu khảo sát thực trạng và kết quả can thiệp thực nghiệm.
- Thực trạng mức độ lo âu học đường: Phân tích tỷ lệ học sinh theo các mức độ lo âu khác nhau dựa trên kết quả thang đo LAHD-S. So sánh mức độ lo âu giữa các phân nhóm: giới tính (nam và nữ), khối lớp (lớp 10, 11 và 12), khu vực địa lý và từng trường THPT cụ thể trong số 6 trường nghiên cứu (Bảng 3.1, Bảng 3.2, Bảng 3.3).
- Các biểu hiện bất thường của lo âu học đường: Thống kê các biểu hiện cụ thể về mặt cơ thể (đau đầu, đau bụng, run rẩy, khó thở, tim đập nhanh khi đến giờ kiểm tra), nhận thức (nghĩ mình kém cỏi, sợ bị bạn bè chê cười, thảm họa hóa điểm số) và hành vi (tránh né phát biểu, trốn tránh đến trường, mất tập trung) (Bảng 3.4).
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng: Sử dụng phân tích nhân tố khám phá EFA (Bảng 3.5, 3.6, 3.7) và ma trận xoay Varimax (Bảng 3.9) cùng phân tích tương quan Pearson (Bảng 3.8, 3.10). Kết quả khẳng định các yếu tố có tương quan thuận mạnh nhất với mức độ lo âu học đường là: áp lực thành tích học tập, áp lực thi cử, kỳ vọng quá cao từ cha mẹ và căng thẳng trong mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh.
- Hậu quả và mong muốn: Trình bày dữ liệu về những ảnh hưởng tiêu cực của lo âu đối với sức khỏe thể chất, giấc ngủ và kết quả học tập của học sinh (Bảng 3.11), đồng thời ghi nhận mong muốn của các em về việc giảm tải áp lực, nhận được sự đồng cảm từ cha mẹ và thầy cô (Bảng 3.12).
- Kết quả thực nghiệm can thiệp: So sánh điểm đo thang LAHD-S và các biểu hiện bất thường giữa thời điểm trước thực nghiệm (TTN) và sau thực nghiệm (STN) của nhóm thực nghiệm so với nhóm đối chứng (Bảng 3.13, Bảng 3.14, Biểu đồ 3.2). Kết quả ghi nhận ở nhóm thực nghiệm (5 học sinh), sau 3 tháng can thiệp bằng các liệu pháp tâm lý tích hợp, điểm lo âu học đường giảm rõ rệt và các biểu hiện bất thường giảm hẳn, đưa trạng thái tâm lý của các em trở về mức bình thường. Ngược lại, nhóm đối chứng (5 học sinh không can thiệp) không có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê về mức độ lo âu.
- Phân tích trường hợp điển hình: Trình bày chi tiết diễn biến tâm lý, quá trình can thiệp và sự cải thiện của 2 học sinh điển hình là ca T.D (Bảng 3.15, 3.16) và ca N.H (Bảng 3.17, 3.18) trước và sau quá trình hỗ trợ tâm lý.
| Chương |
Tên chương trong văn bản |
Nội dung chính và phát hiện thực nghiệm |
| Chương 1 |
Lý luận tâm lý học về lo âu học đường của học sinh trung học phổ thông |
Hệ thống hóa 4 hướng tiếp cận lý thuyết (tâm lý học đường, CBT, hoạt động, phân tâm); tiêu chuẩn chẩn đoán lo âu lan tỏa theo DSM-IV/V và ICD-10; quy trình can thiệp CBT (Beck, Ellis), tâm lý nhóm, thư giãn căng chùng cơ/yoga, tư vấn gia đình; phân loại yếu tố ảnh hưởng khách quan và chủ quan. |
| Chương 2 |
Tổ chức và phương pháp nghiên cứu |
Trình bày đặc điểm địa bàn TP.HCM; quy trình nghiên cứu 3 giai đoạn; mẫu khảo sát 923 học sinh tại 6 trường THPT; xây dựng và chuẩn hóa Thang đo lo âu học đường (LAHD-S); thiết kế quy trình thực nghiệm có đối chứng (10 học sinh, 3 tháng). |
| Chương 3 |
Kết quả nghiên cứu thực tiễn lo âu học đường ở học sinh trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh |
Phân tích tỷ lệ, mức độ lo âu theo giới tính, khối lớp, trường học; chỉ ra các biểu hiện cơ thể, nhận thức, hành vi; phân tích EFA xác định 4 yếu tố tác động chính (thành tích, thi cử, kỳ vọng cha mẹ, quan hệ thầy trò); chứng minh hiệu quả giảm lo âu ở nhóm thực nghiệm sau 3 tháng; phân tích sâu ca trường hợp T.D và N.H. |
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn như sau:
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa một cách có hệ thống các vấn đề lý luận về lo âu, lo âu học đường, đặc điểm lo âu học đường ở lứa tuổi học sinh THPT và các biện pháp hỗ trợ tâm lý phù hợp với bối cảnh giáo dục.
- Xây dựng được cấu trúc khái niệm, các biểu hiện và những dấu hiệu đặc trưng nhận diện lo âu học đường ở học sinh THPT, phân biệt rõ lo âu học đường với các trạng thái rối loạn lo âu chung trong tâm bệnh học.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh số liệu thực tế về thực trạng tỷ lệ và mức độ lo âu học đường của học sinh THPT tại thành phố Hồ Chí Minh trên mẫu khảo sát 923 học sinh, chỉ ra sự khác biệt theo khối lớp, giới tính và trường học.
- Xây dựng và chuẩn hóa thành công Thang đo lo âu học đường (LAHD-S) dành riêng cho học sinh THPT. Thang đo này tập trung nhận diện và lượng giá các biểu hiện bất an, mất kiểm soát liên quan trực tiếp đến việc thực hiện nhiệm vụ học tập trong không gian trường học, khắc phục nhược điểm của các thang đo lo âu chung vốn dàn trải trên mọi lĩnh vực đời sống.
- Kiểm chứng hiệu quả thực nghiệm của gói biện pháp hỗ trợ tâm lý kết hợp (điều chỉnh nhận thức, liệu pháp tâm lý nhóm, liệu pháp thư giãn và tư vấn cho phụ huynh). Kết quả thực nghiệm trên 5 học sinh trong vòng 3 tháng cho thấy tình trạng lo âu học đường giảm rõ rệt, đưa các biểu hiện lo âu trở về mức bình thường.
- Cung cấp cơ sở khoa học để các nhà giáo dục, cán bộ quản lý và chuyên gia sức khỏe tâm thần học đường nhận diện chính xác các yếu tố ảnh hưởng đến lo âu học sinh THPT (áp lực thành tích, thi cử, kỳ vọng gia đình, quan hệ giáo viên - học sinh), từ đó đề xuất các giải pháp kiểm soát và can thiệp kịp thời.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Luận án kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cơ quan quản lý giáo dục cần ban hành quy chế chính thức về biên chế và chức danh chuyên gia tâm lý học đường trong trường phổ thông, không giao khoán công tác tham vấn cho giáo viên bộ môn chưa qua đào tạo chuyên sâu.
- Các trường THPT cần kiện toàn phòng tham vấn tâm lý học đường hoạt động đúng chức năng, thiết lập quy trình phát hiện sớm và hỗ trợ tâm lý định kỳ cho học sinh, đặc biệt vào các giai đoạn cao điểm thi cử và phân luồng định hướng nghề nghiệp.
- Tăng cường phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc điều chỉnh kỳ vọng học tập phù hợp với năng lực thực tế của học sinh, tổ chức các chuyên đề tập huấn kỹ năng giải tỏa căng thẳng và kỹ thuật thư giãn cho học sinh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên phạm vi nghiên cứu được tác giả xác định trong văn bản:
- Hạn chế:
- Về phạm vi địa bàn: Khảo sát thực trạng mới chỉ thực hiện tại 6 trường THPT trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, chưa mở rộng ra các tỉnh thành khác để so sánh đặc điểm vùng miền.
- Về quy mô thực nghiệm: Số lượng khách thể tham gia can thiệp thực nghiệm còn hạn chế (10 học sinh, trong đó 5 học sinh nhóm thực nghiệm và 5 học sinh nhóm đối chứng), do tính chất can thiệp tâm lý chuyên sâu đòi hỏi theo dõi sát sao từng trường hợp.
- Về thời gian can thiệp: Thực nghiệm được tiến hành trong khung thời gian 3 tháng, do đó luận án chưa đánh giá được hiệu quả duy trì lâu dài của các liệu pháp tâm lý sau khi học sinh kết thúc chương trình hỗ trợ.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng quy mô khảo sát và can thiệp thực nghiệm trên các mẫu khách thể lớn hơn ở nhiều địa phương khác nhau.
- Tiếp tục hoàn thiện, chuẩn hóa thang đo LAHD-S trên các nhóm đối tượng học sinh khác nhau (học sinh THCS, học sinh trường chuyên, trung tâm giáo dục thường xuyên).
- Nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) để đánh giá độ bền vững của kết quả can thiệp tâm lý học đường sau 6 tháng hoặc 1 năm.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Tâm lý học và Giáo dục học: Luận án là tài liệu tham khảo chi tiết về phương pháp xây dựng và chuẩn hóa công cụ đo lường tâm lý (thang đo LAHD-S), quy trình phân tích nhân tố khám phá (EFA), kiểm định độ tin cậy và thiết kế mô hình thực nghiệm can thiệp tâm lý có nhóm đối chứng.
- Chuyên viên tâm lý học đường, cán bộ tham vấn tâm lý tại các trường phổ thông: Tài liệu cung cấp hệ thống các kỹ thuật can thiệp cụ thể có thể ứng dụng trực tiếp, bao gồm: 4 bước can thiệp nhận thức của Beck, mô hình ABCDEF của Ellis, 4 kỹ thuật sinh hoạt nhóm, cùng quy trình hướng dẫn bài tập thư giãn cơ theo yoga và kỹ thuật thở bụng có kiểm soát.
- Cán bộ quản lý giáo dục, hiệu trưởng trường THPT, giáo viên chủ nhiệm: Cung cấp căn cứ khoa học để nhận diện sớm các dấu hiệu lo âu học đường ở học sinh, giúp nhà trường điều chỉnh phương pháp đánh giá, giảm bớt áp lực thi cử và xây dựng quy chế phối hợp hiệu quả giữa nhà trường với phụ huynh học sinh.
- Các nhà hoạch định chính sách giáo dục: Cung cấp dữ liệu thực tiễn phục vụ việc xây dựng cơ chế pháp lý, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và bố trí biên chế cho chuyên viên tâm lý học đường tại hệ thống trường phổ thông Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Khách thể và địa bàn khảo sát thực trạng của luận án được tiến hành ở đâu, với số lượng bao nhiêu?
Luận án tiến hành khảo sát thực trạng trên mẫu gồm 923 học sinh (435 nam và 488 nữ) từ lớp 10 đến lớp 12 tại 6 trường THPT trên địa bàn TP.HCM: Trường THPT Trưng Vương (Quận 1), THPT Võ Thị Sáu (Quận Bình Thạnh), THPT Trường Chinh (Quận 12), THPT Nguyễn Hữu Cầu (Huyện Hóc Môn), THPT Gò Vấp (Quận Gò Vấp) và THPT Hiệp Bình (Quận Thủ Đức). Ngoài ra, nghiên cứu còn khảo sát 50 giáo viên, 50 phụ huynh học sinh và 5 chuyên gia tâm lý học đường.
2. Thang đo lo âu học đường (LAHD-S) trong luận án có điểm khác biệt gì so với các thang đo lo âu thông thường?
Các thang đo lo âu thông thường đo lường các dấu hiệu lo âu tổng quát trên tất cả các lĩnh vực đời sống. Ngược lại, Thang đo lo âu học đường (LAHD-S) do tác giả xây dựng chỉ tập trung nhận diện và lượng giá các biểu hiện hành vi bất an, mất kiểm soát gắn liền với bối cảnh học đường và việc thực hiện nhiệm vụ học tập diễn ra trong không gian trường học (như kiểm tra, thi cử, quan hệ thầy trò).
3. Khung can thiệp thực nghiệm hỗ trợ tâm lý của luận án được thiết kế như thế nào?
Chương trình thực nghiệm can thiệp được triển khai trong thời gian 3 tháng trên 10 học sinh chia đều thành 2 nhóm: nhóm thực nghiệm (05 học sinh) và nhóm đối chứng (05 học sinh). Nhóm thực nghiệm được can thiệp kết hợp đồng bộ 4 biện pháp: điều chỉnh nhận thức (theo mô hình Beck và Albert Ellis), liệu pháp tâm lý nhóm, liệu pháp thư giãn (căng - chùng cơ Jacobson, thư giãn tĩnh Schultz, thở bụng yoga) và tư vấn phối hợp với gia đình học sinh.
4. Những yếu tố nào trong bối cảnh học đường được xác định là ảnh hưởng chủ yếu đến lo âu của học sinh THPT?
Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích tương quan trong luận án chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến lo âu học đường gồm: áp lực về thành tích học tập; áp lực kiểm tra và thi cử; sự kỳ vọng quá cao của cha mẹ vào con cái; và mối quan hệ căng thẳng giữa giáo viên và học sinh.
5. Luận án vận dụng mô hình tâm lý học trường học quốc tế nào làm cơ sở tiếp cận?
Luận án vận dụng mô hình phân phối dịch vụ tâm lý học trường học 3 tầng của Hiệp hội các Nhà tâm lý học Trường học Hoa Kỳ (NASP, 2008) và mô hình mạng lưới hỗ trợ chuyên biệt RASED của Pháp, trong đó luận án định vị khách thể nghiên cứu tập trung vào Tầng 1 (chiếm khoảng 80% học sinh toàn trường) để phát hiện sớm và phòng ngừa các khó khăn tâm lý.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Vân đã giải quyết vấn đề lo âu học đường của học sinh THPT tại thành phố Hồ Chí Minh thông qua sự kết hợp chặt chẽ giữa lý luận tâm lý học đường, nhận thức - hành vi và phân tích thực tiễn. Tác giả đã chuẩn hóa công cụ đo lường chuyên biệt (thang đo LAHD-S) trên 923 học sinh tại 6 trường THPT, làm rõ tỷ lệ, biểu hiện và các yếu tố ảnh hưởng xuất phát từ áp lực thành tích, thi cử và kỳ vọng gia đình. Kết quả can thiệp thực nghiệm trong 3 tháng trên 10 học sinh có nhóm đối chứng đã chứng minh tính hiệu quả của gói hỗ trợ tâm lý tích hợp gồm điều chỉnh nhận thức, sinh hoạt nhóm, thư giãn và tư vấn gia đình trong việc đưa mức độ lo âu của học sinh trở về trạng thái bình thường. Công trình cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn và khung tham chiếu kỹ thuật cho công tác nghiên cứu, tham vấn tâm lý học đường và hoạch định chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần trong trường phổ thông tại Việt Nam.