Lo Âu Học Đường Của Học Sinh Trung Học Phổ Thông Tại Thành Phố Hồ Chí Minh

Chuyên khảo phân tích Lo âu học đường của học sinh trung học phổ thông tại thành phố hồ chí minh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2019

253
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN TÂM LÝ HỌC VỀ LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.2. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài

1.3. Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam

1.4. Các lý thuyết tiếp cận

1.4.1. Tiếp cận tâm lý học đường

1.4.2. Tiếp cận nhận thức- hành vi

1.4.3. Tiếp cận tâm lý học hoạt động

1.4.4. Tiếp cận phân tâm học

1.5. Khái niệm về lo âu. Đặc điểm, biểu hiện của lo âu

1.6. Phân loại và tiêu chí chẩn đoán lo âu

1.7. Các biện pháp hỗ trợ tâm lý làm giảm tình trạng lo âu

1.8. Lo âu học đường của học sinh trung học phổ thông

1.8.1. Khái niệm lo âu học đường. Học sinh trung học phổ thông

1.8.2. Lo âu học đường của học sinh trung học phổ thông

1.8.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến lo âu học đường của học sinh trung học phổ thông

1.8.3.1. Những yếu tố khách quan
1.8.3.2. Những yếu tố chủ quan

1.9. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vài nét chung về địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

2.2. Tổ chức nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Tiến trình nghiên cứu

2.5. Các phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu

2.5.2. Phương pháp trắc nghiệm tâm lý

2.5.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

2.5.4. Phương pháp thảo luận nhóm

2.5.5. Phương pháp phỏng vấn sâu

2.5.6. Phương pháp chuyên gia

2.5.7. Phương pháp nghiên cứu trường hợp

2.5.8. Phương pháp thực nghiệm tác động

2.5.9. Phương pháp thống kê toán học

2.6. Công cụ nghiên cứu

2.6.1. Thang đo lo âu học đường

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN LO ÂU HỌC ĐƯỜNG Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.1. Phân loại đánh giá tỉ lệ học sinh có biểu hiện lo âu học đường

3.2. So sánh mức độ lo âu học đường của học sinh theo các tiêu chí

3.3. Kết quả đánh giá của học sinh bằng thang đo lo âu học đường

3.4. Những biểu hiện bất thường của lo âu học đường ở học sinh trung học phổ thông

3.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến lo âu học đường của học sinh THPT

3.6. Những hậu quả của lo âu học đường và những mong muốn của bản thân học sinh với người khác

3.6.1. Những hậu quả của lo âu học đường đối với bản thân học sinh

3.6.2. Những mong muốn của bản thân

3.7. Đề xuất một số biện pháp phòng ngừa và can thiệp tình trạng lo âu học đường của học sinh THPT

3.8. Kết quả thực nghiệm các biện pháp hỗ trợ tâm lý cho học sinh có biểu hiện lo âu học đường ở học sinh trung học phổ thông

3.8.1. Kết quả đánh giá bằng thang đo lo âu học đường trước và sau thực nghiệm

3.8.2. Những biểu hiện bất thường trước và sau khi thực nghiệm

3.8.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực nghiệm

3.8.4. Thuận lợi và khó khăn trong quá trình làm thực nghiệm

3.8.5. Phân tích các trường hợp cụ thể

3.9. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Lo Âu Học Đường Thực Trạng Tại TP

Lo âu học đường là một vấn đề sức khỏe tâm thần ngày càng được quan tâm, đặc biệt ở lứa tuổi học sinh trung học phổ thông. Giai đoạn này, các em phải đối mặt với nhiều áp lực từ việc học tập, định hướng nghề nghiệp, và các mối quan hệ xã hội. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ học sinh THPT gặp các vấn đề về sức khỏe tâm thần thường cao hơn so với các cấp học khác. Việc phát hiện và can thiệp sớm các vấn đề như lo âu, trầm cảm, stress là vô cùng quan trọng để đảm bảo sự phát triển toàn diện của các em. Theo bà Thạch Ngọc Yến, chuyên viên phụ trách văn phòng tư vấn trẻ em tại TP.HCM cho biết mỗi năm văn phòng tiếp nhận khoảng 1.000 ca tư vấn, trong đó có 45% trẻ bị sức ép học tập dẫn đến tình trạng lo âu quá mức.

1.1. Nghiên Cứu Lo Âu Học Đường Trên Thế Giới Điểm Nhấn

Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng lo âu không chỉ ảnh hưởng đến kết quả học tập mà còn tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm thần và thể chất của học sinh. Các yếu tố như áp lực từ gia đình, nhà trường, và xã hội đều góp phần làm gia tăng tình trạng lo âu. Các biện pháp can thiệp sớm và hỗ trợ tâm lý được chứng minh là hiệu quả trong việc giảm thiểu lo âu và cải thiện chất lượng cuộc sống của học sinh. Cần có những nghiên cứu sâu rộng hơn để hiểu rõ hơn về các yếu tố nguy cơ và các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

1.2. Nghiên Cứu Lo Âu Học Đường Tại Việt Nam Bức Tranh Chung

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về lo âu học đường còn hạn chế, đặc biệt là ở cấp THPT. Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ học sinh gặp các vấn đề về sức khỏe tâm thần, bao gồm lo âu, đang có xu hướng gia tăng. Các yếu tố như áp lực học tập, thi cử, và định hướng nghề nghiệp là những nguyên nhân chính gây ra lo âu. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để đánh giá thực trạng lo âu học đường một cách toàn diện và đề xuất các giải pháp can thiệp phù hợp. Theo bác sĩ Lâm Xuân Điền – bệnh viện Tâm Thần TP.HCM cho biết: “thời gian gần đây, học sinh đến khám bệnh ngày càng đông, nhất là vào mùa thi (từ tháng 3 đến tháng 9), trung bình bệnh viện tiếp nhận từ 80-100 bệnh nhân mỗi ngày.

II. Nguyên Nhân Gây Lo Âu Học Đường Phân Tích Tại TP

Nhiều yếu tố có thể gây ra lo âu học đườnghọc sinh trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các yếu tố khách quan bao gồm áp lực từ chương trình học, kỳ thi, và môi trường cạnh tranh. Các yếu tố chủ quan bao gồm sự kỳ vọng của bản thân, sự so sánh với bạn bè, và các vấn đề cá nhân. Sự kết hợp của các yếu tố này có thể dẫn đến tình trạng căng thẳng thi cử, áp lực học tập, và cuối cùng là lo âu học đường. Việc hiểu rõ các nguyên nhân này là bước đầu tiên để tìm ra các giải pháp can thiệp hiệu quả.

2.1. Yếu Tố Khách Quan Áp Lực Từ Môi Trường Học Đường

Áp lực từ môi trường học đường là một trong những yếu tố khách quan chính gây ra lo âu học đường. Chương trình học nặng nề, yêu cầu cao về thành tích, và sự cạnh tranh giữa các học sinh tạo ra một môi trường căng thẳng. Các kỳ thi quan trọng, như kỳ thi tốt nghiệp THPT và kỳ thi đại học, cũng gây ra áp lực lớn cho học sinh. Môi trường học đường không lành mạnh, với các vấn đề như bạo lực học đường và sự phân biệt đối xử, cũng có thể góp phần làm gia tăng lo âu. Cần có những biện pháp để giảm thiểu áp lực từ môi trường học đường và tạo ra một môi trường học tập tích cực và hỗ trợ.

2.2. Yếu Tố Chủ Quan Kỳ Vọng So Sánh Vấn Đề Cá Nhân

Các yếu tố chủ quan, như kỳ vọng của bản thân và gia đình, sự so sánh với bạn bè, và các vấn đề cá nhân, cũng đóng vai trò quan trọng trong việc gây ra lo âu học đường. Học sinh thường tự đặt ra những kỳ vọng quá cao cho bản thân, hoặc chịu áp lực từ gia đình về thành tích học tập. Sự so sánh với bạn bè có thể dẫn đến cảm giác tự ti và bất an. Các vấn đề cá nhân, như các mối quan hệ xã hội, vấn đề gia đình, và các vấn đề về sức khỏe tâm thần, cũng có thể góp phần làm gia tăng lo âu. Cần có sự hỗ trợ tâm lý để giúp học sinh đối phó với các yếu tố chủ quan này và xây dựng sự tự tin.

III. Biểu Hiện Lo Âu Học Đường Nhận Diện Ở Học Sinh TP

Các biểu hiện của lo âu học đườnghọc sinh trung học phổ thông có thể rất đa dạng. Về mặt thể chất, học sinh có thể gặp các triệu chứng như mất ngủ, mệt mỏi, khó tập trung, và ăn uống không điều độ. Về mặt tâm lý, học sinh có thể cảm thấy căng thẳng, dễ cáu gắt, sợ hãi, và tuyệt vọng. Về mặt hành vi, học sinh có thể trở nên tránh né, thu mình, hoặc sử dụng chất kích thích. Việc nhận diện sớm các biểu hiện này là rất quan trọng để có thể can thiệp kịp thời và ngăn chặn tình trạng lo âu trở nên nghiêm trọng hơn.

3.1. Biểu Hiện Thể Chất Mệt Mỏi Mất Ngủ Khó Tập Trung

Các biểu hiện thể chất của lo âu học đường có thể bao gồm mệt mỏi, mất ngủ, khó tập trung, đau đầu, đau bụng, và các vấn đề về tiêu hóa. Những triệu chứng này có thể ảnh hưởng đến khả năng học tập và sinh hoạt hàng ngày của học sinh. Mất ngủ có thể dẫn đến mệt mỏikhó tập trung, làm giảm hiệu quả học tập. Các vấn đề về tiêu hóa có thể gây khó chịu và ảnh hưởng đến ăn uống không điều độ. Cần có sự chăm sóc y tế và các biện pháp thư giãn để giảm thiểu các biểu hiện thể chất này.

3.2. Biểu Hiện Tâm Lý Căng Thẳng Sợ Hãi Tuyệt Vọng

Các biểu hiện tâm lý của lo âu học đường có thể bao gồm căng thẳng, dễ cáu gắt, sợ hãi, tuyệt vọng, buồn bã, và chán nản. Học sinh có thể cảm thấy lo lắng về tương lai, sợ thất bại, và mất niềm tin vào bản thân. Sự cô đơnlạc lõng cũng là những cảm xúc thường gặp ở học sinh bị lo âu. Những cảm xúc tiêu cực này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần và dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng hơn, như trầm cảmtự tử. Cần có sự hỗ trợ tâm lý để giúp học sinh đối phó với các cảm xúc tiêu cực này và xây dựng sự lạc quan.

IV. Giải Pháp Giảm Lo Âu Học Đường Hỗ Trợ Tại TP

Có nhiều giải pháp để giảm thiểu lo âu học đườnghọc sinh trung học phổ thông. Các giải pháp này có thể bao gồm tư vấn tâm lý học đường, hỗ trợ tâm lý học sinh, kỹ năng quản lý thời gian, và kỹ năng giải quyết vấn đề. Sự tham gia của gia đình, nhà trường, và cộng đồng là rất quan trọng để tạo ra một môi trường hỗ trợ và giúp học sinh vượt qua lo âu. Các chương trình giáo dục về sức khỏe tâm thần cũng có thể giúp học sinh nhận biết và đối phó với lo âu một cách hiệu quả.

4.1. Tư Vấn Tâm Lý Học Đường Vai Trò Của Chuyên Gia

Tư vấn tâm lý học đường đóng vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh đối phó với lo âu học đường. Các chuyên gia tâm lý có thể cung cấp sự hỗ trợ, tư vấn, và điều trị cho học sinh gặp các vấn đề về sức khỏe tâm thần. Phòng tham vấn học đường nên được trang bị đầy đủ các nguồn lực và nhân sự để đáp ứng nhu cầu của học sinh. Các chương trình tư vấn tâm lý nên được thiết kế phù hợp với lứa tuổi và nhu cầu của học sinh. Cần có sự phối hợp giữa chuyên gia tâm lý, giáo viên, và gia đình để đảm bảo hiệu quả của tư vấn tâm lý.

4.2. Kỹ Năng Quản Lý Thời Gian Bí Quyết Giảm Áp Lực

Kỹ năng quản lý thời gian là một công cụ quan trọng để giúp học sinh giảm áp lực và lo âu. Học sinh nên học cách lập kế hoạch, ưu tiên công việc, và phân bổ thời gian hợp lý. Việc sử dụng các công cụ hỗ trợ quản lý thời gian, như lịch, ứng dụng, và phần mềm, có thể giúp học sinh tổ chức công việc một cách hiệu quả. Học sinh cũng nên học cách nói không với những hoạt động không cần thiết và dành thời gian cho bản thân để thư giãn và giải trí. Kỹ năng quản lý thời gian có thể giúp học sinh cảm thấy kiểm soát được cuộc sống của mình và giảm lo âu.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Nghiên Cứu Về Lo Âu Học Đường Tại TP

Nghiên cứu thực tiễn về lo âu học đường tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy rằng tỷ lệ học sinh gặp các vấn đề về sức khỏe tâm thần, bao gồm lo âu, đang có xu hướng gia tăng. Các yếu tố như áp lực học tập, thi cử, và định hướng nghề nghiệp là những nguyên nhân chính gây ra lo âu. Các biện pháp can thiệp sớm và hỗ trợ tâm lý được chứng minh là hiệu quả trong việc giảm thiểu lo âu và cải thiện chất lượng cuộc sống của học sinh. Cần có những nghiên cứu sâu rộng hơn để hiểu rõ hơn về các yếu tố nguy cơ và các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

5.1. Kết Quả Nghiên Cứu Tỷ Lệ Học Sinh Bị Lo Âu Học Đường

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng một tỷ lệ đáng kể học sinh trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh đang trải qua lo âu học đường. Tỷ lệ này có thể khác nhau tùy thuộc vào trường học, khu vực, và các yếu tố khác. Tuy nhiên, các nghiên cứu đều cho thấy rằng lo âu học đường là một vấn đề nghiêm trọng cần được quan tâm. Cần có những nghiên cứu quy mô lớn hơn để đánh giá chính xác tỷ lệ học sinh bị lo âu học đường và xác định các yếu tố nguy cơ.

5.2. Đề Xuất Biện Pháp Phòng Ngừa Và Can Thiệp Lo Âu

Dựa trên kết quả nghiên cứu, có thể đề xuất một số biện pháp phòng ngừa và can thiệp lo âu học đường. Các biện pháp này có thể bao gồm: tăng cường tư vấn tâm lý học đường, cải thiện môi trường học tập, giảm áp lực học tập, và cung cấp các chương trình giáo dục về sức khỏe tâm thần. Cần có sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường, và cộng đồng để thực hiện các biện pháp này một cách hiệu quả. Các biện pháp phòng ngừa nên được thực hiện từ sớm để ngăn chặn lo âu phát triển.

VI. Kết Luận Tương Lai Của Vấn Đề Lo Âu Học Đường Tại TP

Lo âu học đường là một vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần và sự phát triển của học sinh trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh. Việc giải quyết vấn đề này đòi hỏi sự nỗ lực của gia đình, nhà trường, cộng đồng, và chính bản thân học sinh. Cần có những nghiên cứu sâu rộng hơn để hiểu rõ hơn về các yếu tố nguy cơ và các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Tương lai của vấn đề lo âu học đường phụ thuộc vào việc chúng ta có thể tạo ra một môi trường học tập và xã hội hỗ trợ, nơi học sinh cảm thấy an toàn, được tôn trọng, và có cơ hội phát triển toàn diện.

6.1. Tầm Quan Trọng Của Việc Chăm Sóc Sức Khỏe Tâm Thần

Việc chăm sóc sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông là vô cùng quan trọng. Sức khỏe tâm thần tốt giúp học sinh học tập hiệu quả hơn, xây dựng các mối quan hệ lành mạnh, và đối phó với các thử thách trong cuộc sống. Cần có sự nhận thức và quan tâm đến sức khỏe tâm thần từ phía gia đình, nhà trường, và cộng đồng. Các chương trình giáo dục về sức khỏe tâm thần nên được tích hợp vào chương trình học để giúp học sinh hiểu rõ hơn về sức khỏe tâm thần và cách chăm sóc bản thân.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Lo Âu Học Đường

Các hướng nghiên cứu tiếp theo về lo âu học đường có thể tập trung vào việc xác định các yếu tố nguy cơ, đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp, và phát triển các chương trình phòng ngừa. Cần có những nghiên cứu quy mô lớn hơn để đánh giá chính xác tỷ lệ học sinh bị lo âu học đường và xác định các yếu tố nguy cơ. Các nghiên cứu cũng nên tập trung vào việc phát triển các công cụ đánh giá lo âu học đường phù hợp với văn hóa Việt Nam. Cần có sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu, chuyên gia tâm lý, và các nhà giáo dục để thực hiện các nghiên cứu này.

08/06/2025
Lo âu học đường của học sinh trung học phổ thông tại thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 LÝ LUẬN TÂM LÝ HỌC VỀ LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài Lo âu được biết đến rất sớm, từ thời Hy Lạp cổ đại- thế kỷ IV trước công nguyên do Hypocrate (460- 377BC) mô tả, với một dạng bệnh thường gặp mà biểu hiện của nó là cảm giác co thắt và ngột ngạt khó thở, lo âu được cho là những cuộc đấu tranh của tâm hồn- quan niệm này tồn tại hàng chục thế kỷ sau đó. Trong suốt thời gian này, lo âu được nói nhiều nhưng chủ yếu trong lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, văn học; được xem như dục vọng của tâm hồn, suy nghĩ của ma quỷ.

Người ta không chú ý nghiên cứu về bản chất của các cảm xúc mà chỉ tìm cách chế ngự nó. Lo âu được lãng mạn hóa và thần thoại hóa, được cho là cách thể hiện sự u sầu chứ không phải là bệnh lý cần nghiên cứu [44; tr.128] Charles Darwin- Ông tổ của ngành sinh vật trong tác phẩm: “Biểu hiện của cảm xúc ở người và động vật” 1872 đã mô tả “Con người đã trải qua các thế hệ đã cố gắng chạy trốn khỏi những kẻ thù nguy hiểm với niềm sợ hãi, lo âu ngày một tăng lên”. Lo âu thường gặp là một cảm giác sợ hãi, mơ hồ, khó chịu lan tỏa cùng các rối loạn cơ thể bất cứ bộ phận nào. Năm 1844, Kerkgard- nhà tâm thần học và y học người Đan Mạch đã sử dụng thuật ngữ Angest để chỉ trạng thái lo âu ở con người.

Năm 1866, Morel đã gộp những trạng thái lo âu lại với nhau và ông gọi là “Hoang tưởng cảm xúc”, trạng thái này khác với chứng Hysterie và bệnh hypochondria. Năm 1895, trên cơ sở phân tích các hiện tượng lâm sàng rối loạn ám ảnh, Freud đã đề xuất thuật ngữ “nhiễu tâm lo âu”, ông cho rằng sở dĩ các bệnh nhân có chứng nhiễu tâm lo âu là do sự xung đột của nội tâm vô thức. Thuật ngữ này của của S.Freud đã được khá nhiều người chấp nhận và được sử dụng trong thời gian dài từ đầu thế kỷ XX cho đến những năm 60 của thế kỷ này [27]. Charles Darwin với học thuyết tiến hóa- năm 1872 đã nói rõ nguồn gốc và bản chất của sợ hãi và lo âu.

Các nhà tâm lý học và tâm thần học bắt đầu nghiên cứu mô tả lo âu và bản chất của nó [30; tr. Có lẽ sự kiện có sức thuyết phục nhất trong lịch sử nghiên cứu về lo âu đó là học thuyết của S.Freud (1894) về chứng suy nhược thần kinh, với mục đích tiếp cận và làm sáng tỏ khái niệm lo âu.Freud đã phân tích chứng suy nhược thần kinh 7 thành hội chứng riêng biệt và gọi là “Lo âu loạn thần kinh chức năng” (anxiety neurosis). Vào thời điểm đó, rối loạn phân ly và rối loạn nghi bệnh cũng được xem là loạn thần kinh chức năng và được cho là có nguồn gốc tâm lý, còn tình trạng ám ảnh có kèm lo âu- theo S.Freud có nguồn gốc xuất phát từ những cơ quan trong cơ thể. Quan điểm về bệnh học này đã để lại ảnh hưởng trong một thời gian dài của thế kỷ XX.

Tuy không có bằng chứng khoa học xác đáng nhưng học thuyết này cũng làm sáng tỏ thêm về bản chất bên trong của lo âu và thể hiện một cách nhìn mới về lâm sàng. Theo quan điểm của S.Freud, trong “lo âu thần kinh chức năng” (anxiety neurosis) các triệu chứng của lo âu bao gồm cả các triệu chứng cơ thể. Từ những tri thức quý giá của S.Freud, thuật ngữ “lo âu lan tràn” (free floating anxiety),mà sau này đổi thành (rối loạn lo âu lan tỏa) được hình thành với những đặc điểm nổi bật như: lo âu quá mức, bồn chồn dễ kích thích [29; tr. 629] Năm 1964, nhà tâm lý học và dược lý học tâm thần Klein đã tách hội chứng lo âu toàn thể (general anxiety syndrome) thành rối loạn hoảng sợ và rối loạn lo âu lan tỏa dựa trên sự đáp ứng đối với thuốc Imipramin.

Theo nghiên cứu của Klein, rối loạn hoảng sợ đáp ứng với Imipramin còn rối loạn lo âu lan tỏa thì không đáp ứng. Có những ý kiến đồng thuận và không đồng thuận về quan điểm của Klein [96]. DSM- I (APA, 1952) và DSM- II (APA, 1968) đã sắp xếp các rối loạn tâm thần thành các rối loạn thứ phát từ lo âu và lo âu trở thành nguyên nhân gây ra những bất ổn định về tâm thần. DSM- III (APA, 1980) đã đồng thuận với quan điểm của Klein (về tình trạng lo âu toàn thể dai dẳng) và sắp xếp phân loại rối loạn này một cách hệ thống.

DSM - III là tài liệu đầu tiên nghiên cứu về RLLALT - sự kiện này đánh dấu một mốc quan trọng trong hiểu biết của chúng ta về lo âu trong tâm thần học. Tiếp theo đó là DSM-III-R (APA,1987), DSM - IV (APA,1994) và DSM- IV-TR (APA,2000), rối loạn lo âu lan tỏa được bổ sung với mức độ tinh tế hơn về bố cục sắp xếp, tiêu chuẩn chẩn đoán, bản chất, cơ chế,dịch tễ học, các rối loạn phối hợp… bằng kết quả của những nghiên cứu mới [29; tr. Năm 1988 WHO đã sử dụng DSM- III làm tài liệu tham khảo để soạn thảo bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi (ICD- 10). Năm 1992 ICD- 10 được WHO công bố và áp dụng chính thức trên toàn thế giới đến nay [68; tr.

Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD 10, 1992) thì lo âu có sự kết hợp chặt chẽ với các nguyên nhân tâm lý. Trong đó, lo âu được xếp vào các rối loạn tâm căn có liên quan đến Stress và dạng cơ thể [68; tr. 8 Đến năm 1994, Hội tâm thần học Mỹ đã đưa ra bảng phân loại DSM- IV, trong đó mỗi loại rối nhiễu tâm thần được khái niệm hóa như là một nhóm các triệu chứng bất thường về tâm lý hoặc những mẫu hành vi ứng xử bất thường đều có ý nghĩa về mặt lâm sàng. Chúng xảy ra ở một cá nhân và liên quan đến các triệu chứng stress tiêu cực hoặc liên quan đến việc làm mất năng lực của cá nhân, tăng đáng kể sự nguy hiểm cho cá nhân thông qua việc phải chịu đựng những cảm giác tiêu cực như: ám ảnh về cái chết, sự đau khổ, sự mất năng lực, sự mất tự do của cá nhân.Bất kể điều gì là nguyên nhân của những triệu chứng thì sự rối nhiễu hiện có phải luôn được xem là sự biểu hiện của sự suy giảm, thoái lui về chức năng dưới góc độ tâm lý, sinh lý xảy ra ở các cá nhân [78; tr.

Hội tâm thần học Mỹ năm 2013 đã đưa ra bảng phân loại DSM- V, về cơ bản khái niệm về lo âu và các tiêu chí chẩn đoán giống như DSM- IV nhưng trong phiên bản DSM- V có đề cập thêm yếu tố văn hóa trong việc chẩn đoán các vấn đề về sức khỏe tâm thần [76; tr. Trong các công trình nghiên cứu về tình trạng lo âu ở trẻ em, phải kể đến công trình của M.Prior và cộng sự (1983- 2001) trên 2443 trẻ theo chiều dọc từ lúc trẻ mới sinh ra cho đến lúc 18 tuổi. Kết quả cho thấy 42% những em có tính cách hay xấu hổ, nhút nhát, thu mình trước 9 tuổi thường có lo âu vào giai đoạn 13- 14 tuổi. Warren và Huston cho rằng mối quan hệ gắn bó kéo dài và một yếu tố dự đoán quan trọng về trạng thái lo âu ở trẻ em [111].

Theo thống kê riêng ở Mỹ của dự án nghiên cứu National Comorbidity Survey trong năm 2004 (một dự án nghiên cứu về tỉ lệ các rối loạn tâm thần ở người Mỹ) thì 58% bệnh nhân được chẩn đoán trầm cảm có rối loạn lo âu, trong số đó 17,2% là rối loạn lo âu lan tỏa, 9,9% là rối loạn hoảng sợ. Bệnh nhân lo âu cũng có tỉ lệ cao bị trầm cảm ngoài ra 22,4% bệnh nhân mắc chứng ám sợ xã hội, 9,4% bệnh nhân ám sợ khoảng trống và 2,3% rối loạn hoảng sợ [88; tr. Về vấn đề tâm lý học trường học trên thế giới đã có rất nhiều nước quan tâm đến vấn đề này và họ đã xây dựng các mô hình tâm lý học trường học để có thể hỗ trợ cho học sinh, sinh viên trong môi trường học đường. Với một số các nước phát triển họ nhận định vấn đề tư vấn tâm lý học đường rất quan trọng với học sinh, sinh viên.

Theo các chuyên gia tâm lý học đường hay các nhà tâm lý học trường học – School Psychology là một chuyên ngành tâm lý ứng dụng dựa trên nền tảng của một số lĩnh lực như: tâm lý học phát triển, tâm lý học nhân cách, tâm lý học văn hóa, tham vấn học đường, tâm lý học lệch chuẩn, tâm lý học sức khỏe, khoa học chẩn 9 đoán tâm lý…nhằm phát hiện sớm, phòng ngừa và can thiệp cho trẻ em, thanh thiếu niên trong nhận thức, trong hành vi, trong cảm xúc ở môi trường học đường, gia đình và cộng đồng. Dưới đây là một số mô hình tâm lý học trường học trên thế giới. * Một số mô hình tâm lý học trường học trên thế giới - Thứ nhất: Mô hình của Spielberger (1966) [27] Mô hình của Spielberger (1966) quy định rằng tất cả mọi người đều được trải nghiệm một tình huống lo âu, theo đó sẽ có các cách diễn giải cá nhân về một tình huống được coi như là đe doạ về thể chất hoặc tâm lý hay một cách diễn giải khác cho tình huống này là hoàn toàn bình thường không có gì đáng bị đe dọa, nguy hiểm đối với bản thân họ. Tuy nhiên tất cả không phản ứng theo cùng một cách.

Một vài tình huống gây căng thẳng sẽ dẫn dắt cá nhân ước lượng nhận thức về tình huống (bị ảnh hưởng bởi những suy nghĩ và cảm xúc của họ) quyết định liệu tình huống đó có phải là mối đe dọa đối với người đó hay không. Với mô hình này, Spielberger đã tác động vào suy nghĩ, cảm xúc, đánh giá nhận thức của mỗi người vào các tình huống thực tế khác nhau trong cuộc sống để có thể giúp học sinh nhìn nhận đúng đắn vấn đề và không dẫn đến căng thẳng áp lực, đặc biệt trong bối cảnh học đường.1: Mô hình lo âu học đường của Spielberger (1966) 10 - Thứ hai: Mô hình trợ giúp học sinh có khó khăn ở Pháp [54].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Lo Âu Học Đường Của Học Sinh Trung Học Phổ Thông Tại Thành Phố Hồ Chí Minh" khám phá những nguyên nhân và tác động của lo âu học đường đối với học sinh trung học phổ thông tại TP. Hồ Chí Minh. Nghiên cứu này không chỉ chỉ ra mức độ lo âu mà học sinh phải đối mặt trong quá trình học tập, mà còn phân tích các yếu tố như áp lực từ gia đình, bạn bè và kỳ vọng xã hội. Tài liệu mang lại cái nhìn sâu sắc về tình trạng tâm lý của học sinh, từ đó giúp phụ huynh, giáo viên và các nhà quản lý giáo dục có những biện pháp hỗ trợ hiệu quả hơn.

Để mở rộng thêm kiến thức về vấn đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu "An investigation into foreign language test anxiety of non english majored students at hue university", nơi nghiên cứu về lo âu thi cử của sinh viên không chuyên ngữ. Bên cạnh đó, tài liệu "Đánh giá hiệu quả giảm lo âu thi cử của nhĩ châm loa tai bên không thuận các huyệt master não v point và thư giãn trên sinh viên y khoa đại học y dược thành phố hồ chí minh" cũng cung cấp những phương pháp giảm lo âu thi cử cho sinh viên y khoa, giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về các giải pháp khả thi. Những tài liệu này sẽ là nguồn thông tin quý giá cho những ai quan tâm đến sức khỏe tâm lý của học sinh và sinh viên trong môi trường học đường.