Tổng quan luận án
Sau hơn 30 năm đổi mới, ngành nông nghiệp Việt Nam đối mặt với những thách thức lớn về chất lượng nông sản và phát triển bền vững trước áp lực biến đổi khí hậu và hội nhập kinh tế quốc tế. Khâu sản xuất nông nghiệp mang tính chất sinh học đặc thù, phụ thuộc chặt chẽ vào quy trình canh tác trên đồng ruộng do nông dân đảm nhiệm; tuy nhiên, các khâu chế biến, bảo quản, xây dựng thương hiệu, tiếp cận công nghệ và thị trường tiêu thụ lại vượt quá khả năng tự giải quyết của các nông hộ nhỏ lẻ. Thực tế này đòi hỏi sự hình thành mối liên kết dọc giữa doanh nghiệp chế biến và nông dân. Dù hệ thống chủ trương, chính sách đã được ban hành qua nhiều thời kỳ như Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg, Chỉ thị số 25/2008/CT-TTg, Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg và Nghị định số 98/2018/NĐ-CP (với các chính sách hỗ trợ 100% chi phí tư vấn xây dựng liên kết, hỗ trợ 30% vốn đầu tư máy móc trang thiết bị, hỗ trợ hạ tầng, đào tạo, giống và vật tư), thực tiễn liên kết trong các chuỗi nông sản vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Tình trạng phá vỡ hợp đồng, chạy theo giá thị trường tự do diễn ra phổ biến do thiếu cơ chế phân chia lợi ích và rủi ro hài hòa, cùng với sự thiếu vắng chế tài pháp lý - hành chính bảo đảm thực thi hợp đồng.
Đối với ngành mía đường, cây mía là loại nông sản có tính chất kỹ thuật khắt khe: hàm lượng chữ đường (CCS - Commercial Cane Sugar) suy giảm nhanh theo thời gian sau khi thu hoạch, đòi hỏi cây mía phải được vận chuyển về nhà máy chế biến trong thời gian tối đa 16 giờ sau khi chặt. Mối quan hệ giữa nhà máy đường và người trồng mía mang tính phụ thuộc hữu cơ rõ rệt. Tuy nhiên, chuỗi giá trị mía đường Việt Nam tồn tại sự mất cân đối nghiêm trọng về phân chia lợi ích: người trồng mía cung ứng khoảng 80% nguyên liệu sản xuất đường nhưng chỉ nhận được chưa đến 11% lợi nhuận trung bình toàn chuỗi. Tình trạng này khiến người trồng mía tại nhiều địa phương, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long, phá bỏ diện tích mía để chuyển đổi cây trồng khác, đẩy nhiều nhà máy đường vào tình trạng thiếu nguyên liệu, hoạt động dưới công suất hoặc dừng sản xuất. Bên cạnh đó, sau nhiều thập kỷ được bảo hộ bằng hạn ngạch và thuế suất cao, ngành mía đường Việt Nam vẫn có năng lực cạnh tranh thấp. Việc thực thi Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA) từ đầu năm 2020 đưa thuế suất nhập khẩu đường về 0% đã tạo áp lực cạnh tranh gay gắt từ đường nhập khẩu của các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là Thái Lan, dự báo làm đóng cửa khoảng một nửa số nhà máy đường trong nước.
Luận án "Liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất và tiêu thụ mía đường ở Việt Nam" được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu cấp bách trên.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề liên kết, luận án phân tích, đánh giá thực trạng liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất và tiêu thụ mía đường ở Việt Nam nhằm chỉ ra những vấn đề tồn tại, nguyên nhân của các vấn đề trong mối liên kết này; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp thúc đẩy liên kết trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
- Mục tiêu cụ thể:
- i. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất và tiêu thụ nông sản.
- ii. Phân tích, đánh giá thực trạng liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất và tiêu thụ mía đường ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2013 (mốc Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg) đến năm 2021 (số liệu khảo sát cập nhật đến năm 2019).
- iii. Đánh giá những kết quả đạt được, phát hiện những vấn đề tồn tại trong liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất và tiêu thụ mía đường ở Việt Nam cùng nguyên nhân của các tồn tại đó.
- iv. Khuyến nghị một số giải pháp nhằm thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất và tiêu thụ mía đường ở Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất và tiêu thụ mía đường.
- Phạm vi lĩnh vực: Mối quan hệ liên kết giữa nông dân trồng mía và doanh nghiệp chế biến ngành mía đường.
- Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam; khảo sát thực địa sâu tại tỉnh Khánh Hòa (tập trung tại huyện Diên Khánh và thị xã Ninh Hòa); so sánh với mô hình Công ty Cổ phần Mía đường Lam Sơn (Thanh Hóa), Công ty TNHH Mía đường Nghệ An và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long; đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế từ Thái Lan, Philippines, Kenya, Zambia, Malawi, Australia.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2013 đến 2021 (lấy mốc bắt đầu từ Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg), các số liệu khảo sát thực địa được cập nhật đến năm 2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan hệ thống nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến hợp đồng nông sản, chuỗi giá trị và mối liên kết doanh nghiệp - nông dân theo các nhóm chủ đề:
Nghiên cứu quốc tế về hợp đồng nông sản và chuỗi mía đường
Các nghiên cứu của Sporleder (1992), Glover (1987), Gulati và cộng sự (2007) khẳng định hợp đồng liên kết là công cụ điều phối sản xuất, phân phối và kiểm soát chất lượng nhằm kết hợp lợi thế quy mô lớn của doanh nghiệp với lợi thế quản lý của kinh tế tiểu nông. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2007, 2016) và Berdegué và cộng sự (2008) chỉ ra nông nghiệp hợp đồng giúp giảm chi phí giao dịch, bảo đảm nguồn cung ổn định và hỗ trợ giảm nghèo nông thôn. FAO (2008) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tổ chức nông dân thành hợp tác xã để giảm chi phí giao dịch cho doanh nghiệp. G. Chahal (2008) tại Ấn Độ chỉ ra các rào cản về nợ quá hạn và thiếu liên kết giữa các hộ. Nghiên cứu của Isabelle Delforge (2007), Wimonkan Kosumas (2006), Sukh Singh (2005) tại Thái Lan và Hongdong Guo, Robert W. Jolly, Jianhua Zhu (2005) tại Trung Quốc nhấn mạnh vai trò kiến tạo, giám sát của nhà nước thông qua mô hình "doanh nghiệp đầu rồng" (Dragon Head Firms).
Về chuỗi mía đường quốc tế, CISANET (2013) phân tích chuỗi mía đường tại Malawi; báo cáo của Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản Australia (2006) mô tả chuỗi cung ứng đường bền vững; Thomson Kalinda và Brian Chisanga nghiên cứu chuỗi mía đường Zambia; Cororaton (2013) đánh giá tác động giảm thuế ATIGA đối với ngành đường Philippines từ năm 2010. Báo cáo MAFAP của FAO/OECD (2013) tại Kenya chỉ ra chi phí thu hoạch và vận chuyển chiếm tới 45% tổng chi phí của nông dân trồng mía, đồng thời khuyến nghị cải thiện phân phối lợi ích chuỗi.
Nghiên cứu trong nước về liên kết nông nghiệp và ngành mía đường
Các tác giả Nguyễn Văn Sánh (2009, 2011, 2012), Võ Tòng Xuân (2007), Hoàng Thị Chỉnh (2014), Vũ Trọng Khải (2012), Đỗ Kim Chung (2012), Bùi Bằng Đoàn và Bùi Thị Mai Linh (2013), Phạm Xuân Cần (2012), Trần Văn Hiếu (2012), Trần Đức Viên và cộng sự (2015), Nguyễn Đỗ Anh Tuấn (2006), Lưu Tiến Dũng và cộng sự (2015) tập trung làm rõ vai trò "bốn nhà", xây dựng niềm tin, tác động của chính sách và rào cản manh mún đất đai. Các nghiên cứu theo từng ngành hàng gồm lúa gạo (Lê Cảnh Dũng và cs, 2019; Trần Minh Vĩnh & Phạm Vân Đình, 2014; Trần Công Thắng và cs, 2013; Đào Thị Hoàng Mai và cs, 2013; Nguyễn Mạnh Hùng, 2010), xoài (Trương Hồng Võ Tuấn Kiệt, 2019), cà phê (Đỗ Thị Nga & Lê Đức Niêm, 2016), chè (Tô Linh Hương, 2017; MCG, 2014; Nguyễn Hữu Thọ và cs, 2013), dừa (Nguyễn Văn Nên, 2015), tỏi - nho (Nguyễn Phú Sơn và cs, 2012), tôm (Phùng Giang Hải, 2015). Nghiên cứu của MCG (2014) về chè Shan chỉ ra cơ cấu lợi nhuận: người chế biến hưởng 42,4%, bán lẻ hưởng 32,1%, người trồng hưởng 24,8%, thu gom hưởng 0,6%.
Về chuỗi mía đường trong nước:
- Phạm Lê Duy Nhân (2014) và Ma Ngọc Ngà (2016) phân tích bối cảnh ngành đường và áp lực gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC).
- Hồ Cao Việt (2013) sử dụng mô hình SWOT chỉ ra thực trạng tối đa hóa lợi nhuận cục bộ và thiếu chia sẻ công bằng giữa các tác nhân.
- Lưu Ngọc Liêm (2012) nghiên cứu chuỗi mía đường tại Đồng Nai.
- Lê Hữu Ảnh và cộng sự (2011) khảo sát tại Sơn La chỉ ra 4 hình thức hợp đồng, trong đó tỷ lệ lãi ròng nông dân nhận được dao động từ 1,7% (giao khoán đất) đến 24,1% (đầu tư và thu mua).
- Lưu Thanh Đức Hải (2009), Huỳnh Văn Tùng và Lưu Thanh Đức Hải (2015) phân tích chi phí, lợi nhuận chuỗi mía đường Đồng bằng sông Cửu Long và đề xuất 5 nhóm giải pháp vùng nguyên liệu, giống, thương hiệu, kiểm soát đường lậu.
- Lê Văn Tam (2013) và Lê Tú Dinh (2011) tổng kết bài học thành công từ việc hài hòa lợi ích tại Công ty Cổ phần Mía đường Lam Sơn (LASUCO).
Khoảng trống nghiên cứu luận án xác định
- Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở cấp độ nghiên cứu trường hợp riêng lẻ tại một số địa phương (Sơn La, Thanh Hóa, Khánh Hòa, ĐBSCL), thiếu vắng nghiên cứu tổng hợp và phân tích chuyên sâu về liên kết chuỗi giá trị mía đường trên phạm vi toàn quốc.
- Thiếu các nghiên cứu đánh giá toàn diện tác động của bối cảnh hội nhập kinh tế mới, đặc biệt là việc thực thi cam kết đưa thuế suất nhập khẩu đường về 0% theo Hiệp định ATIGA từ năm 2020.
- Về phương pháp, luận án kết hợp cách tiếp cận chuỗi giá trị, phân tích thể chế, đánh giá chi phí - lợi nhuận cùng điều tra định lượng bằng bảng hỏi (100 hộ nông dân) và phỏng vấn sâu doanh nghiệp, cán bộ quản lý địa phương nhằm tạo nguồn dữ liệu thực chứng cập nhật.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Liên kết kinh tế: Theo Quyết định 38-HĐBT ngày 10/4/1989 và Cục Kinh tế hợp tác (2016), liên kết kinh tế là sự phối hợp tự nguyện giữa các đơn vị kinh tế nhằm chia sẻ mục đích chung. Vận hành liên kết dựa trên 3 nguyên tắc nền tảng:
- Nguyên tắc tự nguyện và thỏa thuận: Đảm bảo tính độc lập, không áp đặt, tạo tính khả thi cho hợp đồng.
- Nguyên tắc phối hợp: Tối thiểu hóa chi phí và rủi ro vận hành.
- Nguyên tắc chia sẻ lợi ích và rủi ro: Tạo động lực kinh tế và đảm bảo tính bền vững lâu dài.
- Chuỗi giá trị nông nghiệp: Dựa trên định nghĩa của Webber (2010) và UNIDO (2011), chuỗi giá trị mô tả chuỗi hoạt động từ cung ứng đầu vào, sản xuất nông nghiệp, chế biến đến phân phối sản phẩm cuối cùng. Trong đó, liên kết doanh nghiệp - nông dân là mối liên kết dọc giữa người sản xuất nguyên liệu và nhà máy chế biến/tiêu thụ.
- Các chủ thể trong liên kết:
- Doanh nghiệp: Chủ thể dẫn dắt, có lợi thế về vốn, công nghệ, thị trường; chịu trách nhiệm cung ứng vật tư, hướng dẫn kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm và quản trị chuỗi.
- Nông dân: Lực lượng sản xuất trực tiếp, quy mô nhỏ lẻ, yếu thế về vốn và khả năng tiếp cận thị trường; có nhu cầu liên kết để bảo đảm đầu ra và giá bán ổn định.
- Chủ thể trung gian: Hợp tác xã, tổ hợp tác (đại diện nông dân đàm phán hợp đồng theo Luật Hợp tác xã 2012) và thương lái (vừa kết nối thu gom nhưng vừa có thể gây nhiễu loạn thông tin thị trường).
- Đối tác công (Nhà nước, chính quyền địa phương): Thiết lập hành lang pháp lý, hỗ trợ kỹ thuật, chứng thực hợp đồng và hòa giải tranh chấp.
| Hình thức liên kết dọc (Eaton & Shepherd, 2001) |
Đặc điểm vận hành |
Ưu điểm |
Hạn chế |
| Mô hình phi chính thức (Informal model) |
Mua bán theo mùa vụ, không có đầu tư ứng trước, thỏa thuận mua - bán đơn giản. |
Không tốn chi phí đầu tư tài chính/công nghệ, tính linh hoạt cao. |
Không kiểm soát được chất lượng, giống; rủi ro gián đoạn nguồn cung. |
| Mô hình trung gian (Intermediary model) |
Doanh nghiệp liên kết thông qua tổ chức nông dân (HTX/THT) hoặc đại lý thu mua. |
Giảm chi phí giao dịch và quản lý cho doanh nghiệp. |
Kiểm soát sản xuất gián tiếp, quan hệ với hộ nông dân mờ nhạt. |
| Mô hình đa cực (Multipartite model) |
Doanh nghiệp mua sản phẩm; vật tư, tín dụng, dịch vụ kỹ thuật do bên thứ ba cung cấp. |
Chia sẻ chi phí đầu tư và rủi ro giữa nhiều chủ thể. |
Quản lý phức tạp, đòi hỏi điều phối nhiều bên, chi phí vận chuyển cao. |
| Mô hình tập trung (Centralized model) |
Doanh nghiệp trực tiếp cung ứng vật tư, kỹ thuật, giám sát canh tác và bao tiêu sản phẩm. |
Mức độ kiểm soát cao về sản lượng và chất lượng sản phẩm. |
Đòi hỏi vốn đầu tư lớn vào hạ tầng, logistics và nhân lực quản lý. |
| Mô hình trang trại hạt nhân (Nucleus-estate model) |
Doanh nghiệp có vùng đồn điền riêng kết hợp hợp đồng gia công với các hộ nông dân xung quanh. |
Đảm bảo lượng nguyên liệu tối thiểu cho nhà máy, kiểm soát chuỗi cung ứng chặt chẽ. |
Rủi ro tập trung vốn lớn, tính linh hoạt thấp trong lựa chọn nguồn cung. |
Cách tiếp cận nghiên cứu
Luận án kết hợp 4 cách tiếp cận:
- Tiếp cận thể chế và quản lý kinh tế: Đánh giá tác động của hệ thống cơ chế, chính sách của Nhà nước và vai trò điều phối của các chủ thể công - tư.
- Tiếp cận chuỗi giá trị: Tập trung vào mắt xích trọng tâm giữa nông dân sản xuất mía nguyên liệu và nhà máy chế biến đường.
- Tiếp cận năng suất, hiệu quả: Đánh giá các chỉ tiêu năng suất nông nghiệp, chữ đường (CCS) và hiệu quả phân phối lợi ích giữa các khâu.
- Tiếp cận kinh tế vi mô: Xem xét hành vi kinh tế, chi phí và lợi ích của từng hộ nông dân và doanh nghiệp chế biến.
Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn (Desk research): Thu thập dữ liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hiệp hội Mía đường Việt Nam (VSSA), Viện Nghiên cứu Mía đường (SRI), các báo cáo của Sở ngành địa phương và văn bản quy phạm pháp luật (Quyết định 80/2002/QĐ-TTg, Quyết định 62/2013/QĐ-TTg, Nghị định 98/2018/NĐ-CP).
- Phương pháp phân tích chính sách: Đánh giá các rào cản thực thi và khoảng cách chính sách về hỗ trợ liên kết.
- Phương pháp nghiên cứu định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu đại diện lãnh đạo của 02 nhà máy đường tại Khánh Hòa, các nông hộ trồng mía ngẫu nhiên và cán bộ quản lý địa phương (Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở Khoa học và Công nghệ, Chi cục Phát triển nông thôn, trạm khuyến nông).
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Khảo sát bằng bảng hỏi đối với 100 hộ nông dân trồng mía được lựa chọn ngẫu nhiên tại 2 vùng trọng điểm mía của tỉnh Khánh Hòa gồm huyện Diên Khánh và thị xã Ninh Hòa. Cuộc khảo sát chia làm 2 đợt: đợt 1 vào tháng 1/2018 và đợt 2 vào tháng 3/2019.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study): Phân tích sâu thực địa Khánh Hòa (nơi diện tích mía từng đạt 18.500 ha với sản lượng gần 1 triệu tấn/năm cho 2 nhà máy đường, nhưng gặp suy thoái do hạn hán và sức ép mở cửa thị trường); so sánh đối chiếu với mô hình thành công của Công ty Cổ phần Mía đường Lam Sơn (Thanh Hóa) và các trường hợp đổ vỡ vùng nguyên liệu tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này tổng kết có hệ thống các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về hợp đồng nông sản, chuỗi giá trị nông sản và chuỗi mía đường. Tác giả phân tích các bài học quốc tế về vai trò điều tiết của nhà nước, chính sách bảo hộ và mở cửa thị trường tại Thái Lan, Philippines, Kenya, Australia, Malawi, Zambia. Đồng thời, chương 1 rà soát các nghiên cứu trong nước về liên kết "bốn nhà", mô hình cánh đồng lớn, các chuỗi lúa gạo, chè, cà phê, dừa, thủy sản và các công trình về ngành mía đường của Lưu Thanh Đức Hải, Lê Hữu Ảnh, Hồ Cao Việt, Lê Văn Tam. Từ đó, tác giả xác lập 3 khoảng trống nghiên cứu về: phạm vi tổng hợp chuỗi mía đường toàn quốc, bối cảnh thực thi Hiệp định ATIGA đưa thuế suất về 0%, và việc bổ sung dữ liệu điều tra thực chứng sơ cấp.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất và tiêu thụ nông sản
Chương 2 làm rõ khung lý thuyết về liên kết kinh tế trong nông nghiệp. Tác giả phân tích bản chất, vai trò và 3 nguyên tắc vận hành của liên kết (tự nguyện - thỏa thuận, phối hợp, chia sẻ lợi ích - rủi ro); phân định vị trí và động cơ kinh tế của 4 nhóm chủ thể (doanh nghiệp, nông dân, tổ chức trung gian HTX/THT/thương lái, và cơ quan quản lý nhà nước). Chương này hệ thống hóa các hình thức liên kết ngang (tổ đổi công, tổ hợp tác, hợp tác xã kiểu mới theo Luật HTX 2012) và liên kết dọc theo 4 hình thức hợp đồng quy định tại Quyết định 80/2002/QĐ-TTg cùng 5 mô hình liên kết lý thuyết của Eaton và Shepherd (2001). Đồng thời, chương 2 đúc kết kinh nghiệm quốc tế và kinh nghiệm thực tiễn từ các chuỗi nông sản Việt Nam để rút ra bài học cho chuỗi mía đường.
Chương 3: Thực trạng liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất và tiêu thụ mía đường ở Việt Nam
Chương 3 trình bày bức tranh toàn diện về thực trạng liên kết chuỗi mía đường giai đoạn 2013–2021:
- Phân tích chuỗi cung ứng từ khâu làm đất, xuống giống, chăm sóc, thu hoạch, vận chuyển nguyên liệu đến chế biến và phân phối đường.
- Đánh giá cơ chế ký kết và thực thi hợp đồng bao tiêu, cung ứng vật tư, tạm ứng vốn và kiểm định chữ đường (CCS).
- Phản ánh thực trạng bất bình đẳng trong phân chia giá trị: người trồng mía cung cấp 80% nguyên liệu nhưng chỉ hưởng dưới 11% lợi nhuận chuỗi.
- Sử dụng dữ liệu khảo sát 100 hộ nông dân và 2 nhà máy đường tại Khánh Hòa (giai đoạn 2018–2019), so sánh với mô hình Lam Sơn (Thanh Hóa) và Đồng bằng sông Cửu Long để chỉ ra nguyên nhân vi phạm cam kết hợp đồng: giá thu mua cứng nhắc, chậm thích ứng với biến động thị trường, thương lái tranh mua khi khan hiếm nguyên liệu, và việc nông dân tự ý phá vỡ hợp đồng chuyển sang cây trồng khác khi hiệu quả kinh tế sụt giảm.
- Đánh giá tác động tiêu cực của Hiệp định ATIGA khi thuế nhập khẩu về 0% làm gia tăng áp lực cạnh tranh với đường Thái Lan, khiến nhiều nhà máy hoạt động cầm chừng hoặc đối diện nguy cơ giải thể.
Chương 4: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất và tiêu thụ mía đường ở Việt Nam
Dựa trên bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và các phát hiện thực tiễn, chương 4 đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ:
- Xây dựng quan điểm, định hướng phát triển liên kết chuỗi giá trị mía đường bền vững, lấy hài hòa lợi ích làm trọng tâm.
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý nhà nước: cụ thể hóa chính sách hỗ trợ theo Nghị định 98/2018/NĐ-CP, xây dựng chế tài xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế nông sản, thiết lập cơ chế giám sát chất lượng và chữ đường minh bạch, tăng cường các biện pháp phòng vệ thương mại chống gian lận và đường nhập lậu.
- Giải pháp đối với doanh nghiệp chế biến: cải tiến phương thức định giá mía linh hoạt theo giá thị trường đường, xây dựng quỹ dự phòng rủi ro chia sẻ với nông dân, hỗ trợ cơ giới hóa đồng bộ và đầu tư công nghệ giống có năng suất, chữ đường cao.
- Giải pháp đối với nông dân và tổ chức trung gian: đẩy mạnh dồn điền đổi thửa, củng cố hợp tác xã/tổ hợp tác để nâng cao năng lực đàm phán và giám sát thực hiện hợp đồng.
- Tăng cường vai trò cầu nối, hỗ trợ khuyến nông và xúc tiến thương mại của các cơ quan chuyên môn địa phương.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về liên kết dọc giữa doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi giá trị nông sản đặc thù (ngành hàng có tính sinh học cao và yêu cầu chế biến cấp thiết trong vòng 16 giờ sau thu hoạch).
- Vận dụng và kiểm chứng các mô hình liên kết lý thuyết (Eaton & Shepherd, 2001; chuỗi giá trị UNIDO, World Bank) vào điều kiện kinh tế nông nghiệp chuyển đổi tại Việt Nam.
- Xác lập khung phân tích toàn diện đánh giá mối quan hệ kinh tế vi mô giữa nhà máy đường và nông hộ trong điều kiện mở cửa thị trường.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng liên kết chuỗi mía đường Việt Nam giai đoạn 2013–2021, làm rõ nghịch lý phân chia lợi ích (nông dân chiếm 80% nguyên liệu nhưng nhận dưới 11% lợi nhuận) dẫn đến tình trạng nông dân bỏ mía và nhà máy đóng cửa.
- Cung cấp dữ liệu thực chứng sơ cấp từ cuộc điều tra 100 hộ trồng mía và phỏng vấn sâu tại tỉnh Khánh Hòa, chỉ ra các nguyên nhân vi phạm hợp đồng và những điểm nghẽn trong quan hệ giữa nhà máy - thương lái - nông dân.
- Đánh giá tác động thực tế của việc thực thi Hiệp định ATIGA (thuế suất về 0%) đối với khả năng tồn tại và cấu trúc liên kết của ngành mía đường.
- Đề xuất hệ thống giải pháp khả thi, có phân định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương, doanh nghiệp chế biến và hộ nông dân nhằm duy trì và phát triển vùng nguyên liệu mía đường bền vững.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Dữ liệu điều tra sơ cấp bằng bảng hỏi được giới hạn trong phạm vi 100 hộ nông dân tại 2 địa phương của tỉnh Khánh Hòa (Diên Khánh và Ninh Hòa) với thời điểm khảo sát cập nhật đến tháng 3/2019; chưa thể bao quát toàn bộ các vùng sinh thái sản xuất mía đường trên cả nước (như Tây Bắc, Bắc Trung Bộ hay Tây Nam Bộ) bằng số liệu sơ cấp diện rộng.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô điều tra định lượng tại nhiều vùng nguyên liệu trọng điểm trên toàn quốc sau năm 2020 để đánh giá đầy đủ, nhiều chiều hơn các tác động dài hạn của Hiệp định ATIGA và các biện pháp phòng vệ thương mại đối với ngành mía đường Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:
- Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Nông nghiệp & PTNT các tỉnh trồng mía trong việc hoạch định chính sách hỗ trợ liên kết theo Nghị định 98/2018/NĐ-CP, xây dựng quy hoạch vùng nguyên liệu và thiết lập cơ chế giám sát thực thi hợp đồng nông sản.
- Hiệp hội Mía đường Việt Nam (VSSA) và các doanh nghiệp chế biến đường: Tham khảo các mô hình liên kết thành công (như Lam Sơn), xây dựng chính sách thu mua - tạm ứng vật tư linh hoạt, minh bạch phương pháp đo chữ đường (CCS) và phân chia lợi nhuận công bằng để giữ vững vùng nguyên liệu.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn sử dụng làm tư liệu nghiên cứu về phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị, phân tích thể chế và nghiên cứu trường hợp trong nông nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao khâu thu hoạch và vận chuyển mía nguyên liệu lại có yêu cầu nghiêm ngặt về thời gian?
Hàm lượng chữ đường (CCS) trong cây mía phụ thuộc chặt chẽ vào thời điểm thu hoạch và thời gian vận chuyển đến nhà máy. Chất lượng mía nguyên liệu chỉ được đảm bảo tốt nhất nếu được vận chuyển về nhà máy chế biến trong thời gian tối đa 16 giờ sau khi chặt. Quá thời gian này, hàm lượng đường suy giảm nhanh, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất thu hồi đường của nhà máy và giá trị thanh toán của nông dân.
2. Thực trạng phân chia lợi ích trong chuỗi giá trị mía đường Việt Nam diễn ra như thế nào?
Sự phân chia lợi ích giữa các khâu trong chuỗi sản xuất mía - đường đang mất cân đối nghiêm trọng và phần thiệt thòi luôn thuộc về người nông dân. Mặc dù người trồng mía cung ứng khoảng 80% nguyên liệu đầu vào để sản xuất ra đường, nhưng lợi ích mà họ được hưởng lại thấp nhất, chiếm chưa đến 11% lợi nhuận trung bình toàn chuỗi mía đường.
3. Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA) tạo ra thách thức gì cho ngành mía đường?
Từ đầu năm 2020, theo cam kết của Hiệp định ATIGA, thuế suất nhập khẩu mặt hàng đường từ các nước ASEAN vào Việt Nam giảm về 0%. Do năng lực cạnh tranh thấp sau nhiều năm được bảo hộ, ngành đường Việt Nam chịu sức ép cạnh tranh gay gắt từ đường nhập khẩu giá rẻ (đặc biệt từ Thái Lan), dẫn đến dự báo khoảng một nửa số nhà máy đường trong nước có nguy cơ phải đóng cửa.
4. Dữ liệu khảo sát thực địa sơ cấp của luận án được thu thập ở đâu và với quy mô mẫu như thế nào?
Dữ liệu sơ cấp được thu thập tại tỉnh Khánh Hòa thông qua:
- Điều tra bảng hỏi đối với 100 hộ nông dân trồng mía (lựa chọn ngẫu nhiên tại huyện Diên Khánh và thị xã Ninh Hòa) qua 2 đợt vào tháng 1/2018 và tháng 3/2019.
- Phỏng vấn sâu đại diện lãnh đạo 02 nhà máy đường tại Khánh Hòa và cán bộ quản lý thuộc Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở Khoa học & Công nghệ, Chi cục Phát triển nông thôn và trạm khuyến nông địa phương.
5. Luận án đề cập đến những mô hình liên kết dọc lý thuyết nào theo Eaton và Shepherd (2001)?
Luận án dẫn chiếu 5 mô hình liên kết dọc: (1) Mô hình phi chính thức (Informal model), (2) Mô hình trung gian (Intermediary model), (3) Mô hình đa cực (Multipartite model), (4) Mô hình tập trung (Centralized model), và (5) Mô hình đồn điền/trang trại hạt nhân (Nucleus-estate model).
Kết luận
Luận án "Liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất và tiêu thụ mía đường ở Việt Nam" là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Quản lý kinh tế, giải quyết vấn đề cấp thiết về củng cố mối liên kết chuỗi giá trị nông sản trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Thông qua sự kết hợp giữa khung lý thuyết kinh tế thể chế, chuỗi giá trị và dữ liệu điều tra thực chứng tại tỉnh Khánh Hòa cùng các vùng so sánh, luận án đã làm rõ các nguyên nhân cốt lõi gây suy yếu liên kết nông dân - nhà máy đường, đặc biệt là tình trạng bất bình đẳng trong phân chia lợi ích và tác động từ việc cắt giảm thuế quan theo Hiệp định ATIGA. Các giải pháp do luận án đề xuất mang tính hệ thống, gắn kết trách nhiệm giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nông dân, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng nhằm tái cơ cấu và nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành mía đường Việt Nam.