Liên Kết Giữa Doanh Nghiệp và Nông Dân trong Sản Xuất và Tiêu Thụ Mía Đường ở Việt Nam

Khám phá mối liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất và tiêu thụ mía đường tại Việt Nam, thúc đẩy phát triển bền vững.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

2022

162
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài luận án

0.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận án

0.2.1. Mục tiêu tổng quát

0.2.2. Mục tiêu cụ thể

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án

0.4. Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và khung phân tích của đề tài luận án

0.4.1. Cách tiếp cận

0.4.2. Phương pháp nghiên cứu

0.4.3. Cơ sở dữ liệu, nguồn tài liệu

Tài liệu này không có tiêu đề cụ thể, nhưng nó có thể liên quan đến các vấn đề phát triển nông nghiệp và sản xuất nông sản. Nội dung chính có thể bao gồm các chiến lược và chính sách nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, cải thiện đời sống nông dân và phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo một số tài liệu sau đây. Luận văn tốt nghiệp phát triển sản xuất sản phẩm cây hàng năm của nông hộ xã Đức Quang huyện Hạ Lang tỉnh Cao Bằng cung cấp cái nhìn sâu sắc về sản xuất cây hàng năm và những thách thức mà nông dân phải đối mặt. Bên cạnh đó, Luận văn chính sách việc làm khoa học quản lý nông dân thu hồi đất nông nghiệp Hà Nội sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chính sách liên quan đến việc làm và quản lý đất đai trong nông nghiệp. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững của tỉnh Thái Bình sẽ mang đến những thông tin quý giá về chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn nắm bắt các khía cạnh khác nhau của phát triển nông nghiệp mà còn mở ra cơ hội để bạn tìm hiểu sâu hơn về các chính sách và thực tiễn trong lĩnh vực này.

Trích đoạn nội dung tài liệu

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI -------------------------- LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ NÔNG DÂN TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ MÍA ĐƯỜNG Ở VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ Hà Nội, năm 2022 1 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI -------------------------- LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ NÔNG DÂN TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ MÍA ĐƯỜNG Ở VIỆT NAM Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 9.10 LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: Hà Nội, năm 2022 2 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. 3 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT AFTA Hiệp định thương mại tự do khu vực Đông Nam Á ASEAN Khu vực Đông Nam Á ATIGA Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN Commercial Cane Sugar - Chữ đường (tỷ lệ đường trong cây CCS mía) DN Doanh nghiệp HTX Hợp tác xã NN Nông nghiệp ND Nông dân PTNT Phát triển nông thôn WTO Tổ chức Thương mại thế giới NMĐ Nhà máy đường TMN Tấn mía/ngày FAO Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế EU Liên minh châu Âu FTA Hiệp định thương mại tự do 4 USDA Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ SRI Viện nghiên cứu mía đường VSSA Hiệp hội mía đường Việt Nam QĐ Quyết định TTg Thủ tướng Chính phủ THT Tổ hợp tác MARD Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn USD Đô la Mỹ VND Việt Nam đồng SWOT Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức GAP Thực hành nông nghiệp tốt 5 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc Đổi mới, nông nghiệp nông thôn Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên ngành nông nghiệp Việt Nam hiện đang đối mặt với các thách thức mới về chất lượng nông sản và phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới và tác động của biến đổi khí hậu. Nông sản chất lượng thấp, nuôi trồng xong không có đầu ra dẫn đến sự bế tắc trong sản xuất, tiêu thụ. Trong một chuỗi giá trị nông sản, khâu sản xuất là một quá trình hoàn toàn mang tính sinh học. Để có được sản phẩm đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, con người phải kiểm soát chặt chẽ toàn bộ quá trình sản xuất trên đồng ruộng, chăm sóc từng cá thể cây/con một cách đúng lúc và đúng kỹ thuật. Nông dân là chủ thể đảm đương tốt nhất các yêu cầu này. Tuy nhiên, các khâu còn lại của chuỗi giá trị, như chế biến, bảo quản, tiêu thụ nông sản đều vượt quá tầm kiểm soát của nhà nông. Nhà nông không thể một mình giải quyết các vấn đề mà kinh tế thị trường đặt ra như việc tiêu thụ, thương hiệu sản phẩm, công nghệ mới và vốn đầu tư. Chỉ doanh nghiệp mới có thể giải quyết tốt những vấn đề đó, vì lợi ích của cả nhà nông và doanh nghiệp. Thực tế này đòi hỏi phải có sự liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất nông nghiệp, từ đầu vào tới đầu ra, từ cây/con giống tới nuôi trồng và tiêu thụ. Đây không phải là vấn đề mới đối với nông nghiệp thế giới nói chung và Việt nam nói riêng. Có nhiều hình thức liên kết giữa khâu sản xuất nông nghiệp với khâu chế biến, tiêu thụ sản phẩm, từ đơn giản như việc “bắt tay” hay “hứa bằng lời nói” dựa trên sự tin cậy và uy tín giữa các ông chủ xưa kia, tới việc ký kết hợp đồng được đảm bảo bằng pháp luật, hay phức tạp hơn là hình thành tập đoàn, công ty cổ phần nông – công – thương nghiệp mà trong đó nông dân là một cổ đông. Ở nền nông nghiệp Việt Nam, khi 6 hộ gia đình nông dân vẫn còn là chủ thể kinh doanh chủ yếu, thì liên kết với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng là hình thức thích hợp. Chủ trương khuyến khích liên kết sản xuất nông nghiệp với chế biến và tiêu thụ nông sản theo hợp đồng được Chính phủ đề ra từ cách đây 20 năm tại Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ và được chỉ đạo tăng cường tại Chỉ thị số 25/2008/CT-TTg ngày 25/6/2008. Mười năm sau, chủ trương này tiếp tục được thúc đẩy với Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg về khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn. Năm 2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 98/2018/NĐ- CP về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm, trong đó nêu rõ các chính sách ưu đãi, hỗ trợ như hỗ trợ 100% chi phí tư vấn xây dựng liên kết, hỗ trợ 30% vốn đầu tư máy móc trang thiết bị; xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ liên kết; hỗ trợ khuyến nông, đào tạo, tập huấn và giống, vật tư, bao bì, nhãn mác sản phẩm. Tuy nhiên, cho đến nay cả cơ sở chế biến lẫn người nông dân sản xuất ra nông sản nguyên liệu đều không mấy mặn mà. Nguyên nhân chính là do quá trình thực hiện chưa có những cơ chế chia sẻ khó khăn và lợi ích một cách hợp lý, cũng như chưa có thể chế pháp lý và hành chính đảm bảo cho việc thực thi hợp đồng, cho nên khi có lợi, bên này có thể bỏ rơi bên kia. Phá vỡ hợp đồng, chạy theo thị trường là một trong những vấn đề tồn tại lớn nhất đối với liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong hầu như mọi chuỗi nông sản ở Việt Nam hiện nay. Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện nay việc liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong hầu hết các ngành hàng nông sản còn mờ nhạt và thiếu tính bền vững. Tỷ lệ nông sản sản xuất và tiêu thụ thông qua cơ chế liên kết nông dân và doanh nghiệp còn quá thấp. Phần lớn các doanh nghiệp chế biến chưa thiết lập được nguồn nguyên liệu ổn định, thường sản xuất đến đâu thu 7 mua đến đó. Vì vậy, khi khan hiếm nguyên liệu thường khó sản xuất đủ theo nhu cầu đặt hàng của đối tác, thậm chí dẫn đến phá sản. Ngược lại, thực tế cho thấy không ít doanh nghiệp chế biến nông sản cứng nhắc trong quá trình vận hành cơ chế thu mua sản phẩm của nông dân nên khó có điểm chung trong phân chia lợi ích. Chẳng hạn có những hợp đồng đã ký với nông dân với giá từ niên vụ trước nhưng thực tế thị trường giá đã tăng lên nhiều lần nhưng doanh nghiệp vẫn không chịu thỏa hiệp, kiên quyết áp giá cũ, khiến nông dân bức xúc, phá hợp đồng, bán cho thương lái theo giá thị trường. Người nông dân thường có lợi trước mắt thì tập trung đầu tư, khi hiệu quả thấp là sẵn sàng chuyển đổi sang cây trồng, vật nuôi khác hiệu quả cao hơn. Thực trạng này diễn ra khá phổ biến nhiều năm qua, đẩy một số nhà máy vào cảnh sản xuất đình đốn, thậm chí còn bị đóng cửa, phá sản. Mía là cây nông sản đặc biệt, hàm lượng đường trong mía phụ thuộc rất nhiều vào thời điểm thu hoạch và thời điểm nhà máy thu gom. Chất lượng mía nguyên liệu được đảm bảo tốt nhất nếu được vận chuyển ngay sau khi thu hoạch (tối đa là 16 giờ sau khi cây mía được chặt). So với nhiều loại nông sản khác, mía đường có sự liên kết tương đối rõ ràng giữa sản xuất và tiêu thụ. Các nhà máy đường và nông dân có mối quan hệ hữu cơ đôi bên cùng có lợi. Vì vậy, việc liên kết hài hòa giữa nhà máy và nông dân đối với loại cây nguyên liệu này là vô cùng cần thiết. Song nhiều năm qua mía đường cũng chính là một trong những ngành hàng nông sản xảy ra tình trạng liên kết yếu kém giữa nông dân trồng mía và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ. Mặc dù một số doanh nghiệp đã thúc đẩy việc liên kết với nông dân, mở rộng vùng nguyên liệu nhưng nhìn chung liên kết trong chuỗi sản xuất mía đường (nhà máy - nông dân) còn rất lỏng lẻo, thiếu tính bền vững, có thể bị phá vỡ bất cứ lúc nào. Đặc biệt, chia sẻ lợi ích giữa các khâu trong chuỗi sản 8 xuất mía - đường đang mất cân đối nghiêm trọng, thiệt thòi luôn thuộc về phía nông dân. Trong khi người trồng mía cung ứng khoảng 80% mía để sản xuất ra đường, thì lợi ích được hưởng lại thấp nhất, chưa đến 11% lợi nhuận trung bình từ mía và đường1. Do vấn đề phân chia lợi ích không công bằng, giá bán mía nguyên liệu thấp, hợp đồng liên kết giữa các nhà máy và nông dân không được đảm bảo hiệu lực dẫn đến việc nông dân trồng mía ở nhiều địa phương, đặc biệt là vùng ĐBSCL đã bỏ cây trồng này chuyển sang cây trồng khác. Đối với nhiều địa phương, mía được coi là nguồn sinh kế chính, là cây “xóa đói giảm nghèo” cho nông dân. Chính vì vậy, khi xảy ra tình trạng này sẽ dấn đến nhiều hệ lụy không chỉ đối với các nhà máy đường mà còn đối với cả các ngành chức năng và chính quyền địa phương. Trong nhiều thập kỷ qua, ngành mía đường Việt Nam đã được bảo hộ mạnh với việc duy trì hạn ngạch nhập khẩu và áp dụng thuế nhập khẩu ở mức cao. Mặc dù được bảo hộ, nhưng mía đường vẫn liên tục là ngành có năng lực cạnh tranh thấp, vẫn gặp khó khăn cả về phía doanh nghiệp, nông dân trong khi người tiêu dùng trong nước vẫn phải sử dụng đường giá cao. Theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), đầu năm 2020, thuế suất cho mặt hàng đường nhập khẩu từ các nước ASEAN giảm về 0%. Với thực trạng Việt Nam hiện nay thì sau khi tham gia ATIGA, dự kiến sẽ có khoảng một nửa số nhà máy đường đóng cửa, số còn lại nhờ đầu tư mạnh về nguồn lực sẽ vẫn có cơ hội phát triển. Lợi thế thị trường mở rộng hơn, nhưng áp lực cạnh tranh về giá thành với các nước sản xuất đường trong khu vực càng căng thẳng. Việc thực thi cam kết này sẽ khiến ngành mía đường Việt Nam vốn dĩ đang gặp nhiều khó khăn sẽ chịu áp lực cạnh tranh lớn hơn do sức ép từ đường nhập khẩu từ các 1 https://congthuong.vn/lien-ket-chuoi-san-xuat-mia-duong-long-leo-bat-binh-dang-171113.html 9 nước ASEAN, đặc biệt là Thái Lan.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ