Chương 1: Đại cương về lịch. Chương 2: Lịch và kết cấu lịch của người Thái Đen ở Sơn La. Chương 3: Cách tính lịch và sử dụng lịch của người Thái Đen. Chương 4: Lịch và nông lịch của người Thái ở Sơn La hiện nay.
Chương 5: Lịch và nông lịch của người Thái Đen ở Sơn La trong sự so sánh với lịch của người Thái Trắng ở Mai Châu, Hòa Bình. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I. ĐẠI CƢƠNG VỀ LỊCH 1. Khái niệm lịch và nguồn gốc của lịch Mỗi sự kiện, biến cố xảy ra trong tự nhiên hay xã hội đều diễn ra trong một không gian và thời gian nhất định và ghi chép thời gian như một nhu cầu từ rất xa xưa của con người.
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam thì lịch là: “Lịch là một hệ thống tổ chức, ghi chép thời gian theo cách thuận tiện cho việc điều tiết các công việc dân sự, các nghi lễ tôn giáo cũng như cho các mục đích lịch sử và khoa học”. Ngày nay, từ lịch trong tiếng anh là “Calendar”, từ này bắt nguồn từ chữ Caledae hay Kaledae trong tiếng La tinh có nghĩa là ngày đầu tiên của tháng La mã, ngày người ta công bố thời biểu tổ chức các phiên chợ, lễ hội hay các sự kiện khác [1, tr. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn thì có một định nghĩa hết sức ngắn gọn: “Lịch là phép quy định những khoảng thời gian có những tên quen thuộc: năm – tháng – ngày” [10, tr.TS Lê Thành Lân định nghĩa: “Lịch là một hệ thống ghi các khoảng thời gian dài như ngày, tuần lễ, tháng, mùa, quý, năm, thập niên, thế kỉ, thiên niên kỉ…các khoảng thời gian ngắn hơn như giờ, phút, giây…thì được đo bằng đồng hồ [18, tr. Có thể nói: Lịch là hệ thống đơn vị dùng để đo đếm thời gian theo một phương pháp nhất định, lấy các hiện tương thiên văn làm chuẩn mực cơ bản để tính toán, nhằm phản ánh các quy luật, nhịp điệu của tự nhiên, phục vụ đời sống và xã hội.
Như vậy, lịch không phải là bản thân thời gian mà là thước đo thời gian. Nó chỉ ra vị trí vận động trên quỹ đạo của Trái đất giữa các thiên thể và mối quan hệ phức tạp giữa chúng, thông qua sự biểu hiện sáng tối, sự thay đổi pha Mặt trăng, khí hậu và chu kỳ nhật nguyệt thực… Không giống các đơn vị đo lường khác, để tính lịch đòi hỏi người ta phải có một cách thức nhất định gọi là lịch pháp. Lịch pháp 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là phương pháp làm lịch, tính lịch được hình thành trên nhiều cơ sở khác nhau mà quan trọng nhất là toán học, thiên văn và thực tế. Lịch xuất hiện từ khi nào? Hiện chúng ta biết rất ít về việc đo đạc, ghi chép thời gian trong thời tiền sử, nhưng từ các di vật khảo cổ ở mọi nền văn hoá đều phát hiện thấy dấu vết của việc này.
Sau đây là một số tư liệu về sự hình thành lịch ở một số vùng trên thế giới. Châu Âu : thời kỳ băng hà cách đây hơn 20 nghìn năm các thợ săn ở châu Âu đã khắc các vạch lên thân gỗ và xương, có thể bằng cách này họ dùng để đếm các ngày trong tuần trăng. Các cột đá tại nước Anh (Stonehenge) được xây dựng cách đây hơn 4000 năm có lẽ đã được sắp xếp nhằm xác định một số thời điểm đặc biệt liên quan đến mùa và hiện tượng thiên văn như ngày chí, nguyệt thực… Tại Hy Lạp các bản di vật bằng đất sét thế kỷ 13 trước CN hay những ghi chép của Homer và Hesiod cho thấy người cổ Hy Lạp sử dụng lịch Mặt trăng (lịch âm), các tháng bao gồm 29 và 30 ngày xen kẽ nhau. Đến thế kỷ thứ 6 trước CN các nhà thiên văn học Hy Lạp đã đề nghị một lịch chính xác hơn bằng cách chèn thêm 3 tháng vào mỗi chu kỳ 8 năm.
lịch chu kỳ 8 năm này vẫn tiếp tục được sử dụng ở Hy Lạp mặc dù sau đó đã có thêm hai phát hiện đáng chú ý: Khoảng năm 433 trước CN nhà thiên văn học Meton ở Aten tìm thấy 19 năm mặt trời (chu kỳ meton) vừa bằng 235 tuần trăng và vào năm 130 trước CN Hipparchus quan sát thấy năm mặt trời không phản ánh chính xác bằng 365,25 ngày. Ở La Mã vào khoảng thế kỷ thứ 7 hoặc thứ 8 trước CN nhà cai trị thành Rome đầu tiên là Romulus đưa vào sử dụng loại lịch gồm 10 tháng, 6 tháng 30 ngày và 4 tháng 31 ngày, tổng cộng 304 ngày, năm khởi đầu vào tháng 3. Sau này lịch La Mã tiếp tục được cải tiến dưới các thời Numa Pompilus (715-613 trước CN) và Etruscan Tarquinius Priscus (năm 616-579 trước CN, nó có tên là lịch cộng hoà La Mã. Tuy ở lịch này năm (365,25 ngày) dài hơn năm mặt trời một ngày nhưng nhiều yếu tố của lịch cộng hoà La Mã đã được đưa vào lịch Gregorius thông dụng hiện nay.
19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trung Cận Đông: tại Ai Cập cách đây hơn 10 nghìn năm, vào thời kỳ đầu nền văn minh của mình, người Ai Cập cổ đã sử dụng lịch bao gồm 12 tháng mỗi tháng 30 ngày (một năm dài 360 ngày). Nhưng sau đó họ nhận ra rằng sao Thiên Lang (Sirius) ở chòm sao Đại Khuyển (Canis Major) cứ sau 365 ngày thì mọc cạnh mặt trời, lúc sông Nin bắt đầu chu kỳ ngập lụt hàng năm. Dựa trên điều này Ai Cập làm ra lịch 365 ngày, lịch này có lễ bắt đầu vào năm 4236 trước CN năm được ghi nhận sớm nhất trong lịch sử. Còn ở vùng Lưỡng Hà, thung lũng sông Tigris- Euphrate (Irắc), cách đây 5000 năm người Xume dùng lịch chia năm thành các tháng 30 ngày, chia ngày thành 12 khoảng (tương đương với 2 giờ) và mỗi khoảng này chia ra 30 phần (bằng 4 phút).
Cũng ở Irắc, vào khoảng 2000 năm trước CN người Babylon sử dụng lịch mặt trăng gồm 12 tháng xen kẽ 29 và 30 ngày. Sau đó, khoảng năm 380 trước CN, lịch này trở nên tinh xảo hơn khi trong lịch đã có sự kết hợp giữa tuần trăng với thời tiết. Điều này được thực hiện bằng cách chèn thêm 7 tháng nhuận vào chu kỳ 19 năm chu kỳ 19 năm trùng với chu kỳ Meton của nhà thiên văn học người Hy Lạp. Không rõ người Babylon cùng tìm ra chu kỳ Meton hay tiếp thu nó từ người Hy Lạp, tuy nhiên lịch này được chấp nhận ở Hy Lạp và các thuộc địa của La Mã cho đến năm 75 sau CN.
Lịch sớm nhất của người Do Thái có lẽ là lịch Gezer ở thời kỳ vua Solomon, khoảng cuối thế kỷ thứ 10 trước CN, sau đó người Do Thái cổ sử dụng lịch của người Babylon (587 trước CN). Nam Á và Viễn Đông: ở Việt Nam hiện còn lưu giữ một thứ lịch của người Mường gọi là lịch tre, lịch này gồm 12 thanh tre ghi lại 12 tháng và trên mỗi thanh tre khắc các vạch ký hiệu ngày, tháng và các hiện tượng khác. Phải chăng đây là một thứ lịch cổ dùng ở nước ta trước khi lịch âm dương được du nhập từ Trung Hoa sang? Ở Ấn Độ theo ghi chép thì lịch cổ nhất có vào năm 1000 trước CN, một năm lịch có 360 ngày chia thành 12 tháng âm bao gồm 27 hoặc 28 ngày, số ngày thiếu được bù bằng cách chèn tháng nhuận sau mỗi 60 tháng. Còn tại Trung Quốc, lịch Âm - Dương có từ Thế kỷ 14 trước CN (đời Thương), theo truyền thuyết thì sớm hơn nữa vào thời Tam Hoàng Ngũ Đế (năm 2637 trước CN) đã có lịch do hoàng đế 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sáng tạo ra.
Đáng chú ý là đời nhà Thương người Trung Hoa đã biết đến độ dài năm là 365.25 ngày và tuần trăng dài 29. Trung Mỹ: người Maya ở Trung Mỹ không chỉ dưạ trên mặt trăng, mặt trời mà cả sao Kim để tạo ra lịch 260 và 365 ngày. Nền văn hoá Maya hưng thịnh từ khoảng 2000 năm trước CN đến năm 1500 sau CN, các chu kỳ thiên văn ghi lại cho thấy họ tin là thế giới được sáng ra vào năm 3114 TCN. Các lịch của họ sau này trở thành một phần của lịch đá Aztec [1, tr.
Những cơ sở của việc làm lịch Lịch thường có tính chu kì, lặp đi lặp lại chạy mãi không ngừng theo thời gian để đo mốc thời gian, chúng được soạn theo một quy tắc nhất định, thường là dựa vào các hiện tượng tự nhiên có tính chất chu kì. Đặc biệt là các hiện tượng thiên văn. Cũng như các ngành khoa học kĩ thuật khác, lịch ra đời do chính nhu cầu của đời sống và trước hết là do sản xuất nông nghiệp. Chính chăn nuôi và trồng trọt là đã đặt ra những đòi hỏi đầu tiên về việc phải làm ra lịch.
Người ta cần phải biết và dự đoán trước được những thay đổi của các mùa mưa gió, nóng, lạnh, khô hạn, thủy triều, sáng trăng hay tối trời…Các yếu tố này của thời tiết, khí hậu, phụ thuộc vào chính mặt trời và một phần chịu ảnh hưởng của mặt trăng. Lịch được hình thành từ nhiều cơ sở nhưng quan trọng nhất là cơ sở thiên văn. Cơ sở thiên văn của việc làm lịch và các đơn vị lịch Thiên văn là một khoa học được hình thành và phát triển rất sớm, song cũng đầy kịch tính. Là một khoa học gắn liền với vũ trụ quan, trong thời kì Trung cổ nó bị triết học và thần học chi phối mạnh mẽ và nhiều khi bị đình trệ, kìm hãm hàng thế kỉ.
Người phương Đông xưa có thuyết Trời tròn, Đất vuông; Người Việt xưa có sự tích “Bánh chưng, bánh dầy”, bánh chưng vuông tượng trưng cho đất, bánh dầy tròn tượng trưng cho trời. Ở phương Tây xưa có thuyết địa tâm, coi trái đất là đứng yên, là trung tâm của vũ trụ. Rồi sau đó có thuyết nhật tâm, coi mặt trời là trung tâm của hệ mặt trời, trái đất quanh xung quanh mặt trời. Song, các quan niệm khác nhau đó không cản trở nhiều đến việc làm lịch, bởi người làm lịch dựa vào thiên văn học quan sát.
Họ đứng trên trái đất mà nhìn bầu trời, chính là dùng một hệ tọa độ gắn 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vào trái đất; một cách tương đối là coi trái đất đứng yên, các thiên thể khác chuyển động tương đối với nó. Bằng thiên văn học quan sát, người ta đã hiểu bầu trời sao một cách tinh tế, phát hiện ra tính chu kì của các chuyển động tương đối của mặt trời, mặt trăng và bầu trời sao.