C h ư ơ n g V II Sự RA ĐỜI CỦA TÂM LÝ HỌC ề 9 VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT KHOA HỌC ĐỘC LẬP • • • • I. KHÁI QUÁT CHUNG Từ nửa sau thê k ỷ XIX, những thành tựu của khoa học Tâm lý học trên tất cả các lĩnh vực đã phá vỡ về căn bản những quan niệm trước đó về kết cấu và thuộc tính của vật chất và do thê đã ảnh hưởng rất lốn đến việc nhìn nhận thê giới tinh thần của con người. Những nghiên cứu đã đi đến chứng minh sự chuyển động quay tròn của trái đất (1851); phát hiện ra sự quay vi phân của mặt tròi và các vụ nổ mặt trời (1857); phát hiện ra trung tâm vận động ngôn ngữ ở người (1860); công bô lý thuyết về điện tử ánh sáng và định luật di truyền (I860); công bô" bảng tuần hoàn các nguyên tô hoá học (1869); chê tạo ra động cơ đốt trong bôn kỳ(1876); phát minh ra đèn dây tóc nóng sáng (1878) v.Thời kỳ này người ta cũng phát hiện ra rằng nguyên tử có cấu trúc phức tạp và có thê phân chia được, phát hiện điện tử có khối lượng biến đổi v. Sự kiện có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành tâm lý học như một khoa học độc lập là việc áp dụng các phương pháp thực nghiệm vào nghiên cứu các hiện tượng 123 tâm lý người. Những thực nghiệm tâm sinh lý học các cơ quan cảm giác củng như tâm vật lý học đã tiến hành việc đo đạc, tính toán đưa ra những sô liệu khách quan tựa như những nghiên cứu ở các lĩnh vực khoa học khác, đồng thòi k h ắ n g đ ịn h s ự tồn tạ i có th ậ t của các h iệ n tư ợ n g tâ m lý. Đây là một bước tiến vượt bậc trong việc tìm kiếm, làm rõ đối tượng của tâm lý học. Trước hết, đó là đóng góp của những nhà nghiên cứu tâm- sinh lý học, tâm vật lý học như H.Helmholtz (1821-1894), Dubois Reymond, G. Donders (1818- 1889) và nhiêu người khác. Vào năm 1879, tại Leipzig (Đức) , lần đầu tiên trên thê giới, một phòng thực nghiệm tâm lý học được thành lập theo sáng kiến của nhà tâm lý học người Đức tên là W. Ngay từ những ngày khởi đầu, phòng thực nghiệm của ông đã đi vào hoạt động có hiệu quả, phát huy ảnh hưởng to lớn của nó đến hoạt động nghiên cứu tâm lý học của nhiều nước cả về nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Sự kiện này đã có một ý nghĩa vô cùng to lớn, được ghi nhận như là mốc khởi đầu xuất hiện tâm lý học với tính cách là một khoa học độc lập. CÁC THÀNH Tựu KHOA HỌC LÀ TIEN đe cho VIỆC TÂM LÝ HỌC RA ĐỜI VỚI TƯ CÁCH LÁ MỘT KHOA HỌC ĐỘC LẬP • • • Các thành tựu khoa học được coi là điều kiện trực tiếp cho sự ra đời của tâm lý học với tính cách là một khoa học độc lập trước hết phải kê đến: 124 - Tâm sinh lý học giác quan. - Tâm vật ]ý học. - N g h iê n cứu thòi gian p h ản ứng. Tâm sinh lý học giác quan T â tn s in h lý học g iá c q u a n là m ộ t d ò n g các n g h iê n cứ u n h ằ m là m rõ m ô i q u a n hệ g iữ a k íc h th íc h v ậ t lý, các q u á tr in h x ả y ra tro n g hệ th ầ n k in h và các q u á tr ìn h c ả m tín h (cả m g iá c , tr i g iá c ) củ a con người. Đại biểu của lĩnh vực nghiên cứu này trước tiên phải kể đến công lao của nhà sinh lý học người Đức tên là H. Helmholtz (1821-1894) và nhà nghiên cứu tâm sinh lý học người Pháp Dubois Reymond. Các kết quả thu được trên lĩnh vực này vô cùng phong phú. Vào thời kỳ này, nhờ sự tiến bộ của nhiều lĩnh vực khoa học tự nhiên đã có nhiều nhà khoa học vốn không phải thuộc chuyên ngành tâm lý học nhưng cũng lao vào nghiên cứu các hiện tượng liên quan đến đòi sống tinh thần của con người. Phần lớn trong sô này là các nhà vật lý học, sinh lý học. Họ đã cô’ gắng đi sâu để lý giải hình ảnh cảm tính xuất hiện ở con người như thê nào? N guyên nhân của các hiện tượng này? Cái gì đã xẩy ra trong hệ thần kinh? Các kích thích bên ngoài; hoạt động của hệ thần kinh; các hình ảnh cảm tính được xuất hiện trong não có mối tương quan như thê nào? H. Helm holtz đã có công n g h iê n cứ u b ằ n g th ự c n g h iệ m nhằm chứng minh các tá c đ ộ n g bên ngo à i tá c đ ộ n g đ ế n các g iá c q u a n của con người làm xuất hiện các hình ảnh vê sự 125 vật, hiện tượng trong não. Ông đã tiên hành công trình nghiên cứu tri giác các v ậ t thê v à đi đến k h ẳ n g định h o ạ t đ ộ n g củ a c á c g iá c q u a n g iữ v a i tr ò q u a n tr ọ n g q u y ế t đ ịn h q u á tr in h n h ậ n biết s ự vậ t. Ong cũng đặc biệt quan tâm tói sự khác nhau giữa hình ảnh mà mắt người ghi nhận được vối việc vẽ hình ảnh đó trên giấy hoặc chụp lại các vật thể đó. Ông đã nhận thấy rằng mắt “nhìn thấy” sự vật nhiều hơn hình ảnh phang được ghi lại trên giấy hoặc ống kính máy ảnh chụp lại vật thê đó, bởi vì mắt cảm nhận được, phát hiện được các quan hệ đằng sau cái nhìn đó, chắng hạn, độ lớn thực sự của vật, chiều sâu của v ậ t.v à những lần tri giác sau thì khác những lần tri giác trước vì ít nhiều con người đã có cái mà H .H elm holtz gọi đó ỉà “k in h n g h iệ m ''. Các phát hiện của ông hoàn toàn đúng, nhưng khi giải thích nguyên do của sự kiện đó, ông đã mắc sai lầm là quay vê với luận điểm duy tâm của “th u y ế t n ă n g lư ợ n g c h u y ê n biệt" của J. Theo thuyết này, khi có một tác động vật lý vào một giác quan nào đó thì kích thích này đã làm cho các năng lượng riêng chứa đựng trong các giác quan ấy phóng ra làm cho ta cảm nhận được các kích thích ấy. Chính theo phương hướng nghiên cứu thực nghiệm do H elm holtz tiến hành mà nhiều năm về sau và cả trong những năm đầu th ế kỷ XX đã xu ất hiện một phương hưống duy vật lôi kéo nhiều nhà khoa học đi vào nghiên cứu sự phối hợp của các giác quan trong quá trình tạo ra hình ảnh cảm tính, đặc biệt là vai trò của cơ quan vận động đối với việc tạo th àn h hình ảnh cảm tính ở con người. Các công trình nghiên cứu của H .H elm holtz đã cho ta thấy rõ, khi tri giác mắt người nhìn sự vật tác động vào nó 126 k h ô n g p h ả i chí có một lần m à m ắt nhìn sự v ậ t n h iêu lần, vận động xung quanh vật thê. Rõ ràng là có sự phôi hợp c ủ a các cơ qu an v ậ n động và chính nhờ thê m à con người có biểu tượng khôn g g ia n 3 chiều vê sự vật. H ình ản h cảm tính th u được trong tri giác sự v ậ t khôn g đơn th u ầ n chỉ do một cơ q u an cảm giác đem lại m à có sự phối hợp v ậ n động c ủ a n h iêu cơ quan cảm giác k h ác như n ghe (thính giác), sờ mó (xúc giác) v.C ảm giác, tri giác là các hiện tượng tâm lý phản ánh thê giối tự nhiên bên ngoài con người thông qua hoạt động của não, là hình ảnh chủ quan về hiện tượng khách quan bôn ngoài. Các giác quan của con người cùng vối đường thần kinh hưống tâm, ly tâm và trung ương thần kinh tương ứng mà sau này được gọi là “bộ máy phân tích” của các cơ quan cảm giác chính là cơ sở sinh lý của các hiện tượng tâm lý. Các thực nghiệm của H. H e lm h o ltz cũn g như n h iều thực n ghiệm k h ác ở thòi k ỳ này đã dẫn con người đi đến kết luận tất yếu là: mỗi giác quan không có cái gọi là “n ă n g lư ợ n g c h u y ê n b iệ t” mà chỉ có vấn đề là mỗi giác quan có liê n q u a n và th íc h ứ n g với m ộ t lo ạ i k íc h th íc h , chang hạn: ánh sáng liên quan đến mắt, âm thanh liên quan đến tai. Như thê là các công trình nghiên cứu của H. Helmholtz đã giúp ta đi đến những kết luận quan trọng: 1. Kích thích từ thê giới khách quan bên ngoài tác động trực tiếp vào các giác quan của con người tạo ra những xung động thần kinh trong các giác quan. Đây là nguyên nhân làm xuất hiện hình ảnh cảm tính ở con người. Nhò hoạt động của các giác quan mà con người có được những hình ảnh tương ứng vối sự vật hiện tượng khách 127 quan bên ngoài. Hoạt động của các giác quan giủ vai trò quan trọng quyết định quá trình nhận biết sự vặt. Kinh nghiệm đã tham gia tích cực vào việc tạo thành hình ảnh cảm tính ở con người. Rõ ràng là có một loại hiện tượng tinh thần mà từ trưốc đến nay chưa có một khoa học nào chuyên tâm nghiên cứu. Hiện tượng mà từ hàng nghìn năm trước đó Socrate, Platon, Democrite, Aristote và sau này là Descartes đã nói tới. Hiện tượng đó là hiện tượng tâm lý. Hiện tượng tâm lý ngưòi là có thật. Cùng vối các kết quả đạt được của Helmholtz, nhiều người đã buộc phải để tâm tới một vấn đề có ý nghĩa to lớn hơn là xác đ ịn h đ ố i tư ợ n g củ a k h o a học tâ m lý.
Giáo Trình Lịch Sử Tâm Lý Học: Sự Ra Đời Khoa Học Độc Lập (Phần 2)
Giáo trình Lịch Sử Tâm Lý Học (in lần 2, phần 2). Khám phá các trường phái tâm lý học, nhà tâm lý học tiêu biểu & ứng dụng thực tiễn. Tải ngay!
Trường đại học
Trường Đại học Tổng hợp HeidelbergChuyên ngành
Tâm lý họcNgười đăng
Ẩn danhThể loại
Nghiên cứuPhí lưu trữ
35 PointMục lục chi tiết
Tóm tắt
I. Tổng Quan Lịch Sử Tâm Lý Học và Sự Ra Đời Khoa Học
Từ nửa sau thế kỷ XIX, những thành tựu khoa học đã thay đổi căn bản quan niệm về vật chất, tác động mạnh mẽ đến cách nhìn nhận thế giới tinh thần của con người. Những phát minh như chứng minh sự chuyển động quay tròn của trái đất, phát hiện trung tâm vận động ngôn ngữ ở người, công bố bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học, và phát minh động cơ đốt trong, đèn dây tóc nóng sáng... đều là tiền đề quan trọng. Tuy nhiên, sự kiện có ý nghĩa quyết định là việc áp dụng phương pháp thực nghiệm vào nghiên cứu các hiện tượng tâm lý người. Các thực nghiệm tâm sinh lý học các cơ quan cảm giác cũng như tâm vật lý học đã tiến hành đo đạc, tính toán, đưa ra số liệu khách quan, khẳng định sự tồn tại của các hiện tượng tâm lý. Đây là bước tiến vượt bậc trong việc làm rõ đối tượng của tâm lý học. Đóng góp của những nhà nghiên cứu tâm- sinh lý học, tâm vật lý học như H.Helmholtz, Dubois Reymond, G. Donders là vô cùng quan trọng. Vào năm 1879, tại Leipzig (Đức), phòng thực nghiệm tâm lý học đầu tiên trên thế giới được thành lập theo sáng kiến của Wilhelm Wundt. Sự kiện này được ghi nhận là mốc khởi đầu xuất hiện tâm lý học như là một khoa học độc lập.
1.1. Tâm Lý Học Trước Khi Trở Thành Khoa Học Độc Lập
Trước khi tâm lý học trở thành một ngành khoa học độc lập, nó thường được coi là một nhánh của triết học. Các nhà triết học cổ đại như Socrate, Platon, Democrite, và Aristote đã đặt ra nhiều câu hỏi về bản chất của tâm trí và hành vi. Tuy nhiên, cách tiếp cận của họ chủ yếu dựa trên suy đoán và lý luận, chứ không phải bằng chứng thực nghiệm. Descartes cũng đóng góp quan trọng với thuyết nhị nguyên, phân biệt giữa tâm trí và cơ thể.
1.2. Các Thành Tựu Khoa Học Là Tiền Đề Tâm Sinh Lý Học
Tâm sinh lý học giác quan là dòng nghiên cứu làm rõ mối quan hệ giữa kích thích vật lý, các quá trình xảy ra trong hệ thần kinh và các quá trình cảm tính (cảm giác, tri giác) của con người. H. Helmholtz đã chứng minh bằng thực nghiệm rằng các tác động bên ngoài tác động đến các giác quan của con người làm xuất hiện các hình ảnh về sự vật, hiện tượng trong não. Ông khẳng định hoạt động của các giác quan giữ vai trò quyết định quá trình nhận biết sự vật. Ông cũng nhận thấy rằng mắt “nhìn thấy” sự vật nhiều hơn hình ảnh phang được ghi lại trên giấy hoặc ống kính máy ảnh chụp lại vật thể đó.
1.3. Mốc Quan Trọng Wilhelm Wundt và Phòng Thí Nghiệm Leipzig
Năm 1879, Wilhelm Wundt thành lập phòng thí nghiệm tâm lý học đầu tiên tại Leipzig, Đức. Đây là một bước ngoặt lịch sử đánh dấu sự ra đời của tâm lý học như một khoa học độc lập. Phòng thí nghiệm của Wundt đã sử dụng phương pháp nội quan có kiểm soát để nghiên cứu các quá trình tâm lý cơ bản như cảm giác, tri giác và phản ứng.
II. Cách Tâm Vật Lý Học Góp Phần Định Hình Khoa Học Tâm Lý
Tâm vật lý học nghiên cứu sâu vào quan hệ giữa cường độ kích thích với hình ảnh tâm lý xuất hiện và biểu thị chúng bằng công thức toán học. Các nhà bác học cho rằng các quá trình tâm lý cũng giống như các hiện tượng của khoa học tự nhiên, có thể biểu đạt được bằng các công thức toán học. Hai đại biểu lớn nhất là G. Fechner và E. Weber. Khi nghiên cứu phản ứng của da và cơ bắp, E. Weber đã tìm ra công thức biểu thị mối tương quan giữa phản ứng cảm tính và tác nhân kích thích từ bên ngoài vào. Kết quả là tương quan giữa kích thích vật lý và phản ứng cảm giác là tương quan có tính quy luật. Cùng với Weber, Fechner cũng tìm ra công thức biểu thị mối tương quan giữa kích thích và cảm giác: c = k Ig S (c là cường độ cảm giác, s là cường độ kích thích, k là một hằng số).
2.1. Công Thức Fechner Weber và Lượng Hóa Hiện Tượng Tâm Lý
Công thức Fechner-Weber là một đóng góp quan trọng cho tâm lý học vì nó cho thấy rằng có thể đo lường và lượng hóa các hiện tượng tâm lý. Điều này giúp tâm lý học trở nên khoa học hơn bằng cách cung cấp một cách để kiểm tra các giả thuyết một cách khách quan.
2.2. Phương Pháp Nghiên Cứu Thực Nghiệm trong Tâm Vật Lý Học
Tâm vật lý học đã minh chứng cho việc khẳng định các quá trình tâm lý là có thật và có thể biểu đạt được qua các công thức toán học. Có thể nghiên cứu các hiện tượng tâm lý bằng phương pháp thực nghiệm, tức là bằng các phương pháp khách quan. Phương hướng này cần được ủng hộ, vì đây chính là các tư tưởng duy vật trong nghiên cứu các hiện tượng tâm lý người.
III. Thời Gian Phản Ứng Phương Pháp Đo Lường Quá Trình Tâm Lý
Hướng nghiên cứu làm rõ thời gian diễn ra từ khi có kích thích đến khi con người có phản ứng. Người tiến hành nghiên cứu theo hướng này là F. Donders. Cho đến giữa thế kỷ XIX, khoa học tưởng như không thể đo được vận tốc dẫn truyền quá trình thần kinh. Vào năm 1850, nhờ máy ghi vận động do Helmholtz chế tạo ra, người ta đã ghi được thời gian phản ứng của các cơ, từ đó xác định được tốc độ dẫn truyền thần kinh và nhận thấy rằng tốc độ dẫn truyền này không lớn như người ta tưởng. Donders dựa trên kết quả nghiên cứu của Helmholtz đã tiếp tục nghiên cứu sâu hơn: Đo thời gian phản ứng (tp). Từ kết quả trên ông cho rằng, sở dĩ có sự chênh lệch đó là vì đã có các quá trình tâm lý tham gia vào.
3.1. F. Donders và Nghiên Cứu Về Thời Gian Phản Ứng Tâm Lý
F. Donders và các cộng sự của ông đã phân ra 3 loại phản ứng tâm lý: Phản ứng tâm lý đơn giản, phản ứng tâm lý lựa chọn và phản ứng tâm lý phân biệt. Nghiên cứu thời gian phản ứng do F. Donders thực hiện đã chỉ ra rằng trong thực tế có một hiện tượng khác với hiện tượng trong sinh lý học thần kinh nghiên cứu, hiện tượng này chính là một quá trình tâm lý.
3.2. Phương Pháp Khách Quan Nghiên Cứu Hiện Tượng Tâm Lý
Nghiên cứu về thời gian phản ứng góp phần chỉ ra đối tượng nghiên cứu của tâm lý học đó chính là hiện tượng tâm lý chứ không phải là sinh lý. Đồng thời bằng công trình nghiên cứu của mình, Donders cũng chỉ ra là có thể dùng phương pháp khách quan để nghiên cứu hiện tượng tâm lý ở con người.
3.3 Ảnh hưởng của Phương Pháp Thời Gian Phản Ứng Đến Tâm Lý Học
Phương pháp nghiên cứu thời gian phản ứng đã có những ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của tâm lý học thực nghiệm. Nó cung cấp một công cụ khách quan và định lượng để nghiên cứu các quá trình nhận thức, chẳng hạn như sự chú ý, trí nhớ và việc ra quyết định. Phương pháp này vẫn được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu tâm lý học ngày nay.
IV. Wilhelm Wundt Triết Lý và Phòng Thí Nghiệm Tâm Lý Đầu Tiên
Wilhelm Wundt (1832-1920) là con một gia đình mục sư ở Baden (Đức). Ông được bổ nhiệm làm giảng viên sinh lý học ở Trường Đại học Tổng hợp Heidelberg. Từ lĩnh vực y học, ông chuyển sang nghiên cứu sinh lý học và tâm lý học. Từ năm 1858, Wundt đã biên soạn và cho xuất bản nhiều tác phẩm về tâm - sinh lý và tâm lý học xã hội. Tâm lý học của Wundt được thể hiện trên một số tư tưởng chính sau đây: Toàn bộ tâm lý học của Wundt xuất phát từ quan niệm coi con người là một thể thống nhất tâm - vật lý trong đó có những hiện tượng có thể thấy được như các cử động, mắt nhìn, tay sờ.
4.1. Tư Tưởng Tâm Lý Học Duy Tâm của Wilhelm Wundt
Wundt đưa ra khái niệm Tổng giác. Theo quan niệm của Wundt thì tổng giác là hạt nhân của ý thức, ý chí của con người. Tổng giác là một cái gì đó không thể hiểu được và có trong thế giới nội tâm của con người. Tổng giác phản ứng với những cái do cảm giác, tri giác mang lại, giúp cho con người “cảm thấy” những cái xảy ra trong mình.
4.2. Năm 1879 Trong Lịch Sử Tâm Lý Học Bước Ngoặt Quan Trọng
Năm 1879, khi làm giáo sư triết học ở Leipzig, Wundt đã tổ chức ra phòng thực nghiệm tâm lý học đầu tiên trên thế giới. Ông cũng đã công bố một cương lĩnh mới về xây dựng khoa học tâm lý: Xây dựng tâm lý học thực nghiệm và tâm lý học xã hội.
4.3 Ảnh Hưởng của Phòng Thí Nghiệm Tâm Lý Đầu Tiên Đến Tâm Lý Học
Sự kiện Wundt tổ chức phòng thực nghiệm tâm lý học đầu tiên vào năm 1879 là sự kiện nổi bật nhất, đánh dấu sự ra đời của tâm lý học với tư cách là một khoa học độc lập. Từ đó, Tâm lý học đã có chỗ đứng trong hệ thống các khoa học.
V. Tâm Lý Học Gestalt Trường Phái Đối Lập với Tâm Lý Học Nội Quan
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tâm lý học thế giới đi vào cuộc khủng hoảng. Wundt đã đóng góp công lao to lớn cho việc ra đời của tâm lý học với tư cách là một khoa học độc lập, nhưng tâm lý học của Wundt thực chất là tâm lý học duy tâm. Bằng phương pháp nội quan trong việc nghiên cứu tâm lý, nền tâm lý này cũng đã đi vào bế tắc. Việc xuất hiện nhiều dòng tâm lý học khác nhau ở nhiều nước trong việc tìm kiếm một lối thoát cho tâm lý học cũng là một nhu cầu khách quan.
5.1. Nguồn Gốc Nảy Sinh của Tâm Lý Học Gestalt
Việc hình thành trường phái tâm lý học Gestalt, cũng như hình thành các trường phái tâm lý học khách quan khác là kết quả của sự khủng hoảng trong khoa học tự nhiên nói chung và sự khủng hoảng về phương pháp luận cho việc tìm kiếm con đường xây dựng một nền tâm lý học thực sự khách quan nói riêng ở thời kỳ này.
5.2. Gestalt Là Gì Định Nghĩa và Bản Chất của Hình Thái Tâm Lý
Gestalt là một hình ảnh tâm lý có cấu trúc trọn vẹn, hoàn chỉnh, các tính chất của nó hoàn toàn không phải được cấu tạo nên từ những phần tử, những thành phần, yếu tố nào đấy của nó. Tiếng Đức, Gestalt có nghĩa là toàn vẹn, cấu trúc, hình thái. Cũng vì vậy, tâm lý học Gestalt còn gọi là tâm lý học cấu trúc, tâm lý học hình thái.
VI. Luật Tri Giác trong Tâm Lý Học Gestalt
Các nhà tâm lý học Gestalt đưa ra nhiều quy luật tri giác cơ bản. Quy luật hình và nền, bao giờ cũng có một phần của trường tri giác nổi bật lên, đậm nét, rõ ràng và có ý nghĩa còn những vật xung quanh thì mờ nhạt, không có ý nghĩa, giữa chúng có sự tách biệt tương đối tạo nên cái gọi là “hình” và “nền”. Với hình (a), do nền là các tia phát tán ra nên hình vuông được cảm nhận như là hình thang.
6.1. Qui Luật Về Tính Gần Gũi Trong Tri Giác
Các sự vật có tính chất giống nhau (về độ lớn, hình dáng, màu sắc.), tức là có tính gần gũi về một phương diện nào đó, thường có khuynh hướng nhóm lại, tách ra khỏi các sự vật khác.
6.2. Ảo Giác và Quy Luật Bổ Sung Của Tri Giác
Theo quy luật bổ sung, tri giác bao giờ cũng có xu hướng làm cho hình ảnh tri giác được “hoàn chỉnh”, trọn vẹn, “đẹp mắt”. Ví dụ nhìn một tam giác thiếu một góc, ta vẫn thấy nó là một tam giác đủ cả ba cạnh và ba góc. Thấy một góc ngôi nhà là có thể hình dung ra đủ cả cái nhà.
TÀI LIỆU LIÊN QUAN
Bạn đang xem trước tài liệu:
Giáo trình lịch sử tâm lý học in lần thứ 2 phần 2
THÔNG TIN CHI TIẾT
Trường học: Trường Đại học Tổng hợp Heidelberg
Chuyên ngành: Tâm lý học
Đề tài: Sự ra đời của Tâm lý học với tư cách là một khoa học độc lập
Loại tài liệu: Nghiên cứu
Địa điểm: Leipzig
Trích đoạn nội dung tài liệu
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ