Giáo Trình Lịch Sử Tâm Lý Học: Sự Ra Đời Khoa Học Độc Lập (Phần 2)

Giáo trình Lịch Sử Tâm Lý Học (in lần 2, phần 2). Khám phá các trường phái tâm lý học, nhà tâm lý học tiêu biểu & ứng dụng thực tiễn. Tải ngay!

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Nghiên cứu
127
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

VII. Chương VII: Sự Ra Đời Của Tâm Lý Học Với Tư Cách Là Một Khoa Học Độc Lập

I. Khái Quát Chung

Các Thành Tựu Khoa Học Là Tiền Đề Cho Việc Tâm Lý Học Ra Đời Với Tư Cách Lá Một Khoa Học Độc Lập

Tâm sinh lý học giác quan

Tâm vật ]ý học

Nghiên cứu thời gian phản ứng

Tâm Sinh Lý Học Giác Quan

Tâm Vật Lý Học

Nghiên Cứu Thời Gian Phản Ứng

Tóm lại, các công trình nghiên cứu tâm sinh lý học các giác quan, tâm vật lý học, nghiên cứu thời gian phản ứng đã đưa đến kết luận là:

WUNDT VÀ PHÒNG THỰC NGHIỆM TÂM LÝ HỌC ĐẦU TIÊN TRỂN THẾ GIỚI

1. Các Tư Tưởng Tâm Lý Học W. Wundt

Trích đoạn nội dung tài liệu

C h ư ơ n g V II Sự RA ĐỜI CỦA TÂM LÝ HỌC ề 9 VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT KHOA HỌC ĐỘC LẬP • • • • I. KHÁI QUÁT CHUNG Từ nửa sau thê k ỷ XIX, những thành tựu của khoa học Tâm lý học trên tất cả các lĩnh vực đã phá vỡ về căn bản những quan niệm trước đó về kết cấu và thuộc tính của vật chất và do thê đã ảnh hưởng rất lốn đến việc nhìn nhận thê giới tinh thần của con người. Những nghiên cứu đã đi đến chứng minh sự chuyển động quay tròn của trái đất (1851); phát hiện ra sự quay vi phân của mặt tròi và các vụ nổ mặt trời (1857); phát hiện ra trung tâm vận động ngôn ngữ ở người (1860); công bô lý thuyết về điện tử ánh sáng và định luật di truyền (I860); công bô" bảng tuần hoàn các nguyên tô hoá học (1869); chê tạo ra động cơ đốt trong bôn kỳ(1876); phát minh ra đèn dây tóc nóng sáng (1878) v.Thời kỳ này người ta cũng phát hiện ra rằng nguyên tử có cấu trúc phức tạp và có thê phân chia được, phát hiện điện tử có khối lượng biến đổi v. Sự kiện có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành tâm lý học như một khoa học độc lập là việc áp dụng các phương pháp thực nghiệm vào nghiên cứu các hiện tượng 123 tâm lý người. Những thực nghiệm tâm sinh lý học các cơ quan cảm giác củng như tâm vật lý học đã tiến hành việc đo đạc, tính toán đưa ra những sô liệu khách quan tựa như những nghiên cứu ở các lĩnh vực khoa học khác, đồng thòi k h ắ n g đ ịn h s ự tồn tạ i có th ậ t của các h iệ n tư ợ n g tâ m lý. Đây là một bước tiến vượt bậc trong việc tìm kiếm, làm rõ đối tượng của tâm lý học. Trước hết, đó là đóng góp của những nhà nghiên cứu tâm- sinh lý học, tâm vật lý học như H.Helmholtz (1821-1894), Dubois Reymond, G. Donders (1818- 1889) và nhiêu người khác. Vào năm 1879, tại Leipzig (Đức) , lần đầu tiên trên thê giới, một phòng thực nghiệm tâm lý học được thành lập theo sáng kiến của nhà tâm lý học người Đức tên là W. Ngay từ những ngày khởi đầu, phòng thực nghiệm của ông đã đi vào hoạt động có hiệu quả, phát huy ảnh hưởng to lớn của nó đến hoạt động nghiên cứu tâm lý học của nhiều nước cả về nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Sự kiện này đã có một ý nghĩa vô cùng to lớn, được ghi nhận như là mốc khởi đầu xuất hiện tâm lý học với tính cách là một khoa học độc lập. CÁC THÀNH Tựu KHOA HỌC LÀ TIEN đe cho VIỆC TÂM LÝ HỌC RA ĐỜI VỚI TƯ CÁCH LÁ MỘT KHOA HỌC ĐỘC LẬP • • • Các thành tựu khoa học được coi là điều kiện trực tiếp cho sự ra đời của tâm lý học với tính cách là một khoa học độc lập trước hết phải kê đến: 124 - Tâm sinh lý học giác quan. - Tâm vật ]ý học. - N g h iê n cứu thòi gian p h ản ứng. Tâm sinh lý học giác quan T â tn s in h lý học g iá c q u a n là m ộ t d ò n g các n g h iê n cứ u n h ằ m là m rõ m ô i q u a n hệ g iữ a k íc h th íc h v ậ t lý, các q u á tr in h x ả y ra tro n g hệ th ầ n k in h và các q u á tr ìn h c ả m tín h (cả m g iá c , tr i g iá c ) củ a con người. Đại biểu của lĩnh vực nghiên cứu này trước tiên phải kể đến công lao của nhà sinh lý học người Đức tên là H. Helmholtz (1821-1894) và nhà nghiên cứu tâm sinh lý học người Pháp Dubois Reymond. Các kết quả thu được trên lĩnh vực này vô cùng phong phú. Vào thời kỳ này, nhờ sự tiến bộ của nhiều lĩnh vực khoa học tự nhiên đã có nhiều nhà khoa học vốn không phải thuộc chuyên ngành tâm lý học nhưng cũng lao vào nghiên cứu các hiện tượng liên quan đến đòi sống tinh thần của con người. Phần lớn trong sô này là các nhà vật lý học, sinh lý học. Họ đã cô’ gắng đi sâu để lý giải hình ảnh cảm tính xuất hiện ở con người như thê nào? N guyên nhân của các hiện tượng này? Cái gì đã xẩy ra trong hệ thần kinh? Các kích thích bên ngoài; hoạt động của hệ thần kinh; các hình ảnh cảm tính được xuất hiện trong não có mối tương quan như thê nào? H. Helm holtz đã có công n g h iê n cứ u b ằ n g th ự c n g h iệ m nhằm chứng minh các tá c đ ộ n g bên ngo à i tá c đ ộ n g đ ế n các g iá c q u a n của con người làm xuất hiện các hình ảnh vê sự 125 vật, hiện tượng trong não. Ông đã tiên hành công trình nghiên cứu tri giác các v ậ t thê v à đi đến k h ẳ n g định h o ạ t đ ộ n g củ a c á c g iá c q u a n g iữ v a i tr ò q u a n tr ọ n g q u y ế t đ ịn h q u á tr in h n h ậ n biết s ự vậ t. Ong cũng đặc biệt quan tâm tói sự khác nhau giữa hình ảnh mà mắt người ghi nhận được vối việc vẽ hình ảnh đó trên giấy hoặc chụp lại các vật thể đó. Ông đã nhận thấy rằng mắt “nhìn thấy” sự vật nhiều hơn hình ảnh phang được ghi lại trên giấy hoặc ống kính máy ảnh chụp lại vật thê đó, bởi vì mắt cảm nhận được, phát hiện được các quan hệ đằng sau cái nhìn đó, chắng hạn, độ lớn thực sự của vật, chiều sâu của v ậ t.v à những lần tri giác sau thì khác những lần tri giác trước vì ít nhiều con người đã có cái mà H .H elm holtz gọi đó ỉà “k in h n g h iệ m ''. Các phát hiện của ông hoàn toàn đúng, nhưng khi giải thích nguyên do của sự kiện đó, ông đã mắc sai lầm là quay vê với luận điểm duy tâm của “th u y ế t n ă n g lư ợ n g c h u y ê n biệt" của J. Theo thuyết này, khi có một tác động vật lý vào một giác quan nào đó thì kích thích này đã làm cho các năng lượng riêng chứa đựng trong các giác quan ấy phóng ra làm cho ta cảm nhận được các kích thích ấy. Chính theo phương hướng nghiên cứu thực nghiệm do H elm holtz tiến hành mà nhiều năm về sau và cả trong những năm đầu th ế kỷ XX đã xu ất hiện một phương hưống duy vật lôi kéo nhiều nhà khoa học đi vào nghiên cứu sự phối hợp của các giác quan trong quá trình tạo ra hình ảnh cảm tính, đặc biệt là vai trò của cơ quan vận động đối với việc tạo th àn h hình ảnh cảm tính ở con người. Các công trình nghiên cứu của H .H elm holtz đã cho ta thấy rõ, khi tri giác mắt người nhìn sự vật tác động vào nó 126 k h ô n g p h ả i chí có một lần m à m ắt nhìn sự v ậ t n h iêu lần, vận động xung quanh vật thê. Rõ ràng là có sự phôi hợp c ủ a các cơ qu an v ậ n động và chính nhờ thê m à con người có biểu tượng khôn g g ia n 3 chiều vê sự vật. H ình ản h cảm tính th u được trong tri giác sự v ậ t khôn g đơn th u ầ n chỉ do một cơ q u an cảm giác đem lại m à có sự phối hợp v ậ n động c ủ a n h iêu cơ quan cảm giác k h ác như n ghe (thính giác), sờ mó (xúc giác) v.C ảm giác, tri giác là các hiện tượng tâm lý phản ánh thê giối tự nhiên bên ngoài con người thông qua hoạt động của não, là hình ảnh chủ quan về hiện tượng khách quan bôn ngoài. Các giác quan của con người cùng vối đường thần kinh hưống tâm, ly tâm và trung ương thần kinh tương ứng mà sau này được gọi là “bộ máy phân tích” của các cơ quan cảm giác chính là cơ sở sinh lý của các hiện tượng tâm lý. Các thực nghiệm của H. H e lm h o ltz cũn g như n h iều thực n ghiệm k h ác ở thòi k ỳ này đã dẫn con người đi đến kết luận tất yếu là: mỗi giác quan không có cái gọi là “n ă n g lư ợ n g c h u y ê n b iệ t” mà chỉ có vấn đề là mỗi giác quan có liê n q u a n và th íc h ứ n g với m ộ t lo ạ i k íc h th íc h , chang hạn: ánh sáng liên quan đến mắt, âm thanh liên quan đến tai. Như thê là các công trình nghiên cứu của H. Helmholtz đã giúp ta đi đến những kết luận quan trọng: 1. Kích thích từ thê giới khách quan bên ngoài tác động trực tiếp vào các giác quan của con người tạo ra những xung động thần kinh trong các giác quan. Đây là nguyên nhân làm xuất hiện hình ảnh cảm tính ở con người. Nhò hoạt động của các giác quan mà con người có được những hình ảnh tương ứng vối sự vật hiện tượng khách 127 quan bên ngoài. Hoạt động của các giác quan giủ vai trò quan trọng quyết định quá trình nhận biết sự vặt. Kinh nghiệm đã tham gia tích cực vào việc tạo thành hình ảnh cảm tính ở con người. Rõ ràng là có một loại hiện tượng tinh thần mà từ trưốc đến nay chưa có một khoa học nào chuyên tâm nghiên cứu. Hiện tượng mà từ hàng nghìn năm trước đó Socrate, Platon, Democrite, Aristote và sau này là Descartes đã nói tới. Hiện tượng đó là hiện tượng tâm lý. Hiện tượng tâm lý ngưòi là có thật. Cùng vối các kết quả đạt được của Helmholtz, nhiều người đã buộc phải để tâm tới một vấn đề có ý nghĩa to lớn hơn là xác đ ịn h đ ố i tư ợ n g củ a k h o a học tâ m lý.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ