Chuong VI CÁC TƯ TƯỞNG TÂM LÝ HỌC NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX 1. KHÁI QUÁT CHUNG - Đầu thế kỷ XIX, kinh tế của các nhà nước tư bản châu Âu đạt được những thành tựu đáng kể. Những phát kiến trong các lĩnh vực khoa học khác nhau, đặc biệt là trong sinh lý học, vật lý, hoá học. đã làm cho chính xác hơn cách nhìn của con người về các hiện tượng thuộc đời sống tâm hồn, kích thích các nghiên cứu về tâm hồn, tâm lý con người phát triển, đặc biệt là các nghiên cứu trong lĩnh vực nhận thức. - Sự phát triển các tư tưởng tâm lý học thời kỳ này là đáng kể. Nổi bật trong đó là Học thuyết về phản xạ; Học thuyết về các cơ quan cảm giác; Học thuyết về đại não và các thành tựu nghiên cứu về tâm lý học liên tưởng. Điều đáng chú ý là nhiều thành tựu kể trên đã có sự tham gia đồng thời của nhiều nhà khoa học ở nhiều nước, có thành tựu đạt được cùng một lúc ở nhiều nơi. Tâm lý học đã có tên gọi riêng. Khoa học tâm lý đang trên đường trưởng thành trở thành một khoa học độc lập.CÁC THÀNH TỰU TÂM LÝ HỌC NỦA ĐẦU THẾ KỶ XIX 1. Học thuyết phản xạ - Quan niệm về phản xạ đã có từ các thế kỷ trước, từ Descartes (thế kỷ thứ XVID, nhưng những hiểu biết về sự kiện này còn chưa rõ. Những năm đầu thế kỷ XIX đã có nhiều công trình nghiên cứu tiếp tục làm rõ về vấn đề này: * Một trong những người đi tiên phong nghiên cứu về giải phẫu thần kinh là nhà thần kinh học người Anh Charles Bell (1774-1842), người chuyên nghiên cứu sâu về sự truyền dẫn của các dây thần kinh tuỷ sống. Các tác phẩm của ông gồm có: Phác thảo giải phẫu mdi vé nao (1811) và Về các dây thần kinh (1821). Các công trình nghiên cứu của Ch.Bell đã phát hiện: + Dây thần kinh, trên thực tế là bó các dây thần kinh khác nhau, có tính chất riêng. Tính chất này được xác định bởi phần não mà sợi thần kinh tham gia vào. Bell da theo dõi tất cả các sợi thần kinh đi vào não nhằm phát hiện cấu trúc của não. Với đại não, ông không thành công. Với tuỷ sống ông đã có các phát kiến quan trọng. Ông đã thiết lập được sự khác nhau về chức năng của các rễ trước và rễ sau của thần kinh tuỷ sống. Ông đã chứng minh bằng thực nghiệm cho thấy các sợi thần hình của rễ sau làm nhiệm uụ tiếp nhận các xung động thần kinh truyền tới (dây nhận cảm ) còn các sợi dây thần kinh rễ trước làm nhiệm uụ điêu khiển uận động. Ông đã tiến hành chuyển xung động theo các dây thần kinh hướng tâm thông qua tuỷ sống tới các dây thần kinh ly tâm. Các điều nêu ra này đã được C. Bell chứng minh bằng thực nghiệm. 112 * Điều đặc biệt là các nghiên cứu của C. Bell chưa được công bố thì cùng vào những năm này, nhà sinh lý học Pháp tên là F.Magendie (1783-1855) một nhà nghiên cứu sinh lý học người Pháp chuyên nghiên cứu về sinh lý học hệ thần kinh cũng đã đi đến những kết luận tương tự. Trong nhiều năm Magendie đã cố gắng phát hiện qui luật của việc sắp xếp. phân chia các sợi thần kinh cảm giác và vận động trong tuỷ sống. Qui luật chuyển xung động thần kinh như vậy về sau này được gọi là qui luat Bell - Magendie. Việc phát hiện này có ý nghĩa to lớn đối với sinh lý học, tâm lý học tương tự như việc phát hiện ra hệ tuần hoàn ở con người. Từ các công trình này, biểu tượng về định vị các con đường thần kinh người dẫn dần được hình thành. * Học thuyết về phản xạ được phát triển nhất quán, triệt để do một bác sĩ người Anh là M.Hall và Miller J.Mũller là giáo sư tại Trường Đại học Beclin (Đức), viện sĩ thông tấn nước ngoài của viện hàn lâm khoa học Pêtécbua (1832) Ông là người chuyên nghiên cứu về sinh lý học thân kinh trung ương và các cơ quan cảm giác. Các tác phẩm của ông tập trung vào phản ánh kết quả phân tích tìm hiểu hệ thống thần kinh, các cơ quan cảm giác, giải phẫu so sánh, các vấn để về sự phát triển phôi. Ông cũng là một trong những người sáng lập nên cái gọi là chủ nghĩa duy tâm sinh lý học. Các nghiên cứu của M.Mũller đã đi đến kết luận, các rễ sau và rễ trước của thần kinh tủy sống bao gồm từ hai loại thần kinh khác nhau là cảm giác và vận động. Trong một nghiên cứu của M. Hall (1837), ông viết: “Phan xa được gây ra bởi kích thích không phải là các bó cảm nhận mà là từ các bó thần kinh vận động không phụ 113 thuộc vào các bó nhận cảm”. Miillerda cho ra mắt cuốn “Giáo khoa sinh lý người”. Học thuyết về các cơ quan cảm giác Nửa đầu thế kỷ XIX xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động của các cơ quan cảm giác đưa đến những kết luận quan trọng về các qui luật tâm- sinh lý giác quan người. Những người đóng góp công sức to lớn trong lĩnh vực này có thể kể đến Ch.Bell (1774-1842), nhà sinh lý học, thần kinh học người Anh; F.Magendie (1783- 1855), nhà sinh lý học thần kinh Pháp; J.Mũller (1801- 1858), nhà sinh lý học Đức; Thomas Young (1773-1829), nhà vật lý học và là bác sĩ người Anh; Ch. Wheatstone (1802-1875), nhà vật lý học người Anh; I.Prochaska (1749- 1820), nhà sinh lý học, nhà giải phẫu học người Tiệp Khắc; J.Purkyne (1787-1869), nha sinh ly hoc, nha tương lai học người Tiệp Khác; E.Weber (1795-1875), nhà giải phẫu, nhà sinh lý học người Đức. Các thành tựu trong lĩnh vực này có thể kể đến: - Nghiên cứu hoạt động của thị giác (mắt) uới tư cách là một hệ thống sinh lý học mang chức năng sống. Liên quan đến khía cạnh này có công trình nghiên cứu về lý thuyết 3 thành phần sự nhìn màu của Thomas Young, nhà vật lý học và là bác sĩ người Anh và H,Helmholtz (1821- 1894), nhà sinh lý học, nhà khoa học tự nhiên người Đức.Young (1773-1829) là nhà bác học người Anh, một trong những người sáng lập ra lý thuyết sóng về ánh sáng. Ông đã đưa ra qui luật giao thoa của sóng ánh sáng (1801), nêu ra tư tưởng về thiết diện ngang của sóng ánh sáng (1817). 114 Ông cũng đã đưa ra luận điểm giải thích về sự điều tiết, thích ứng của mắt.Young cũng đã soạn thảo về lý thuyết nhìn màu.Ông cũng đưa vào áp dụng "suất đàn hồi” được mang tên ông. Các tác phẩm của ông liên quan khá nhiều đến cả lĩnh vực âm học, thiên văn học cũng như sự giải mã các chữ khó đọc của Ai Cập. Công trình của Stênbyx ( nhà sinh lý học người Đức) đã đi đến kết luận: Trỉ giác của con người được hình thành dần dần nhờ uào quan hệ giữa các sản phẩm của hoạt động của các cơ quan cảm giác uà phản ứng uận động. Nghiên cứu của Ch.Bell đã khẳng định: Hình ảnh không gian của vật thể được hình thành nhờ vào hoạt động phản xạ củacơ mắt từ đó có thể phát biểu về tính phụ thuộc của hình ảnh chủ quan vào cơ chế khách quan thần kinh cơ bắp.Wheatston (1802-1875), nhà vật lý học người Anh, người đã phát minh ra máy điện báo được mang tên ông (1858), phát hiện ra sự tự kích thích của máy điện (1867), đưa ra phương pháp đo điện và trưng bày nhiều dụng cụ máy móc khác nhau. Ông cũng đã có những kết luận có giá trị về hoạt động của mắt. Chẳng hạn, các quan hệ thần kinh- tâm lý trong hệ thống thị giác không có được ngay từ khởi đầu mà được hình thành dần dần nhờ vào kinh nghiệm luyện tập. €hính Wheatston đã nghiên cứu thị giác bằng kính lập thể tự sáng chế. Xêtrênốp đã có sự đánh giá cao các kết quả nghiên cứu của Wheatstone và coi các kết quả này như là sự khởi đầu của tâm lý học như là một khoa học kinh mghiệm. - Một hướng nghiên cứu khác về thị giác ở thời kỳ này có thể kể đến là các nghiên cứu hoạt động của các cơ quan cảm giác khác liên quan đến thị giác, chẳng hạn, biểu 115 tượng không gian về vật thể liên quan rất chặt tới biêu tượng của xúc giác. - Nghiên cứu sâu về cấu trúc thần kinh thị giác do Thomas Young (1773-1829) tiến hành. Ông đã đưa ra giả thuyết võng mạc chứa 3 loại sợi thần kinh trong đó mỗi sợi điều khiển một tia sáng cho ta cảm giác về màu đỏ, màu xanh lá cây, màu xanh da trời (1801). - Thời kỳ:này có một công trình nghiên cứu khá thú vị về cảm giác màu sắc do J.Goethe (1749-1832) là nhà thơ, nhà khoa học tự nhiên và là nhà tư tưởng vĩ đại người Đức thực hiện trong công trình mang tên “Về lý thuyết màu sắc” viết từ năm 1805-1810 mà ông cho rằng còn giá trị cao hơn các sáng tác thơ ca của ông. Trong công trình này, Goethe cho rằng màu đen và màu trắng là các màu cơ bản. Các môi trường khoảng cách (như không kh?) tham gia tạo thành các mầu còn lại. Mặt trời phụ thuộc vào môi trường không khí mờ đục được tiếp nhận khi là màu trắng, da cam và thậm chí là màu đỏ. Các kết luận của Goethe là không đúng song các phát hiện này của ông đã kích thích cho việc quan sát kỹ đằng sau các trải nghiệm trực tiếp về màu sắc ở con người. Dưới ảnh hưởng của Goethe, Miiller cũng bắt tay vào nghiên cứu cảm giác màu sắc.Purkyne (Puakine) (1787-1869) là nhà tưỡng lai học, nhà khoa học tự nhiên người Tiệp Khắc, viện sĩ thông tấn người nước ngoài của Viện Hàn lâm khoa học Pêtécbua (1836) tiếp theo các nghiên cứu của Goethe đã đi sâu khảo cứu sinh lý học tri giác thị giác và đã khám phá ra một loạt các tri thức trong cảm giác thị giác. Ông đã phát hiện ra sự biến đổi các màu xanh da trời và màu đỏ khi nhìn lúc hoàng hôn cùng nhiều kết quả nghiên cứu khác của ông đã tạo nên cái gọi là “Các hiện tượng kỳ lạ Puakine”. 116 - Một kết quả nữa phải kể đến là sự xuất hiện giả thuyết “Vong than kinh” hop nhat não với co bắp và cơ bắp với não. Điều này liên quan đến các công trình của Ch.Bell lần đầu tiên đã đưa ra tư tưởng liên hệ uòng giữa các quá trình cảm giác và cơ bắp. đã được đánh giá là một phỏng đoán tuyệt vời về bản chất phản xạ của nhận thức cảm tính. - Nghiên cứu bằng thực nghiệm tính nhạy cảm của da va co được B.Weber (1795-1878) thực hiện.
Giáo Trình Lịch Sử Tâm Lý Học Phần 2: Các Tư Tưởng Nổi Bật Thế Kỷ XIX
Giáo trình lịch sử tâm lý học phần 2: Khám phá các trường phái tâm lý học lớn, các nhà tư tưởng có ảnh hưởng và sự phát triển của tâm lý học hiện đại.
Thế kỷ XIX
Phí lưu trữ
35 PointMục lục chi tiết
Tóm tắt
I. Tổng Quan Lịch Sử Tâm Lý Học Thế Kỷ 19 Bước Chuyển Mình
Đầu thế kỷ XIX chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của kinh tế tư bản ở châu Âu, kéo theo những thành tựu vượt bậc trong khoa học tự nhiên. Đặc biệt, những khám phá trong sinh lý học, vật lý, và hóa học đã làm thay đổi cách nhìn nhận về đời sống tinh thần, thúc đẩy các nghiên cứu về tâm hồn và tâm lý con người. Các nhà khoa học tập trung vào lĩnh vực nhận thức, mở ra một kỷ nguyên mới cho Tâm lý học thế kỷ 19. Sự phát triển của tư tưởng tâm lý học thế kỷ 19 thời kỳ này rất đáng kể. Nổi bật là Học thuyết về phản xạ, Học thuyết về các cơ quan cảm giác, Học thuyết về đại não, và những thành tựu trong tâm lý học liên tưởng. Điều đáng chú ý là nhiều thành tựu có sự tham gia của nhiều nhà khoa học ở nhiều nước khác nhau, thậm chí đạt được cùng lúc ở nhiều nơi. Tâm lý học dần có tên gọi riêng và trên đà trưởng thành để trở thành một khoa học độc lập.
1.1. Bối cảnh kinh tế khoa học thúc đẩy tâm lý học phát triển
Sự phát triển của kinh tế tư bản và khoa học tự nhiên đã tạo tiền đề vững chắc cho lịch sử tâm lý học. Các nhà khoa học lúc bấy giờ, với những khám phá mới, mong muốn hiểu rõ hơn về thế giới nội tâm của con người. Điều này thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các trường phái tâm lý học thế kỷ 19. Sự chú trọng vào lĩnh vực nhận thức đã mở ra những hướng nghiên cứu mới, đặc biệt là về cảm giác, tri giác, và tư duy.
1.2. Sự hình thành các học thuyết lớn trong tâm lý học
Thế kỷ XIX chứng kiến sự hình thành và phát triển của nhiều học thuyết quan trọng trong tâm lý học, như Học thuyết về phản xạ, Học thuyết về các cơ quan cảm giác, và Học thuyết về đại não. Những học thuyết này đặt nền móng cho sự hiểu biết về cơ chế hoạt động của hệ thần kinh và mối liên hệ giữa thế giới vật chất và thế giới tinh thần.
II. Cách Học Thuyết Phản Xạ Thế Kỷ XIX Thay Đổi Tâm Lý Học
Quan niệm về phản xạ đã xuất hiện từ thế kỷ trước, nhưng đến đầu thế kỷ XIX, nhiều công trình nghiên cứu đã tiếp tục làm rõ vấn đề này. Charles Bell (1774-1842), một nhà thần kinh học người Anh, đã phát hiện ra sự khác biệt về chức năng của các rễ trước và rễ sau của thần kinh tủy sống. Ông chứng minh bằng thực nghiệm rằng các sợi thần kinh của rễ sau tiếp nhận các xung động thần kinh truyền tới, còn các sợi thần kinh rễ trước điều khiển vận động. Nghiên cứu của Bell chưa được công bố thì F.Magendie (1783-1855) cũng đi đến kết luận tương tự. Quy luật chuyển xung động thần kinh này về sau được gọi là Quy luật Bell-Magendie. M.Hall và Miller J.Müller là người phát triển học thuyết này một cách triệt để. Muller là giáo sư tại Trường Đại học Beclin (Đức). Các nghiên cứu của M.Müller đi đến kết luận các rễ sau và rễ trước của thần kinh tủy sống bao gồm hai loại thần kinh khác nhau là cảm giác và vận động.
2.1. Nghiên cứu tiên phong của Charles Bell về giải phẫu thần kinh
Charles Bell, với các tác phẩm Phác thảo giải phẫu mdi vé nao (1811) và Về các dây thần kinh (1821), đã khám phá ra rằng dây thần kinh thực chất là bó các dây thần kinh khác nhau, có tính chất riêng được xác định bởi phần não mà sợi thần kinh tham gia vào. Ông đã thiết lập được sự khác nhau về chức năng của các rễ trước và rễ sau của thần kinh tủy sống, chứng minh bằng thực nghiệm rằng các sợi thần kinh của rễ sau làm nhiệm vụ tiếp nhận các xung động thần kinh truyền tới, còn các sợi dây thần kinh rễ trước làm nhiệm vụ điều khiển vận động.
2.2. Quy luật Bell Magendie và ý nghĩa đối với sinh lý học tâm lý học
Phát hiện về quy luật Bell-Magendie có ý nghĩa to lớn đối với sinh lý học và tâm lý học, tương tự như việc phát hiện ra hệ tuần hoàn ở con người. Từ các công trình này, biểu tượng về định vị các con đường thần kinh người dần dần được hình thành. Việc phát hiện này mang đến một góc nhìn mới về cơ chế hoạt động của hệ thần kinh và mối liên hệ giữa các kích thích từ môi trường bên ngoài và phản ứng của cơ thể.
III. Học Thuyết Về Cơ Quan Cảm Giác Nền Tảng Tâm Lý Học Thế Kỷ 19
Nửa đầu thế kỷ XIX xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động của các cơ quan cảm giác, đưa đến những kết luận quan trọng về các quy luật tâm-sinh lý giác quan người. Những người đóng góp công sức to lớn trong lĩnh vực này có thể kể đến: Ch.Bell (1774-1842), F.Magendie (1783-1855), J.Müller (1801-1858), Thomas Young (1773-1829), Ch. Wheatstone (1802-1875), I.Prochaska (1749-1820), J.Purkyne (1787-1869), E.Weber (1795-1875). Các thành tựu trong lĩnh vực này bao gồm nghiên cứu về thị giác, cảm giác màu sắc, và tính nhạy cảm của da.
3.1. Nghiên cứu về hoạt động của thị giác và lý thuyết 3 thành phần sự nhìn màu
Nghiên cứu hoạt động của thị giác với tư cách là một hệ thống sinh lý học mang chức năng sống. Liên quan đến khía cạnh này có công trình nghiên cứu về lý thuyết 3 thành phần sự nhìn màu của Thomas Young và H.Helmholtz. Young đã đưa ra quy luật giao thoa của sóng ánh sáng (1801), nêu ra tư tưởng về thiết diện ngang của sóng ánh sáng (1817), soạn thảo về lý thuyết nhìn màu, và đưa vào áp dụng "suất đàn hồi” được mang tên ông. Các tác phẩm của ông liên quan khá nhiều đến cả lĩnh vực âm học, thiên văn học cũng như sự giải mã các chữ khó đọc của Ai Cập. Kết quả nghiên cứu của Ch.Bell đã khẳng định: Hình ảnh không gian của vật thể được hình thành nhờ vào hoạt động phản xạ của cơ mắt từ đó có thể phát biểu về tính phụ thuộc của hình ảnh chủ quan vào cơ chế khách quan thần kinh cơ bắp.
3.2. Nghiên cứu về cảm giác màu sắc và các hiện tượng kỳ lạ Purkyne
J.Goethe thực hiện công trình “Về lý thuyết màu sắc” (1805-1810) và cho rằng màu đen và màu trắng là các màu cơ bản. J.Purkyne tiếp theo các nghiên cứu của Goethe đã đi sâu khảo cứu sinh lý học tri giác thị giác và đã khám phá ra một loạt các tri thức trong cảm giác thị giác, phát hiện ra sự biến đổi các màu xanh da trời và màu đỏ khi nhìn lúc hoàng hôn, tạo nên cái gọi là “Các hiện tượng kỳ lạ Puakine”. Nghiên cứu bằng thực nghiệm tính nhạy cảm của da và cơ được B.Weber (1795-1878) thực hiện, ông là một trong những người đặt nền móng cho tâm lý học thực nghiệm, ông đã đưa ra ngưỡng phân biệt của cảm giác da.
IV. Đột Phá Học Thuyết Đại Não Thế Kỷ XIX Bản Thể Hoạt Động Tâm Lý
Nửa đầu thế kỷ XIX chứng kiến sự xuất hiện ngày càng nhiều các công trình nghiên cứu về hoạt động của đại não, từ đó đi đến xác định bản thể của hoạt động tâm lý. Nổi bật là một loạt các công trình nghiên cứu của F. Các kết luận của Gall có một số điểm đáng lưu ý: Vỏ não chứ không phải là các buồng não được xem là bản thể của hoạt động tâm lý. Gall và các cộng sự đã giới thiệu bản đồ của não, trên đó ông đã chỉ các vùng não riêng biệt đối với mỗi loại năng lực hoặc vùng cho một loại hiện tượng tâm lý như: vùng yêu thương, vùng thù ghét, vùng khả năng toán học, khả năng sáng tạo.
4.1. Quan điểm của Gall về vai trò của vỏ não và bản đồ não
F.Gall cho rằng vỏ não, chứ không phải các buồng não, là bản thể của hoạt động tâm lý. Ông và cộng sự đã giới thiệu bản đồ não, chỉ ra các vùng não riêng biệt đối với mỗi loại năng lực hoặc hiện tượng tâm lý. Ông cũng nêu ra lập điểm sự phát triển khác nhau của các vùng trên vỏ não dẫn đến ảnh hưởng tới hình thức của xương sọ, và nghiên cứu bề ngoài của xương sọ sẽ cho phép chẩn đoán các đặc trưng cá nhân của nhân cách. Ông là người sáng lập ra khoa học "Phrinôlôghia" - một lý thuyết phản khoa học về mối quan hệ của các phẩm chất đạo đức và tâm lý của con người với cấu trúc của xương sọ. Dẫu sao lý thuyết Phrinôlôghia của Gall đã làm cho vấn để định khu chức năng tâm lý trên não trở thành hấp dẫn, kích thích các công trình nghiên cứu thực sự mang tính khoa học về cấu trúc thần kinh não bộ.
4.2. Nghiên cứu của Pierre Flourens về bán cầu đại não và tiểu não
Pierre Flourens đã dùng phương pháp loại trừ một số phần nào đó của hệ thần kinh trung ương và trong một loạt các trường hợp tác động vào trung tâm não, nơi khu vực nghiên cứu, bằng thuốc mê và đi đến các kết luận: Các quá trình tâm - sinh lý cơ bản là tri giác, trí tuệ, ý chí là sản phẩm của não như là một cơ quan hoàn chỉnh. Tiểu não phối hợp vận động. Trong hành não có trung tâm hô hấp điều khiển sự sống (phát hiện năm 1822). Thị giác có quan hệ với củ não sinh tư. Chức năng của tuỷ sống là tiến hành thúc đẩy kích thích thần kinh. Các công trình của Pierre Flourens giữ vai trò quan trọng góp phần phá vỡ bức tranh thần thoại phản khoa học về hoạt động của não và “bướu” năng khiếu mà Gall đã đề ra.
V. Tâm Lý Học Liên Tưởng Thế Kỷ XIX Thay Đổi Quan Niệm Tư Duy
Dòng tâm lý học liên tưởng đã có từ thế kỷ XVII, sang thế kỷ XIX vẫn được tiếp tục phát triển nhưng đã có những biến đổi để phù hợp với những tiến bộ mới của khoa học tự nhiên. Thuyết liên tưởng cần phải có các cách giải thích mới, trong đó cần phải từ bỏ các quan niệm tư biện trừu tượng về bản thể của cơ thể. Thomas Braun nhấn mạnh, liên tưởng cần phải hiểu như là thuộc tính nội tại, như là hoạt động của trí tuệ chứ không được cất nghĩa theo thuộc tính cơ thể.
5.1. Quan niệm mới về liên tưởng của Thomas Braun
Thomas Braun nhấn mạnh rằng liên tưởng cần phải được hiểu như là thuộc tính nội tại, như là hoạt động của trí tuệ chứ không được cắt nghĩa theo thuộc tính cơ thể. Trong bài giảng “Các bài giảng về triết học của trí tuệ con người” (1820) ông đã phê phán các quan niệm liên tưởng cũ và cho rằng nguyên tắc tính chất kế tiếp trong không gian và trong thời gian quyết định việc chuyển một quá trình cơ thể này sang một quá trình cơ thể khác là hoàn toàn không đầy đủ để hiểu các mối quan hệ tư duy trong ý thức con người, đó là chưa kể đến các hoạt động sáng tạo đã xuất.hiện ở con người.
5.2. Đóng góp của Herbart trong tâm lý học liên tưởng
Herbart quan niệm cơ sở của thế giới là tập hợp của các hiện tượng không thể biết. Ông mưu toan xây dựng tâm lý học như là một hệ thống các khoa học dựa trên phép siêu hình, kinh nghiệm và toán học. Herbart đã đưa ra 4 mức độ (4 nguyên tắc) của việc dạy học (huấn luyện): a. Tính liên tưởng, c. Tính hệ thống, d. Phương pháp. Herbart cũng được xem là người sáng lập, đặt nền móng cho cái gọi là mỹ học chính thông trong đó bàn về cội nguồn của cái đẹp, cái tỉ lệ, cái hài hoà cân đối. giả thuyết của ông về khả năng có tính nguyên tắc phân tích bằng toán học các quan hệ giữa các sự kiện tâm lý học đã được G.Ebinghaus thừa nhận.
VI. Tương Lai Lịch Sử Tâm Lý Học Thế Kỷ XIX Khoa Học Độc Lập
Nửa đầu thế kỷ XIX với các thành tựu của khoa học tự nhiên đem lại trên nhiều lĩnh vực đã làm cho tâm lý học có những bước phát triển mới. Thành tựu của thời kỳ này trên các lĩnh vực nghiên cứu về phản xạ của hệ thần kinh, về hoạt động của các cơ quan cảm giác, hoạt động của não là rất lớn. Các công trình nghiên cứu được tiến hành cùng một lúc ở nhiều nước, cùng đem lại các kết quả như nhau đã khẳng định tính chân thực khách quan khoa học của các hiện tượng tâm lý cần nghiên cứu. Các phương pháp nghiên cứu tâm lý học thời kỳ này đã có những bước tiến rõ rệt, nổi lên là các phương pháp thực nghiệm, thử nghiệm có sự hỗ trợ của các phương tiện, công cụ nghiên cứu riêng và có sử dụng các phương pháp thống kê xử lí của toán học. Tâm lý học được tiếp tục khẳng định, có điều kiện phát triển để trở thành một khoa học độc lập.
6.1. Phương pháp nghiên cứu tâm lý học có những bước tiến mới
Các phương pháp nghiên cứu tâm lý học thời kỳ này đã có những bước tiến rõ rệt, nổi lên là các phương pháp thực nghiệm, thử nghiệm có sự hỗ trợ của các phương tiện, công cụ nghiên cứu riêng và có sử dụng các phương pháp thống kê xử lí của toán học. Các nhà khoa học đã bắt đầu sử dụng các công cụ đo lường và thống kê để thu thập và phân tích dữ liệu, làm cho các nghiên cứu tâm lý học trở nên khách quan và tin cậy hơn.
6.2. Tâm lý học trên đà trở thành một khoa học độc lập
Tâm lý học được tiếp tục khẳng định, có điều kiện phát triển để trở thành một khoa học độc lập. Sự tích lũy các kiến thức và phương pháp nghiên cứu đã giúp tâm lý học dần tách khỏi triết học và sinh lý học, hình thành một lĩnh vực nghiên cứu riêng biệt với đối tượng, phương pháp và mục tiêu cụ thể.
TÀI LIỆU LIÊN QUAN
Bạn đang xem trước tài liệu:
Giáo trình lịch sử tâm lý học phần 2
THÔNG TIN CHI TIẾT
Chuyên ngành: Tâm Lý Học
Đề tài: Lịch Sử Tâm Lý Học Nửa Đầu Thế Kỷ XIX
Loại tài liệu: Bài giảng
Năm xuất bản: Thế kỷ XIX
Trích đoạn nội dung tài liệu
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ