Giáo Trình Lịch Sử Tâm Lý Học Phần 2: Các Tư Tưởng Nổi Bật Thế Kỷ XIX

Giáo trình lịch sử tâm lý học phần 2: Khám phá các trường phái tâm lý học lớn, các nhà tư tưởng có ảnh hưởng và sự phát triển của tâm lý học hiện đại.

Chuyên ngành

Tâm Lý Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Bài giảng

Thế kỷ XIX

137
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

VI. CHƯƠNG VI CÁC TƯ TƯỞNG TÂM LÝ HỌC NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX

1. KHÁI QUÁT CHUNG

1. Học thuyết phản xạ

2. Học thuyết về các cơ quan cảm giác

3. Học thuyết về đại não

4. Tâm lý học liên tưởng

VII. CHƯƠNG VII SỰ RA ĐỜI CỦA TÂM LÝ HỌC VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT KHOA HỌC ĐỘC LẬP

1. KHÁI QUÁT CHUNG

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chuong VI CÁC TƯ TƯỞNG TÂM LÝ HỌC NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX 1. KHÁI QUÁT CHUNG - Đầu thế kỷ XIX, kinh tế của các nhà nước tư bản châu Âu đạt được những thành tựu đáng kể. Những phát kiến trong các lĩnh vực khoa học khác nhau, đặc biệt là trong sinh lý học, vật lý, hoá học. đã làm cho chính xác hơn cách nhìn của con người về các hiện tượng thuộc đời sống tâm hồn, kích thích các nghiên cứu về tâm hồn, tâm lý con người phát triển, đặc biệt là các nghiên cứu trong lĩnh vực nhận thức. - Sự phát triển các tư tưởng tâm lý học thời kỳ này là đáng kể. Nổi bật trong đó là Học thuyết về phản xạ; Học thuyết về các cơ quan cảm giác; Học thuyết về đại não và các thành tựu nghiên cứu về tâm lý học liên tưởng. Điều đáng chú ý là nhiều thành tựu kể trên đã có sự tham gia đồng thời của nhiều nhà khoa học ở nhiều nước, có thành tựu đạt được cùng một lúc ở nhiều nơi. Tâm lý học đã có tên gọi riêng. Khoa học tâm lý đang trên đường trưởng thành trở thành một khoa học độc lập.CÁC THÀNH TỰU TÂM LÝ HỌC NỦA ĐẦU THẾ KỶ XIX 1. Học thuyết phản xạ - Quan niệm về phản xạ đã có từ các thế kỷ trước, từ Descartes (thế kỷ thứ XVID, nhưng những hiểu biết về sự kiện này còn chưa rõ. Những năm đầu thế kỷ XIX đã có nhiều công trình nghiên cứu tiếp tục làm rõ về vấn đề này: * Một trong những người đi tiên phong nghiên cứu về giải phẫu thần kinh là nhà thần kinh học người Anh Charles Bell (1774-1842), người chuyên nghiên cứu sâu về sự truyền dẫn của các dây thần kinh tuỷ sống. Các tác phẩm của ông gồm có: Phác thảo giải phẫu mdi vé nao (1811) và Về các dây thần kinh (1821). Các công trình nghiên cứu của Ch.Bell đã phát hiện: + Dây thần kinh, trên thực tế là bó các dây thần kinh khác nhau, có tính chất riêng. Tính chất này được xác định bởi phần não mà sợi thần kinh tham gia vào. Bell da theo dõi tất cả các sợi thần kinh đi vào não nhằm phát hiện cấu trúc của não. Với đại não, ông không thành công. Với tuỷ sống ông đã có các phát kiến quan trọng. Ông đã thiết lập được sự khác nhau về chức năng của các rễ trước và rễ sau của thần kinh tuỷ sống. Ông đã chứng minh bằng thực nghiệm cho thấy các sợi thần hình của rễ sau làm nhiệm uụ tiếp nhận các xung động thần kinh truyền tới (dây nhận cảm ) còn các sợi dây thần kinh rễ trước làm nhiệm uụ điêu khiển uận động. Ông đã tiến hành chuyển xung động theo các dây thần kinh hướng tâm thông qua tuỷ sống tới các dây thần kinh ly tâm. Các điều nêu ra này đã được C. Bell chứng minh bằng thực nghiệm. 112 * Điều đặc biệt là các nghiên cứu của C. Bell chưa được công bố thì cùng vào những năm này, nhà sinh lý học Pháp tên là F.Magendie (1783-1855) một nhà nghiên cứu sinh lý học người Pháp chuyên nghiên cứu về sinh lý học hệ thần kinh cũng đã đi đến những kết luận tương tự. Trong nhiều năm Magendie đã cố gắng phát hiện qui luật của việc sắp xếp. phân chia các sợi thần kinh cảm giác và vận động trong tuỷ sống. Qui luật chuyển xung động thần kinh như vậy về sau này được gọi là qui luat Bell - Magendie. Việc phát hiện này có ý nghĩa to lớn đối với sinh lý học, tâm lý học tương tự như việc phát hiện ra hệ tuần hoàn ở con người. Từ các công trình này, biểu tượng về định vị các con đường thần kinh người dẫn dần được hình thành. * Học thuyết về phản xạ được phát triển nhất quán, triệt để do một bác sĩ người Anh là M.Hall và Miller J.Mũller là giáo sư tại Trường Đại học Beclin (Đức), viện sĩ thông tấn nước ngoài của viện hàn lâm khoa học Pêtécbua (1832) Ông là người chuyên nghiên cứu về sinh lý học thân kinh trung ương và các cơ quan cảm giác. Các tác phẩm của ông tập trung vào phản ánh kết quả phân tích tìm hiểu hệ thống thần kinh, các cơ quan cảm giác, giải phẫu so sánh, các vấn để về sự phát triển phôi. Ông cũng là một trong những người sáng lập nên cái gọi là chủ nghĩa duy tâm sinh lý học. Các nghiên cứu của M.Mũller đã đi đến kết luận, các rễ sau và rễ trước của thần kinh tủy sống bao gồm từ hai loại thần kinh khác nhau là cảm giác và vận động. Trong một nghiên cứu của M. Hall (1837), ông viết: “Phan xa được gây ra bởi kích thích không phải là các bó cảm nhận mà là từ các bó thần kinh vận động không phụ 113 thuộc vào các bó nhận cảm”. Miillerda cho ra mắt cuốn “Giáo khoa sinh lý người”. Học thuyết về các cơ quan cảm giác Nửa đầu thế kỷ XIX xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động của các cơ quan cảm giác đưa đến những kết luận quan trọng về các qui luật tâm- sinh lý giác quan người. Những người đóng góp công sức to lớn trong lĩnh vực này có thể kể đến Ch.Bell (1774-1842), nhà sinh lý học, thần kinh học người Anh; F.Magendie (1783- 1855), nhà sinh lý học thần kinh Pháp; J.Mũller (1801- 1858), nhà sinh lý học Đức; Thomas Young (1773-1829), nhà vật lý học và là bác sĩ người Anh; Ch. Wheatstone (1802-1875), nhà vật lý học người Anh; I.Prochaska (1749- 1820), nhà sinh lý học, nhà giải phẫu học người Tiệp Khắc; J.Purkyne (1787-1869), nha sinh ly hoc, nha tương lai học người Tiệp Khác; E.Weber (1795-1875), nhà giải phẫu, nhà sinh lý học người Đức. Các thành tựu trong lĩnh vực này có thể kể đến: - Nghiên cứu hoạt động của thị giác (mắt) uới tư cách là một hệ thống sinh lý học mang chức năng sống. Liên quan đến khía cạnh này có công trình nghiên cứu về lý thuyết 3 thành phần sự nhìn màu của Thomas Young, nhà vật lý học và là bác sĩ người Anh và H,Helmholtz (1821- 1894), nhà sinh lý học, nhà khoa học tự nhiên người Đức.Young (1773-1829) là nhà bác học người Anh, một trong những người sáng lập ra lý thuyết sóng về ánh sáng. Ông đã đưa ra qui luật giao thoa của sóng ánh sáng (1801), nêu ra tư tưởng về thiết diện ngang của sóng ánh sáng (1817). 114 Ông cũng đã đưa ra luận điểm giải thích về sự điều tiết, thích ứng của mắt.Young cũng đã soạn thảo về lý thuyết nhìn màu.Ông cũng đưa vào áp dụng "suất đàn hồi” được mang tên ông. Các tác phẩm của ông liên quan khá nhiều đến cả lĩnh vực âm học, thiên văn học cũng như sự giải mã các chữ khó đọc của Ai Cập. Công trình của Stênbyx ( nhà sinh lý học người Đức) đã đi đến kết luận: Trỉ giác của con người được hình thành dần dần nhờ uào quan hệ giữa các sản phẩm của hoạt động của các cơ quan cảm giác uà phản ứng uận động. Nghiên cứu của Ch.Bell đã khẳng định: Hình ảnh không gian của vật thể được hình thành nhờ vào hoạt động phản xạ củacơ mắt từ đó có thể phát biểu về tính phụ thuộc của hình ảnh chủ quan vào cơ chế khách quan thần kinh cơ bắp.Wheatston (1802-1875), nhà vật lý học người Anh, người đã phát minh ra máy điện báo được mang tên ông (1858), phát hiện ra sự tự kích thích của máy điện (1867), đưa ra phương pháp đo điện và trưng bày nhiều dụng cụ máy móc khác nhau. Ông cũng đã có những kết luận có giá trị về hoạt động của mắt. Chẳng hạn, các quan hệ thần kinh- tâm lý trong hệ thống thị giác không có được ngay từ khởi đầu mà được hình thành dần dần nhờ vào kinh nghiệm luyện tập. €hính Wheatston đã nghiên cứu thị giác bằng kính lập thể tự sáng chế. Xêtrênốp đã có sự đánh giá cao các kết quả nghiên cứu của Wheatstone và coi các kết quả này như là sự khởi đầu của tâm lý học như là một khoa học kinh mghiệm. - Một hướng nghiên cứu khác về thị giác ở thời kỳ này có thể kể đến là các nghiên cứu hoạt động của các cơ quan cảm giác khác liên quan đến thị giác, chẳng hạn, biểu 115 tượng không gian về vật thể liên quan rất chặt tới biêu tượng của xúc giác. - Nghiên cứu sâu về cấu trúc thần kinh thị giác do Thomas Young (1773-1829) tiến hành. Ông đã đưa ra giả thuyết võng mạc chứa 3 loại sợi thần kinh trong đó mỗi sợi điều khiển một tia sáng cho ta cảm giác về màu đỏ, màu xanh lá cây, màu xanh da trời (1801). - Thời kỳ:này có một công trình nghiên cứu khá thú vị về cảm giác màu sắc do J.Goethe (1749-1832) là nhà thơ, nhà khoa học tự nhiên và là nhà tư tưởng vĩ đại người Đức thực hiện trong công trình mang tên “Về lý thuyết màu sắc” viết từ năm 1805-1810 mà ông cho rằng còn giá trị cao hơn các sáng tác thơ ca của ông. Trong công trình này, Goethe cho rằng màu đen và màu trắng là các màu cơ bản. Các môi trường khoảng cách (như không kh?) tham gia tạo thành các mầu còn lại. Mặt trời phụ thuộc vào môi trường không khí mờ đục được tiếp nhận khi là màu trắng, da cam và thậm chí là màu đỏ. Các kết luận của Goethe là không đúng song các phát hiện này của ông đã kích thích cho việc quan sát kỹ đằng sau các trải nghiệm trực tiếp về màu sắc ở con người. Dưới ảnh hưởng của Goethe, Miiller cũng bắt tay vào nghiên cứu cảm giác màu sắc.Purkyne (Puakine) (1787-1869) là nhà tưỡng lai học, nhà khoa học tự nhiên người Tiệp Khắc, viện sĩ thông tấn người nước ngoài của Viện Hàn lâm khoa học Pêtécbua (1836) tiếp theo các nghiên cứu của Goethe đã đi sâu khảo cứu sinh lý học tri giác thị giác và đã khám phá ra một loạt các tri thức trong cảm giác thị giác. Ông đã phát hiện ra sự biến đổi các màu xanh da trời và màu đỏ khi nhìn lúc hoàng hôn cùng nhiều kết quả nghiên cứu khác của ông đã tạo nên cái gọi là “Các hiện tượng kỳ lạ Puakine”. 116 - Một kết quả nữa phải kể đến là sự xuất hiện giả thuyết “Vong than kinh” hop nhat não với co bắp và cơ bắp với não. Điều này liên quan đến các công trình của Ch.Bell lần đầu tiên đã đưa ra tư tưởng liên hệ uòng giữa các quá trình cảm giác và cơ bắp. đã được đánh giá là một phỏng đoán tuyệt vời về bản chất phản xạ của nhận thức cảm tính. - Nghiên cứu bằng thực nghiệm tính nhạy cảm của da va co được B.Weber (1795-1878) thực hiện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ