Đề tài: Lịch sử Luật học Việt Nam (1862-1945) do PGS. Nguyễn Quang Tuyên chủ nhiệm

Phân tích toàn diện Lịch sử Luật học Việt Nam (1862-1945): Nghiên cứu chuyên sâu với phương pháp khoa học, ứng dụng thực tiễn hiệu quả

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Nghiên cứu khoa học

2024

283
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Bối cảnh lịch sử và những ảnh hưởng đến luật học Việt Nam 1862 1945

Lịch sử luật học Việt Nam giai đoạn 1862-1945 là một thời kỳ chuyển biến sâu sắc, đánh dấu bởi sự va chạm giữa truyền thống pháp luật phong kiến với luật học phương Tây hiện đại. Trong suốt 83 năm thuộc Pháp, nền luật học Việt Nam trải qua các biến đổi căn bản từ hệ thống pháp luật cổ truyền sang pháp luật Pháp và sự xuất hiện của các tư tưởng pháp lý mới mẻ. Bối cảnh lịch sử phức tạp này tạo ra một môi trường học thuật đặc biệt nơi các nhà luật gia Việt Nam phải tiếp nhận, sàng lọc và vận dụng các học thuyết tư tưởng chính trị-pháp lý từ Pháp, từ Phương Tây, thậm chí cả từ Học thuyết Mác-Lênin. Những yếu tố này đã tạo nên nền tảng cho sự hình thành và phát triển của luật học hiện đại Việt Nam.

1.1. Quá trình thiết lập chế độ Pháp thuộc và chính sách cai trị

Từ năm 1862, Pháp bắt đầu chinh phục Việt Nam, hoàn tất việc thiết lập Đông Dương Pháp thuộc vào năm 1887. Chính sách cai trị của Pháp nhằm mục đích khai thác kinh tế và áp dụng pháp luật Pháp tại các địa phương. Việc này tạo ra một hệ thống pháp luật song hành giữa luật pháp phương Tây và pháp luật truyền thống Việt Nam, tạo điều kiện cho luật học hiện đại bắt đầu xuất hiện và phát triển.

1.2. Tác động của bối cảnh lịch sử đến nền luật học

Bối cảnh lịch sử phức tạp đã thúc đẩy sự hình thành các trường phái luật học Việt Nam có đặc trưng riêng. Phong trào đấu tranh và các tư tưởng cách mạng đã mang đến những khái niệm pháp lý mới như quyền con người, pháp quyềnchủ nghĩa lập hiến. Sự kết hợp này tạo ra một hệ thống luật học độc đáo vừa chịu ảnh hưởng phương Tây vừa bảo toàn những giá trị truyền thống.

II. Các học thuyết tư tưởng chính trị pháp lý thời kỳ Pháp thuộc

Thời kỳ 1862-1945 là giai đoạn du nhập và tiếp nhận các học thuyết phương Tây vào Việt Nam. Tư tưởng pháp quyềnchủ nghĩa lập hiến trở thành những khái niệm trung tâm trong luật học Việt Nam thời kỳ này. Các nhà trí thức Việt Nam bắt đầu làm quen với tư duy pháp lý hiện đại, trong đó nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức quyền lực mới. Đặc biệt, vào giai đoạn sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Học thuyết Mác-Lênin về chính trị và pháp luật cũng bắt đầu du nhập và có ảnh hưởng sâu sắc đến các nhà luật gia tiến bộ. Sự tiếp nhận và vận dụng các học thuyết này không phải là sự tiếp nhận thụ động mà là một quá trình chủ động sáng tạo để phù hợp với điều kiện lịch sử Việt Nam.

2.1. Tư tưởng pháp quyền và chủ nghĩa lập hiến

Tư tưởng pháp quyền nhấn mạnh sự tách biệt quyền lựctuân thủ pháp luật. Trong bối cảnh Việt Nam, những ý tưởng này được các nhà cải cáchnhà trí thức tiếp nhận và vận dụng sáng tạo. Chủ nghĩa lập hiến đề xuất một hệ thống pháp luật cơ bản để giới hạn quyền lựcbảo vệ quyền công dân, tạo ra những điều khoản pháp lý mới trong luật học Việt Nam.

2.2. Học thuyết Mác Lênin và ảnh hưởng đối với luật học

Học thuyết Mác-Lênin được giới thiệu vào Việt Nam từ những năm 1920, mang đến quan điểm mới về chính trị và pháp luật. Học thuyết này nhấn mạnh vai trò của luật pháp trong cuộc đấu tranh giai cấpxây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa. Ảnh hưởng này là nền tảng cho luật học cách mạng phát triển sau này tại Việt Nam độc lập.

III. Hoạt động xây dựng pháp luật và những đặc trưng nổi bật

Hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc (1862-1945) có những đặc trưng độc đáo, phản ánh sự kết hợp giữa pháp luật phương Tây và pháp luật truyền thống. Chủ thể xây dựng pháp luật chủ yếu là các cơ quan Phápchính quyền địa phương, nhưng cũng có sự tham gia của các nhà trí thức Việt Nam. Hoạt động pháp điển hóa pháp luật được chú trọng đặc biệt, đặc biệt trong lĩnh vực luật dân sự, luật hình sựluật thương mại. Các Chỉnh lệ, Sắc lệnhTường trình được công bố rộng rãi để áp dụng thực tiễn. Nội dung pháp luật thời kỳ này thể hiện sự kết hợp tinh tế giữa nguyên tắc pháp luật Pháp với quy tắc pháp luật phong kiến Việt Nam, tạo ra những qui định pháp lý độc đáo phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể.

3.1. Những đặc trưng và kỹ thuật xây dựng pháp luật

Đặc trưng nổi bật của hoạt động xây dựng pháp luật bao gồm sự đa dạng về nguồn pháp luật, kết hợp giữa Luật Pháp, Luật Việt Nam truyền thốngTập quán địa phương. Kỹ thuật xây dựng pháp luật được áp dụng có tính chuyên môn cao, với các qui định chi tiết về trình tựthủ tục áp dụng pháp luật. Hoạt động soạn thảo các hương ước mới phản ánh nỗ lực hiện đại hóa hệ thống pháp luật Việt Nam.

3.2. Giá trị từ thực tiễn xây dựng pháp luật thời kỳ thuộc Pháp

Giá trị được đúc rút từ thời kỳ này bao gồm cách tiếp cận linh hoạt trong áp dụng pháp luật, sự tôn trọng đối với pháp luật truyền thốngquy tắc địa phương. Những kinh nghiệm này cung cấp bài học quý báu cho xây dựng pháp luật hiện đại, nhất là trong việc bảo toàn các giá trị truyền thống đồng thời tiếp nhận những tiến bộ pháp lý mới.

IV. Hệ thống tòa án đào tạo luật và giá trị hướng tới tương lai

Hệ thống tòa án Việt Nam thời thuộc Pháp được tái cấu trúc theo mô hình pháp luật Pháp, tạo ra một cơ cấu tòa án song hành giữa tòa án Pháptòa án địa phương. Nguyên tắc tư pháp độc lập bắt đầu được áp dụng, mặc dù chưa hoàn toàn. Đào tạo luật ở Việt Nam giai đoạn này bắt đầu từ năm 1931 với việc thành lập Trường Đại học Tổng hợp Hà Nộibộ môn Luật. Đào tạo luật thời kỳ này mang đặc trưng kết hợp giữa đào tạo lý thuyết theo mô hình Phápthực tiễn pháp luật Việt Nam. Nghề luật ở Việt Nam cũng hình thành và phát triển trong giai đoạn này, với sự xuất hiện của các luật sư chuyên nghiệpcông chứng viên. Những giá trị gợi mở từ thời kỳ này hướng tới việc xây dựng đào tạo luật hiện đạiphát triển nghề luậtchất lượng caotuân thủ tiêu chuẩn quốc tế.

4.1. Tổ chức và hoạt động của hệ thống tòa án

Hệ thống tòa án được tổ chức theo cấp với tòa án cơ sở, tòa án phúc thẩmtòa án tối cao. Thực tiễn xét xử thời kỳ này cho thấy sự áp dụng pháp luật kết hợp giữa pháp luật Pháppháp luật truyền thống Việt Nam. Các vụ án điển hình thời kỳ này cung cấp những tiền lệ pháp lý quan trọng cho sự phát triển luật học Việt Nam sau này.

4.2. Đào tạo luật nghề luật và những giá trị kế thừa

Đào tạo luật thời kỳ 1931-1945 đặt nền tảng cho giáo dục pháp luật hiện đại tại Việt Nam. Chương trình đào tạo bao gồm những môn học cơ bản về luật dân sự, luật hình sựluật hành chính. Nghề luật phát triển với quy chuẩn chuyên môn cao, tạo ra đội ngũ luật sưkỹ năng pháp lý vững chắchiểu biết về cả hai hệ thống pháp luật, là nền tảng cho phát triển luật học độc lập sau này.

07/12/2025
De tai nghien cuu khoa hoc cap truong lich su luat hoc viet nam giai doan 1862 1945 phan 1

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 MOT SỐ VAN DE LÍ LUẬN VE LUẬT HỌC VÀ CÁC YEU TO TAC DONG DEN LUAT HỌC VIỆT NAM THỜI Ki THUOC PHAP (1862-1945) 1. Một số van đề lí luận về luật học Như đã nêu ở phần mở dau, luật học được tiếp cận ở những góc độ khác nhau và với mỗi cách tiếp cận thuật ngữ “luật học” lại được gan với một ngữ nghĩa cụ thể.2 Rộng nhất và phô biến nhất hiện nay, luật học được quan niệm là tri thức, khoa học về pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật cũng được nhìn nhận từ nhiều chiều cạnh, với các nội dung rộng, hẹp khác nhau; vì vậy, đã tồn tại nhiều trường phái luật học khác nhau như: trường phái luật học hình thức (formalism) đối lập với trường phái luật học hiện thực (realism); trường phái luật học thực chứng (positivisim) đối lập với trường phái luật hoc tự nhiên (naturalism).* Chăng hạn, luật học thực chứng tập trung nghiên cứu pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự đo nhà nước ban hành và tô chức thực thi; trong khi đó luật học tự nhiên cho rằng pháp luật không chỉ là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành mà còn bao hàm cả triết lý đạo đức, tôn giáo, lý trí và lương tâm cá nhân." Ở Việt Nam, các nghiên cứu có đưa ra khái niệm luật học còn khá khiêm tốn. Trong một nghiên cứu của mình, tác giả Phạm Duy Nghĩa cho rằng, theo nghĩa rộng, luật học là “một hoặc những khoa học giúp tìm hiểu về luật, được hiểu là một hệ thống những quy tắc và chuẩn mực ứng xử giữa con người trong xã hội, được nhà nước thừa nhận và bảo đảm thi hành”.° Cách tiếp cận luật học theo trường phái thực chứng nêu trên của tác giả Phạm Duy Nghĩa dường như trở nên tương đối phô biến hiện nay ở Việt Nam.

? Roscoe Pound (1959), Jurisprudence, St. Paul, Minn, West Pub. 3Xem https://curriculum.edu/jd/jurisprudence/; Roscoe Pound (1959), Jurisprudence, St. Paul, Minn, West Pub., 7; Robert Alexy va Ralf Dreier (1990), The Concept of Jurisprudence, Ratio Juris Vol.

4 Xem: https://www.edu/wex/jurisprudence về quan niệm các trường phái luật học khác nhau. > Xem: https://www.edu/wex/jurisprudence. 6 Pham Duy Nghĩa (2014), Phương pháp nghiên cứu luật hoc, NXB Công an Nhân dân, trang 25. a Vi du xem: https://dec.

vn/nganh-luat-hoc-nhung-mon-gi-co-de-xin-viec-khong; -dieu-sinh-vien-can-biet-ve-nganh-luat/. 17 Khi đã thông nhất xác định luật học là tri thức, khoa học về pháp luật, van dé quan trọng hơn được đặt ra là luật học bao ham những phương diện nội dung nào? Đây là van đề tương đối phức tạp vì bản thân luật học là lĩnh vực rộng, nghiên cứu hàng loạt các van đề khác nhau liên quan đến bản chất pháp luật, các hệ thống pháp luật, các quy định pháp luật, khái niệm pháp lý và bao trùm hơn là các khía cạnh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá — tư tưởng pháp luật làm cơ sở cho việc thực thi pháp luật.Š Với cách nhìn như vậy, việc nhận diện những phương diện nội dung cơ bản của luật học là cần thiết nhưng lại là công việc không đơn giản và phụ thuộc vào mỗi cách tiếp cận cụ thé. Chang han, ở Hoa Ky, tiép cận luật hoc là khoa học về pháp luật, luật học thường được đồng nhất với triết học pháp luật (philosophy of law).? Đây là một nhánh của triết học tập trung vào việc nghiên cứu và phân tích bản chất, vai trò của pháp luật trong xã hội cũng như mối quan hệ giữa pháp luật với các giá tri đạo đức, chính tri, văn hoá và xã hội khác. Triết học pháp luật không chỉ đơn thuần trả lời câu hỏi về cách pháp luật vận hành đi sâu vào vào bản chất, mục đích và tính hợp lý của pháp luật.

Trên cơ sở đó, bốn phương diện nội đung sau đây được xem là những yêu tô co bản của luật học ở Hoa Kỳ!?: -Phương diện nội dung đầu tiên và nỗi bật nhất của luật học là phân tích, giải thích, phân loại, nhận xét đánh giá các lĩnh vực pháp luật (nội dung này của luật học thường được tìm thấy trong giáo trình luật của các cơ sở đào tạo luật hoặc bách khoa toàn thư về luật); -Phương điện nội dung thứ hai của luật học là tìm hiểu quan hệ, tương quan so sánh giữa pháp luật với các lĩnh vực tri thức khác như văn học, kinh tế học, tôn giáo hoặc các môn học khoa học xã hội khác; -Thứ ba, luật học làm rõ cơ sở lịch sử, đạo đức, văn hoá của các khái niệm pháp lý cụ thé; Š Xem: https://www.in/blogs/introduction-to-jurisprudence/ ? https://Awww.edu/wex/jurisprudence.edu/wex/jurisprudence 18 -Thứ tư, luật học trả lời cho những câu hỏi mang tính chất chung, trừu tượng như “pháp luật là gi?” hoặc “làm thé nao để thẩm phán có các phán quyết phù hợp”. Trong đề tài nghiên cứu này, tiếp cận luật học với tư cách là tri thức về pháp luật, theo chúng tôi, tri thức luật học là tri thức về pháp luật ở bình diện rộng nhất. Gan với mỗi quốc gia, tri thức luật học thông thường được nhìn nhận ở các phương diện nội dung sau đây: -Thứ nhất, hệ thống các tư tưởng, học thuyết, quan điểm chính trị-pháp lý làm co sở cho việc hình thành, phát trién và vận hành của hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Đây chính tập hợp các quan điểm, học thuyết về vai trò của pháp luật, nhà nước và quyên lực chính trị trong xã hội bao gồm các tư tưởng chính trị- pháp lý, các học thuyết chính trị và pháp luật, các quan điểm chính trị- pháp lý.

Có thé khang định, yếu tố này là xương sống của hệ thống pháp luật ở bất cứ quốc gia nào bởi nó không những cung cấp cơ sở lý luận cho việc hình thành, phát triển của hệ thống pháp luật mà còn định hướng cho sự vận hành của pháp luật trong thực tiễn đời sống của mỗi quốc gia. -Thứ hai, tri thức về các lĩnh vực pháp luật được xây dựng và vận hành trong thực tiễn. Đây là toàn bộ những tri thức về nguyên tắc, nội dung quy định, cách thức tổ chức thực hiện cũng như thực tiễn thực hiện ở từng lĩnh vực pháp luật cụ thé của mỗi quốc gia. Nội dung tri thức này phản ánh bức tranh sinh động về hệ thống pháp luật và sự vận hành của hệ thong pháp luật ở mỗi quốc gia.

- Thứ ba, tri thức về các hoạt động nghề nghiệp trong lĩnh vực pháp luật. Đây là toàn bộ những tri thức liên quan đến quy định của pháp luật về yêu cầu kiến thức, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp đối với những người hành nghề luật như luật sư, thâm phán, công chứng viên, nhân viên hành chính. cũng như thực tiễn hành nghề của các đối tượng này. Tri thức này giúp chúng ta hình dung rõ ràng hơn về sự vận hành của hệ thống pháp luật trong thực tiễn, về ý thức và văn hoá pháp luật trong đời sống của mỗi quốc gia.

19 -Thứ tư, tri thức về hoạt động nghiên cứu, đào tạo luật. Ở bình diện của mỗi quốc gia, luật học được tiếp cận ở góc độ là “nền luật học”, phản ánh tri thức luật học gắn với sự hình thành, phát triển của hệ thống pháp luật trong mối tương quan với các yếu tô chính tri, kinh tế- xã hội, văn hoá, lịch sử của từng quốc gia. Nền luật học của mỗi quốc gia gắn với hệ thống các nguyên lý, học thuyết, tư tưởng và quan điểm pháp lý cơ bản đã được định hình ở mỗi quốc gia tạo thành nền tang lý luận cho hệ thống pháp luật của quốc gia đó. Bên cạnh đó, những đặc thù của mỗi quốc gia cũng góp phan tạo nên hình ảnh đặc trưng của nên luật học của quốc gia mình.

Nền luật học của mỗi quốc gia chịu sự anh hưởng, tác động của nhiều yếu tố, trong đó phải ké đến: (i) Lịch sử hình thành và phát triển của mỗi quốc gia; (ii) Chế độ chính trị; (iii) Văn hoá và tôn giáo; (iv) Kinh tế; (v) Các yếu tô xã hội. Như vậy, có thé thay mỗi quốc gia có nền luật học riêng biệt, phản ánh sự kết hợp giữa truyền thống lịch sử, văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội đặc thù của quốc gia đó. Luật học được tiếp cận từ góc nhìn là nên luật học Việt Nam với các dau ấn của lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hoá- xã hội của Việt Nam gắn với từng thời kỳ, giai đoạn. Nghiên cứu đặt trong bối cảnh như vậy sẽ giúp chúng ta có được kết quả chân xác vé sự phát triển của nền luật học Việt Nam trong lịch sử, từ đó gợi mở những bài kinh nghiệm cho việc xây dựng, thực thi pháp luật trong điều kiện hiện nay.

Boi cảnh lịch sử và sự tác động đến luật học Việt Nam thời kì thuộc Pháp (1862-1945) 2. Quá trình xác lập và chính sách cai tri của Pháp & Việt Nam Năm 1858, Pháp nỗ súng tan công vào bán đảo Sơn Trà (Da Nẵng) mở đầu quá trình chính thức xâm lược Việt Nam. Thất bại trong chiến lược đánh nhanh thắng nhanh, Pháp chuyển hướng tấn công vào khu vực miền Nam. Trong khoảng thời gian từ 1962 - 1974 Pháp đã lần lượt buộc triều Nguyễn phải kí kết các hàng ước nhượng lục tỉnh Nam Kỳ cho Pháp.

Nam Kỳ trở thành thuộc địa (colonie) của Pháp. Sau khi cơ bản ôn định được chỗ đứng và xây dựng bộ máy 20 cai trị của mình ở vùng thuộc địa Nam Kỳ, từ năm 1882 Pháp bắt đầu tổ chức các cuộc tấn công ra miền Bắc. Sự yêu nhược của triều Nguyễn, cũng như sự chênh lệch lớn về năng lực, trình độ quân sự nên dù nhân dân ta chiến đấu quật cường, anh đũng nhưng cuối cùng đều thất thủ. Triều Nguyễn đã buộc phải kí liên tiếp hai hòa ước Harmand năm Qui Mùi 1883 và Patenôtre năm Giáp Thân 1884 công nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

Bắc Kỳ và Trung Kỳ trở thành đất bảo hộ (protectorat) của Pháp. Như vậy, sau 26 năm chiến tranh (1858-1884), qua các bản hiệp ước kí với triều đình nhà Nguyễn, Pháp đã dần dần biến Việt Nam từ một nước độc lập thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Triều Nguyễn đã để mat chủ quyền đất nước vào tay người Pháp, đồng thời đánh dau sự cai trị của thực dân Pháp trên toàn lãnh thé Việt Nam. Trước khi quyết định nổ súng xâm lược Việt Nam, người Pháp đã có một quá trình chuẩn bị lâu dài.

Bắt đầu là việc các thương nhân cùng với các giáo sĩ, các nhà nghiên cứu thông qua hoạt động buôn bán và truyền giáo đã sớm có những nghiên cứu về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa của Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ