đặt vấn đề biên soạn quốc sử lên hàng đầu. Nhiều tác phẩm sử học chính thống của vương triều lần lượt ra đời như: Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí,… Những thành tựu sử học mà triều Nguyễn đạt được đã phần nào thể hiện thái độ trân trọng quá khứ của các vị vua triều Nguyễn, cũng như ý thức gìn giữ những giá trị văn hiến dân tộc của triều đại này. Nếu không nói đến những mặt tiêu cực còn tồn tại, thì những di sản văn hóa mà triều Nguyễn để lại là cả một kho tàng đồ sộ, đáng để tự hào và gìn giữ. Chính những cố gắng đáng ghi nhận trong các chính sách văn hóa của triều Nguyễn, đã tạo nên sự chuyển biến tích cực và sự khởi sắc thực sự cho nền văn hóa dân tộc.
Giáo dục Nho học được củng cố, năm 1807 đã diễn ra khoa thi Hương đầu tiên dưới triều Nguyễn và 1822, khoa thi Hội đầu tiên được tổ chức. Tuy nhiên số người đi thi và đỗ đạt không nhiều so với thế kỉ trước. 11 Có thể thấy, nhà Nguyễn đã có những cống hiến lớn trên lĩnh vực văn hoá giáo dục: Đại thi hào Nguyễn Du, di sản văn hoá thế giới: Cố đô Huế…để lại một khối lượng văn hoá phi vật thể và vật thể rất lớn. Như vậy, nền thống trị của nhà Nguyễn được xác lập từ năm 1802 kéo dài 143 năm (1802-1945) qua 13 đời vua với nhiều sự kiện, sóng gió làm thay đổi cả một đất nước.
Đến năm 1945, triều đại này chính thức chấm dứt sứ mệnh lịch sử của mình. Tất nhiên, đây là khó khăn chung của các nước nhược tiểu mà triều đình nhà Nguyễn không thể vượt qua trong tình hình Đông - Tây bấy giờ. Nhưng, chúng ta không thể phủ nhận rằng, chính nhà Nguyễn đã có công lớn trong công cuộc thống nhất đất nước ở nửa đầu thế kỉ XIX và mở mang bờ cõi đất nước xuống phía Nam, tạo điều kiện xây dựng và phát triển đất nước. Trong bài “Vài suy nghĩ về vị thế xứ Huế và vị thế lịch sử của nó”.
Giáo sư Trần Quốc Vượng đã đưa ra một nhận định đầy công tâm và chính xác về nhà Nguyễn: “Có thời Nguyễn, chúng ta mới có được một Việt Nam hoàn chỉnh như ngày nay”. Vài nét về đèo Hải Vân và Hải Vân quan èo Hải Vân Hải Vân là một quần thể núi non ở cuối sơn hệ Trường Sơn Bắc, đâm tận ra biển Đông. Nơi đây có cảnh quan hùng vĩ của núi cao, vực sâu, biển rộng, của mây trắng, rừng xanh. Bao la dưới chân đèo là con đường uốn lượn như con trăn trườn xuôi hai bờ núi, là các đường dây cao thế trôi sâu xuống các thung lũng bản làng phía xa, là thành phố và vịnh biển Đà Nẵng, bán đảo Sơn Trà và lớp lớp những dãy Trường Sơn dài tít tắp.
Cũng chính đèo Hải Vân này đã tạo nên sự khác biệt rõ rệt về thời tiết của hai phần Nam - Bắc của dải đất miền Trung Việt Nam. Quần thể Hải Vân kết hợp với những ngọn núi cao khác cùng sơn hệ ở phía Tây và Tây Bắc tạo nên một trường thành thiên nhiên giữa Thừa Thiên và Quảng Nam làm cho “Các đợt gió mùa Đông Bắc hầu như không còn đủ sức vượt qua dãy núi cao này và toàn bộ các miền tự nhiên từ Quảng Nam trở vào đã mang dấu hiệu điển hình của á đới Nam” [56, tr. Vì thế Hải Vân được các nhà địa lý mệnh danh là trường thành khí hậu. Xưa kia, người Việt đã vượt đèo Hải Vân xuống vùng Đà Nẵng và cửa sông 12 Hàn để định cư từ nhiều thế kỷ, nay là người Đà Nẵng nhưng mỗi khi nghĩ đến đất nước và tổ tiên, họ đều ngước mắt về phía Hải Vân mà gửi lòng về kinh đô Huế, về thành Thăng Long và đất tổ Hùng Vương.
Trong tâm thức họ, hướng nhìn về Hải Vân là hướng nhìn về cội nguồn, mặc dù dãy Hải Vân vốn muôn đời sừng sững chắn ngang tầm mắt nhìn về hướng Bắc. Trên núi Hải Vân, rừng đại ngàn dày đặc bao phủ lấy lớp lớp núi cao không có dấu chân người. Khi cần qua lại giữa vùng đất phía Bắc và phía Nam của dãy núi này, những người dân Chăm pa vốn rất giỏi nghề đi biển thường chèo thuyền đi vòng qua chân núi mà không nghĩ tới việc phát rừng leo đèo. Vào thế kỷ XIV - XV, trong các cuộc chiến tranh liên miên giữa nhà Trần rồi nhà Lê ở phía Bắc với các vương triều Chăm pa ở phía Nam, các đạo binh đều dùng tàu thuyền để tấn công lẫn nhau qua đường biển.
Các sứ đoàn ngoại giao, các thương nhân cũng chỉ dùng tàu thuyền qua lại. Chính công chúa Huyền Trân cũng rời khỏi vương quốc Chăm pa trở về Đại Việt bằng thuyền. Mãi đến cuối thế kỷ XV, khi nhà Lê đưa dân từ phía Bắc vào Đà Nẵng, Quảng Nam thì những người lính thú mới chặt phát cây rừng, mở đường vượt qua núi Hải Vân. Theo sách Đại Nam nhất thống chí cho biết: “Dọc theo các sườn núi thuộc quần thể Hải Vân, có những khe: khe Kỹ, khe Vu, khe Hổ Lang, khe Bé, khe Lớn” [39, tr.
Trên bờ và giữa lòng các khe có rất nhiều tảng đá đủ hình đủ cỡ rải dài đến biển. Phía Bắc chân núi gần bãi biển có hang dơi do sóng biển khoét sâu vào núi mà tạo thành. Ngày ấy, đường qua đèo là nổi khiếm sợ ám ảnh vì dốc cao đèo sâu cheo leo hiểm trở, vì hổ, báo, lợn rừng, trăn, rắn độc. Với những người dân lành không có thuyền lớn, để tránh phải đi đường núi, người ta thuê những chiếc thuyền nhỏ của dân chài để đi vòng qua chân núi.
Nhưng ác thay ngay dưới chân mỏm núi Hải Vân nhô ra biển từ ngàn xưa đã có một miệng hang khổng lồ do sóng biển đào khoét mà thành. Trong lòng hang chỉ có một loài dơi hoang dại bám trên vách núi cuộn xoáy trong miệng hang táp vào mặt nước tạo nên những cơn sóng dữ dội gọi là sóng thần. Vì thế mà trong dân gian lan truyền câu ca rằng: Đi bộ thì khiếp Hải Vân Đi biển thì sợ sóng thần Hang Dơi 13 Về sau, người ta sử dụng đèo Hải Vân trong việc giao thông qua lại, những đoàn quân chinh chiến thời xưa đã phải bang rừng vượt núi qua đèo Hải Vân hoặc thường xuyên sơn qua núi rừng phía Tây. Đến thời chúa Nguyễn, việc giao thông bằng đường bộ qua đèo Hải Vân đã được sắp xếp có trật tự thành những trục lộ.
Đặc biệt, trong suốt hai thế kỷ chiến tranh liên miên giữa dòng họ Trịnh ở phía Bắc và dòng họ Nguyễn ở phía Nam, đèo Hải Vân luôn luôn là con đường tử đạo, là cứ điểm huyết mạch mà phần thắng sẽ về tay kẻ nào chiếm giữ được đèo này. Các chúa Nguyễn đã liên tục cho xây dựng củng cố các trạm gác, các đồn canh giữ kiểm soát trên đèo để ngăn cản những cuộc tấn công của kẻ thù và kiểm soát, đánh thuế những đoàn buôn chuyến đi qua con đường huyết mạch này. Có thể điểm lại một vài sự kiện lịch sử liên quan đến vị trí xung yếu này trước khi Hải Vân quan được xây dựng vào năm 1826. Vào năm 1775, quân Trịnh chiếm được vùng đất ở Huế từ tay chúa Nguyễn, nhưng quân Tây Sơn từ phía Nam đã tiến tới miền đất Đà Nẵng.
Lo sợ quân Tây Sơn đánh thốc ra Bắc, chúa Trịnh đã cho xây một lớp bờ lũy kiên cố chặn ngang con đường đèo ở phía Nam Hải Vân. Mười một năm sau, khi quân Tây Sơn hùng mạnh, họ đã tràn lên Hải Vân phá tan bức thành này, vượt qua đèo mang quân đánh chiếm Huế rồi từ đó kéo thẳng ra Bắc. Mười lăm năm sau, vào năm 1801, Nguyễn Ánh sau khi hạ được bức thành này đã nhanh chóng khôi phục Kinh thành Phú Xuân. Ngày nay, bức tường lũy này chẳng còn dấu vết, chỉ để lại có một cái tên mà người địa phương vẫn còn nhắc đến gọi là Đỉnh Lũy.
Như vậy, qua những cứ liệu trên có thể khẳng định rằng, ở các thời kì trước chủ yếu có các nhà trạm nhỏ, có bức thành (Đỉnh Lũy) và các đồn canh giữ để kiểm soát việc ra vào ở đèo Hải Vân, lúc bấy giờ trên đèo Hải Vân chưa có một quan ải nào xây dựng ở đây. Là con đường độc đáo lại vượt qua vùng rừng núi hiểm trở, án ngự con đường nối liền hai miền Nam - Bắc, đường đèo Hải Vân luôn luôn có một tầm quan trọng rất lớn về quân sự. Và vì thế nơi đây đã từng xảy ra những trận ác liệt có tính sống còn. Ngay từ năm 1613, vị vua đầu tiên của họ Nguyễn là chúa Nguyễn Hoàng người đã dẫn đội quân tâm phúc của mình trốn xuống phía Nam lập căn cứ địa.
Trước khi qua đời, ông đã dặn lại người con nối ngôi của mình:“Đất của ta phía Bắc là núi đèo Ngang, phía Nam có núi Hải Vân, thật là nơi trời đã để cho người 14 anh hùng dụng võ. Các người phải biết thương yêu dân chúng, chăm chỉ luyện rèn quân sĩ mà gây dựng cơ nghiệp muôn đời”. Theo đúng lời dặn của tiên vương, hai thế kỷ sau, con cháu các chúa Nguyễn đã đánh thắng các địch thủ và lập nên triều đình nhà Nguyễn, triều đình phong kiến cuối cùng của Việt Nam. Và mãi đến thời Minh Mạng, thì mới cho xây dựng ở trên đèo Hải Vân một cửa ải kiên cố và vững chắc.
Vài nét v Hải Vân quan Ngày nay, trong lời nói thường cũng như trong sách vở, hầu như tên gọi Hải Vân đã được dùng thống nhất. Nhưng thời trước thì hai tên gọi Ải Vân và Hải Vân được dùng xen lẫn trong sách vở và hẳn là trong lời nói thường ngày cũng vậy. Khảo lại thư tịch xưa, hai tên gọi ấy qua các thời kỳ đã được sử dụng như nhau: Tài liệu xưa nhất nói đến núi đèo Hải Vân là sách Dư địa chí (1435) của Nguyễn Trãi với tên gọi chỉ có một chữ Vân. Nhưng lời tập chú của Nguyễn Thiên Túng là người đồng thời với tác giả trong Dư địa chí ở bản Ức trai tướng công di tập, thì từ Ải Vân đã xuất hiện trong câu: “Vân, ải vân dã” (Vân là ải Vân).
Sau đó, tập Minh Lương cẩm tú viết ra thời Hồng Đức (1470 - 1497) còn ghi lại bài thơ “Hải Vân hải môn lữ thứ” của Lê Thánh Tông làm ra khi đánh Chiêm Thành (1471). Dưới thời nhà Mạc, sách Ô châu cận lục (1555) của Dương Văn An đều ghi tên Hải Vân thống nhất qua các chương mục.