Đảng lãnh đạo xây dựng và tổ chức lực lượng bộ đội đường Trường Sơn từ năm 1959 đến năm 1968

Luận văn thạc sĩ ussh phân tích vai trò của đảng trong việc xây dựng và tổ chức lực lượng bộ đội đường Trường Sơn giai đoạn 1959-1968.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2012

156
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu

0.3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp của luận văn

0.7. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG BỘ ĐỘI ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN TỪ NĂM 1959 ĐẾN NĂM 1964

1.1. Bối cảnh lịch sử hình thành lực lượng bộ đội đường Trường Sơn

1.2. Tình hình nước ta sau tháng 7 năm 1954

1.3. Yêu cầu tăng cường chi viện cho cách mạng miền Nam

1.4. Mở tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn

1.5. Những chủ trương và biện pháp của Đảng về xây dựng lực lượng bộ đội Trường Sơn

1.5.1. Chủ trương của Đảng

1.5.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện

1.5.3. Quá trình tổ chức thực hiện

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG TĂNG VƯỜNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG BỘ ĐỘI ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1968

2.1. Những yêu cầu mới đối với việc xây dựng và phát triển lực lượng bộ đội Trường Sơn

2.2. Tình hình cách mạng miền Nam trong những năm 1965 - 1968

2.3. Đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh ngăn chặn tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn

2.4. Chủ trương và biện pháp mới của Đảng trong việc xây dựng lực lượng bộ đội đường Trường Sơn

2.4.1. Chủ trương của Đảng

2.4.2. Chỉ đạo thực hiện chủ trương của Đảng

2.4.3. Quá trình tổ chức thực hiện

2.4.4. Kết quả thực hiện

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ

3.1. Một số nhận xét

3.2. Những thành công và hạn chế trong việc xây dựng lực lượng bộ đội đường Trường Sơn

3.3. Một số kinh nghiệm lịch sử

3.3.1. Xây dựng, tổ chức lực lượng bộ đội đường Trường Sơn phù hợp với chủ trương, nhiệm vụ của từng giai đoạn lịch sử

3.3.2. Lựa chọn hình thức, qui mô tổ chức lực lượng hợp lý

3.3.3. Xây dựng con người có ý chí quyết chiến, quyết thắng, có trình độ, năng lực hành động là yếu tố quyết định thắng lợi

3.3.4. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Trung ương và địa phương để tạo nguồn bổ sung lực lượng

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về lịch sử Đảng lãnh đạo xây dựng lực lượng bộ đội đường Trường Sơn

Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn 1959-1968 đã chứng kiến những quyết định quan trọng trong việc xây dựng lực lượng bộ đội đường Trường Sơn. Đảng đã nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng của việc chi viện cho cách mạng miền Nam, từ đó đưa ra những chủ trương và biện pháp cụ thể nhằm phát triển lực lượng bộ đội. Đường Trường Sơn không chỉ là một tuyến đường chiến lược mà còn là biểu tượng của tinh thần quyết chiến quyết thắng của dân tộc.

1.1. Bối cảnh lịch sử và yêu cầu xây dựng lực lượng bộ đội

Sau năm 1954, tình hình miền Nam Việt Nam trở nên căng thẳng, yêu cầu chi viện cho cách mạng miền Nam ngày càng cấp thiết. Đảng đã quyết định mở tuyến đường Trường Sơn để đảm bảo nguồn lực cho cuộc kháng chiến.

1.2. Chủ trương của Đảng trong việc xây dựng lực lượng bộ đội

Đảng đã đưa ra nhiều chủ trương quan trọng nhằm xây dựng lực lượng bộ đội đường Trường Sơn, bao gồm việc tổ chức lực lượng, trang bị và đào tạo nhân lực để đáp ứng yêu cầu chiến đấu.

II. Những thách thức trong việc xây dựng lực lượng bộ đội đường Trường Sơn 1959 1964

Trong giai đoạn đầu, lực lượng bộ đội đường Trường Sơn phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Từ việc thiếu thốn trang thiết bị đến sự tấn công của địch, các đơn vị bộ đội đã phải nỗ lực vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ.

2.1. Khó khăn về trang thiết bị và nhân lực

Lực lượng bộ đội đường Trường Sơn trong giai đoạn này chủ yếu được trang bị thô sơ, thiếu thốn về vật chất và nhân lực. Điều này đã ảnh hưởng đến khả năng thực hiện nhiệm vụ.

2.2. Sự tấn công của địch và ảnh hưởng đến hoạt động

Đế quốc Mỹ đã tiến hành nhiều cuộc tấn công nhằm ngăn chặn tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn, gây khó khăn cho việc vận chuyển và chi viện cho miền Nam.

III. Phương pháp xây dựng và tổ chức lực lượng bộ đội đường Trường Sơn 1965 1968

Để đối phó với những thách thức, Đảng đã đưa ra nhiều phương pháp xây dựng và tổ chức lực lượng bộ đội đường Trường Sơn. Những biện pháp này không chỉ giúp tăng cường sức mạnh cho lực lượng mà còn đảm bảo sự chi viện liên tục cho miền Nam.

3.1. Tổ chức lực lượng và đào tạo nhân lực

Đảng đã chú trọng đến việc tổ chức lực lượng bộ đội một cách hợp lý, đồng thời tăng cường đào tạo nhân lực để đáp ứng yêu cầu chiến đấu.

3.2. Cải tiến trang thiết bị và phương tiện

Việc cải tiến trang thiết bị và phương tiện vận chuyển đã được thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng bộ đội đường Trường Sơn.

IV. Kết quả xây dựng lực lượng bộ đội đường Trường Sơn và ứng dụng thực tiễn

Kết quả của quá trình xây dựng lực lượng bộ đội đường Trường Sơn trong giai đoạn 1959-1968 đã mang lại những thành công lớn. Lực lượng bộ đội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện cho miền Nam, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.

4.1. Thành công trong việc chi viện cho miền Nam

Lực lượng bộ đội đường Trường Sơn đã thực hiện thành công nhiều chuyến vận chuyển hàng hóa, vũ khí, góp phần quan trọng vào cuộc kháng chiến chống Mỹ.

4.2. Bài học kinh nghiệm từ quá trình xây dựng lực lượng

Quá trình xây dựng lực lượng bộ đội đường Trường Sơn đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho công tác tổ chức và lãnh đạo trong các giai đoạn sau.

V. Kết luận và tương lai của lực lượng bộ đội đường Trường Sơn

Lịch sử xây dựng lực lượng bộ đội đường Trường Sơn từ năm 1959 đến 1968 không chỉ là một phần quan trọng trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn là bài học quý giá cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tương lai của lực lượng bộ đội đường Trường Sơn cần tiếp tục được nghiên cứu và phát triển.

5.1. Ý nghĩa lịch sử của lực lượng bộ đội đường Trường Sơn

Lực lượng bộ đội đường Trường Sơn đã trở thành biểu tượng của tinh thần yêu nước và quyết tâm chiến đấu của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

5.2. Hướng phát triển lực lượng bộ đội trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển lực lượng bộ đội đường Trường Sơn để đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG BỘ ĐỘI ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN TỪ NĂM 1959 ĐẾN NĂM 1964 1. Bối cảnh lịch sử hình thành lực lượng bộ đội đường Trường Sơn 1. Tình hình nước ta sau tháng 7 năm 1954 Cuộc kháng chiến anh dũng chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ của nhân dân Việt Nam do Đảng lãnh đạo đã giành được thắng lợi vang dội. Chính phủ Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ (7-1954), công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta.

Đây là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân ta, song sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước vẫn chưa hoàn thành. Đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau: miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam vẫn dưới ách thống trị của thực dân và tay sai. Ngay sau khi hòa bình lập lại, nhân dân miền Bắc đã khẩn trương bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh và tiến hành thực hiện các nhiệm vụ còn lại của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tạo tiền đề cho miền Bắc từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó, tình hình miền Nam lúc này rất phức tạp.

Miền Nam từ chỗ có chính quyền, quân đội cách mạng, nay quân đội, cán bộ tập kết ra Bắc, chính quyền giải tán, phần đất từ nam vĩ tuyến 17 trở vào tạm thời do đối phương kiểm soát. Đảng chủ trương thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ, thống nhất nước nhà bằng phương pháp hòa bình, trên cơ sở độc lập và dân chủ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta tiến hành đấu tranh kiên cường, bền bỉ với 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiều hình thức, đòi đối phương phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ, thực hiện tổng tuyến cử thống nhất nước nhà. Lợi dụng sự thất bại và khó khăn của Pháp, ĐQ Mỹ ngày càng can thiệp sâu hơn vào tình hình miền Nam.

Trước khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam làm thủ tướng. Tháng 9 - 1954, Mỹ lôi kéo được một số đồng minh như Anh, Pháp. và một số nước Đông Nam Á lập ra khối “Liên minh quân sự Đông Nam Á” (SEATO) và ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này. Đảng xác định “Đế quốc Mỹ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại hòa bình ở Đông Dương” và “đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương” [24, tr.

225] ĐQ Mỹ - kẻ thù mới của nhân dân Việt Nam là tên đầu sỏ, giàu mạnh nhất trong phe đế quốc, có bộ máy chiến tranh đồ sộ và hiện đại, có tiềm lực kinh tế và quân sự to lớn, là tên sen đầm quốc tế, kẻ thù số một của loài người. Âm mưu cơ bản của Mỹ là “tiêu diệt bằng được phong trào yêu nước của nhân dân ta, thôn tính miền Nam Việt Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam Á, đồng thời lấy miền Nam làm căn cứ tiến công miền Bắc, tiền đồn của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á, hòng đè bẹp và đẩy lùi chủ nghĩa xã hội ở vùng này, bao vây và uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa khác”[23, tr. Thực hiện âm mưu đó, sau khi dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm ở miền Nam, Mỹ - Diệm ra sức phá hoại Hiệp định Giơnevơ, đàn áp, khủng bố đẫm máu đồng bào ta. Thực chất là Mỹ đang từng bước áp đặt chế độ thực dân kiểu mới, chia cắt lâu dài đất nước ta.

19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mục tiêu trước mắt của Mỹ là phá hoại Hiệp định, phá hoại công cuộc thống nhất đất nước Việt Nam, gạt Pháp ra khỏi miền Nam, phân hóa và loại trừ các lực lượng thân Pháp, xây dựng chính quyền tay sai, nắm quyền chỉ huy quân ngụy, tổ chức các đảng phái phản động thân Mỹ. Biện pháp chiến lược cơ bản của chúng là đẩy mạnh “tố cộng, diệt cộng”, “đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”, tập trung đánh phá cách mạng miền Nam vô cùng tàn khốc. Chúng huy động mọi lực lượng quân sự, mật vụ, hành chính, tình báo, thông tin, tuyên truyền, tâm lý, kinh tế, thực hành khủng bố, đàn áp vô cùng tàn bạo các lực lượng cách mạng và toàn thể nhân dân miền Nam. Chúng dùng quân đội mở nhiều cuộc hành quân càn quét, triệt phá cơ sở cách mạng, tàn sát những người yêu nước, khủng bố những người kháng chiến cũ mà chúng cho là cộng sản hoặc thân cộng sản.

Nhân dân miền Nam sống nghẹt thở, cách mạng miền Nam bị đẩy vào thời kỳ khó khăn chưa từng thấy, thời kỳ thoái trào, nguy ngập tưởng chừng không gượng dậy được. Hoàn cảnh lịch sử diễn biến hết sức phức tạp. Yêu cầu bức thiết đặt ra cho Đảng ta là phải có sự nhạy bén trong phân tích tình hình để hoạch định đường lối cách mạng đúng đắn đưa cách mạng Việt Nam tiến lên. Yêu cầu tăng cường chi viện cho cách mạng miền Nam Đầu năm 1959, cách mạng miền Nam đứng trước tình thế cực kỳ nghiêm trọng.

Mỹ - Diệm tiến hành phát xít hóa cao độ bộ máy cai trị, công khai cho quân lê máy chém đi khắp miền Nam thực hiện phương châm “thà giết nhầm còn hơn bỏ sót”. Chính sách tố cộng, diệt cộng và những cuộc càn quét, khủng bố đẫm máu của Mỹ - Diệm gây nên những khó khăn và tổn thất hết sức nặng nề cho cách mạng miền Nam. Tình hình nghiêm trọng đó đã đặt Đảng ta và nhân dân miền 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nam trước một sự lựa chọn khắc nghiệt: Hoặc là chúng ta tiếp tục chịu đựng cuộc khủng bố đó, trung thành với những gì đã ký kết tại Hội nghị Giơnevơ, chờ đợi Tổng tuyển cử; hoặc là phải kiên quyết chống trả. Cán bộ, đảng viên và quần chúng khát khao chờ đợi Đảng chỉ ra con đường và phương pháp cách mạng cho phép nhân dân miền Nam đứng lên đánh đổ quân thù.

Tại HNBCHTW Đảng lần thứ 15, họp đợt 1 vào tháng 1 năm 1959, nổi lên vấn đề tiếp tục giữ gìn hòa bình hay vùng lên đấu tranh. Đây là một vấn đề nóng bỏng đòi hỏi sự suy xét hết sức nghiêm túc, khách quan. Lúc này, trong phe XHCN đang có xu hướng chung sống hòa bình, tránh xung đột đổ máu. Việt Nam là một nước trong phe XHCN, không thể không chú ý đến xu hướng đó.

Nhưng mặt khác nếu chúng ta bảo vệ hòa bình một cách thụ động thì sẽ không còn đủ lực lượng tiếp tục đấu tranh nữa. Thực tiễn nóng bỏng của cách mạng miền Nam chính là cơ sở để tháng 5 năm 1959, tại HNBCHTƯ lần thứ 15 (đợt 2), Đảng ta quyết định thông qua Nghị quyết 15 nhằm chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, vạch ra con đường đưa cách mạng miền Nam tiến lên. Đối với cách mạng miền Nam, Nghị quyết xác định: “Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”. 63] Về phương hướng phát triển của cách mạng ở miền Nam, hội nghị khẳng định: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh quần chúng, dựa vào lực lượng 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang đánh đổ chế độ thống trị đế quốc và phong kiến, xây dựng chính quyền cách mạng nhân dân”. 82] Xác định Mỹ là tên đế quốc hiếu chiến nhất, Trung ương dự kiến: “Trong những điều kiện nào đó, cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có khả năng chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ. Trong tình hình đó, cuộc đấu tranh sẽ chuyển sang một cục diện mới: đó là chiến tranh trường kỳ giữa ta và địch và thắng lợi cuối cùng nhất định về ta” [25, tr. 85] Với tư tưởng cốt lõi sử dụng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng, Nghị quyết đã đưa ra một quyết định đúng đắn, kịp thời, vừa đáp ứng yêu cầu cấp bách của cách mạng miền Nam, vừa hợp với ý nguyện của toàn dân.

Nghị quyết chỉ ra phương châm, phương pháp đúng đắn, xóa đi băn khoăn, lo ngại, củng cố niềm tin vững chắc vào con đường cách mạng của nhân dân. Nghị quyết đã mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên, từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công cách mạng, tạo bước nhảy vọt cho phong trào cách mạng ở miền Nam. Khi cách mạng miền Nam có bước phát triển mới, đặt ra một yêu cầu mang tính chiến lược: Để giành thắng lợi cuối cùng trước một đối phương mạnh về tiền, về của như Mỹ, cách mạng miền Nam phải được cung cấp một cách liên tục, to lớn, toàn diện cả về vật chất và tinh thần. Đó là điều kiện cơ bản để cách mạng miền Nam xây dựng lực lượng, củng cố cơ sở, không ngừng mở rộng vùng giải phóng.

Mặc dù cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và đồng bào miền Nam luôn giữ vững niềm tin, kiên trung với Đảng, với cách mạng song trong điều kiện địch chiếm ưu thế về hỏa lực, áp dụng nhiều thủ đoạn thâm độc về quân sự, chính trị, văn 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. công tác xây dựng hậu phương tại chỗ gặp muôn vàn khó khăn, thử thách nặng nề. Hơn lúc nào hết, Đảng phải phát huy vai trò to lớn của hậu phương miền Bắc XHCN đối với cách mạng miền Nam. Sau ngày được hoàn toàn giải phóng, nhân dân miền Bắc tập trung khắc phục những hậu quả nặng nề về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội sau hơn 80 năm mất nước và 15 năm tàn phá của chiến tranh.

Miền Bắc được củng cố, sản xuất được khôi phục, đời sống nhân dân được ổn định, xã hội có những chuyển biến sâu sắc về kết cấu hạ tầng, giai cấp, chuyển biến về chính trị, tư tưởng và tổ chức của một chế độ mới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ