CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỄ HỘI VÀ TỔNG QUAN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 1. Cơ sở lý luận về lễ hội 1. Khái niệm lễ hội Trong “Từ điển tiếng Việt” có định nghĩa về “lễ hội” như sau: Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện.
Hội là sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng [26]. Còn ở Việt Nam, khái niệm lễ hội mới chỉ xuất hiện cách đây không lâu. Trước hết chỉ có khái niệm lễ hoặc hội. Cả hai khái niệm này đều là từ gốc Hán được dùng để gọi một nhóm loại hình phong tục, chẳng hạn như lễ Thành Hoàng, lễ gia tiên…, cũng như vậy trong hội cũng có nhiều hội khác nhau như: hội Gióng, hội Lim, hội chọi trâu… 1.
Cơ sở ra đời của lễ hội Từ khi hình thành xã hội thì lễ hội là món ăn tinh thần, là “cuộc sống thứ hai” của con người. Đó là hình thức văn hóa dân gian có tính cộng đồng rất cao. Ở nước ta, hình ảnh lễ hội xuất hiện trên các trống đồng có niên đại hai nghìn năm trước Công nguyên với những người nhảy múa, đánh cồng, đánh chiêng. Hành động trong lễ hội không đơn giản chỉ là tái hiện những mô thức văn hóa cổ xưa mà qua đó, thể hiện một khát khao của con người hiện tại được tiếp nối và phát huy sức mạnh, sự toàn năng của thiên nhiên hay thần linh, hay các anh hùng trong lịch sử.
Những hành vi ấy dần biến thành nghi thức ngày một trang nghiêm, thành kính. Vì là sinh hoạt tập thể đem lại sự hứng khởi cho mọi người nên những nghi thức ấy cũng dần đi vào tâm thức tạo thành niềm cộng cảm thiêng liêng, dựa trên cơ sở đó ta có thể trình bày rằng sự ra đời của lễ hội dựa vào các yếu tố như. Đầu tiên là từ những điều kiện sống, lao động sản xuất của cư dân bản địa. Như chúng ta đã biết, để con người có thể không ngừng phát triển và tiến hóa thì chúng ta đã trải qua rất nhiều giai đoạn lịch sử loài người, nhân tố chính cho điều đó chính là sự lao động không ngừng nghỉ.
Điều đó đã tạo nên các giá trị vật chất, 12 lẫn tinh thần cho con người, từ chính những giá trị vật chất tinh thần ấy đã tích góp, cô đọng lại trong suốt quá trình lao động và tạo nên một kho tàng tri thức dân gian của con người kèm thi đó là những giá trị mà lao động sản xuất mang lại. Một phần sẽ được cúng lễ để báo đáp thần linh, hoặc thiên nhiên vì đã giúp người nông dân có một mùa bội thu. Một phần thì đem làm phần thưởng cho các hoạt động diễn ra trong lễ hội. Việc này không chỉ tăng phần hấp dẫn của lễ hội, mà còn tăng tinh thần gắn kết của các cư dân bản địa lại với nhau.
Ví dụ như lễ hội cầu mưa, lễ hội bắt sâu, lễ hội mùa xuân… Thứ hai là do phong tục tập quán truyền thống của các địa phương. Đây là những hành động, thói quen, và quy tắc xã hội được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong một cộng đồng, một dân tộc hoặc một quốc gia. Các quy định, thói quen đã được thực hiện lâu dài, thường được coi là phần không thể thiếu của văn hóa của một cộng đồng và thường được thực hiện mà không cần giải thích rõ ràng. Nó bao gồm nhiều khía cạnh của cuộc sống như lễ hội, cách ứng xử, cách mặc, cách ăn uống, cách kết hôn, và cách đối xử với người già, người trẻ, bạn bè, người lạ, và người có quyền lực.
Chúng có thể được thể hiện thông qua các nghi lễ, cách ăn mặc truyền thống, lời chúc phúc, và cả các quy định về việc tổ chức gia đình và xã hội của chính địa phương, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa riêng, không ai giống ai của chính nó. Thứ ba là do những yêu cầu, quy định của thể chế chính trị đương thời. Các lễ hội này sẽ mang tính chất chủ yếu là tính lịch sử trong đó sẽ bao gồm các tổ chức văn hóa, lịch sử, hoặc các sự kiến chính trị liên quan, được quy định, thành lập, điều hành theo một hệ thống thứ tự, mục đích chính là đáp ứng phần nào nhu cầu của dân bản địa, nhưng lại có sự điều hành của thể chế chính trị cầm quyền đương thời, hay nói các khác là đứng ra tổ chức lễ hội (còn gọi là ban tổ chức). Và cuối cùng là do nhu cầu vui chơi giải trí của các tầng lớp nhân dân trong xã hội.
Là một phần quan trọng của cuộc sống hàng ngày và thể hiện sự đa dạng văn hóa và giá trị xã hội. Dù ở bất kỳ tầng lớp nào, việc có thời gian giải trí và thư giãn là cần thiết để giảm bớt căng thẳng, tăng cường sức khỏe tinh thần và tạo ra một cộng đồng gắn kết, mạnh mẽ hơn. Thế nên trong những lễ hội lớn nào cũng có rất nhiều thời gian để tổ chức các phần “hội” để người dân cũng như khách du lịch có thể tham gia. Phần nào để lại ấn tượng sâu sắc cho nét văn hóa đa dạng của dân tộc.
Phân loại lễ hội Ở Việt Nam các lễ hội thường được chia thành 4 loại chính đó là: - Lễ hội dân gian (chiếm 88,36%): Những lễ hội này phản ánh nền văn hóa, tập quán, truyền thống, và đời sống của người dân tại mỗi vùng miền. Chúng thường được tổ chức để kỷ niệm các ngày lễ quan trọng, như Tết Nguyên đán, Hội đền Hùng, Lễ hội chọi trâu, và Lễ hội Cầu Ngư. - Lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%): Các lễ hội này có liên quan đến các sự kiện lịch sử quan trọng của Việt Nam thường được tổ chức nhằm tưởng nhớ và kỷ niệm các sự kiện, nhân vật quan trọng trong lịch sử đất nước. Lễ hội loại này thường diễn ra đúng vào ngày, tháng, năm mà sự kiện lịch sử xảy ra.
Lễ hội có tính chất trang trọng, trọng đại, mang ý nghĩa sâu sắc trong việc gìn giữ và phát huy truyền thống, bản sắc dân tộc. Ví dụ như: Lễ hội Đền Hùng, Lễ hội Đền Trần… - Lễ hội tôn giáo (chiếm 6,28%): Đây là những lễ hội được tổ chức để tôn vinh và thể hiện lòng thành của người dân đối với các tôn giáo. Ví dụ như Lễ hội Yên Tử, và Lễ hội Hội Lim… - Lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%): Các lễ hội này đã được nhập khẩu từ các quốc gia khác và đã trở thành một phần của văn hóa Việt Nam. Ví dụ như Lễ hội Trung thu (Tết trung thu) và Lễ hội Halloween.
Qua đó, phân loại các lễ hội ở Việt Nam dựa trên các tiêu chí như dân gian, lịch sử, tôn giáo và du nhập từ nước ngoài. Mỗi loại lễ hội mang đến những giá trị và ý nghĩa đặc biệt cho người dân và góp phần làm giàu thêm văn hóa Việt Nam [32] 1. Lễ hội và bản sắc cộng đồng Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa đặc biệt nhằm đáp ứng nhu cầu về đời sống tâm linh của con người. Nó còn giúp con người có dịp nhìn lại một chu trình sản xuất đã qua và hướng đến chu kỳ sắp tới với những chờ đợi điều tốt lành, tránh rủi ro, bất hạnh, hoặc hậu tạ thần linh đã phù hộ cho họ với lòng ngưỡng mộ chân thành, nó trở thành niềm tin, thần bản mệnh của cả cộng đồng.
Với các nghi lễ và trò diễn mà mục đích cơ bản và cuối cùng là cầu mong được “nhân khang vật thịnh”, phong đăng hòa cốc… Đơn cử như lễ hội xuống đồng (lễ Hạ điền) được tổ chức ngày mùng 4 tết hàng năm ở nhiều nơi. Đây là dịp để nhân dân nhìn lại một vụ mùa vừa qua và hướng tới 1 14 vụ mùa sắp tới được bội thu. Phần lễ trong ngày hội là nhằm cầu mong cho mưa thuận gió hòa, thần linh giúp đỡ Đồng thời còn cảm ơn gia tiên đã che chở cho nhân dân được khỏe mạnh để lao động sản xuất. Phần hội rất sôi động được nhiều lứa tuổi tham gia, họ tổ chức các trò chơi gắn liền với sản xuất: bịt mắt bắt dê, leo cột mỡ… Lễ hội không chỉ tạo thành một mạch liền trong vòng quay của thời tiết trong một năm, mà lễ hội còn là mạch nối giữa đời sống vật chất và tinh thần, giữa trần thế và tâm linh, nó như một minh chứng cho rằng con người có thể làm chủ cuộc sống thông qua giao cảm với thế giới tâm linh.
Đơn cử như lễ hội Quán Thế Âm, Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng là lễ hội được tổ chức thường niên vào thời gian ngày 17, 18, 19 và 20 tháng 02 âm lịch hàng năm được tổ chúc ở Quận Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng, là điểm đến hấp dẫn của phật tử, người dân, du khách trong nước cũng như du khách quốc tế đến tham dự, chiêm ngưỡng, trải nghiệm, tìm hiểu những giá trị tinh thần mang đậm nét lịch sử – văn hóa Phật giáo Việt Nam. Đồng thời, lễ hội này còn là một trong những sự kiện dân gian mang sắc màu Phật giáo quan trọng nhất của của các tín đồ Phật tử ở Đà Nẵng, nơi kết tinh những giá trị của văn hóa Phật giáo và con người, vùng đất Ngũ Hành Sơn; là nơi hội tụ, giao lưu văn hóa và thưởng thức sự tinh tế, phong phú của các loại hình nghệ thuật văn hoá dân tộc trên thế giới. Hoặc lễ hội Pháo hoa Đà Nẵng không chỉ là một sự kiện giải trí mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố và duy trì giá trị văn hóa của cộng đồng địa phương. Những màn trình diễn pháo hoa được thiết kế với sự kết hợp giữa nghệ thuật và truyền thống, thường mang đến cho người xem những trải nghiệm tinh thần sâu sắc và gần gũi với bản địa.
Lễ hội đã trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn nhất trong lịch trình du lịch của du khách khi đến đây. Sự kiện không chỉ thu hút lượng lớn du khách quốc tế và trong nước mà còn giúp quảng bá hình ảnh của Đà Nẵng trên bản đồ du lịch thế giới.