Luận án tiến sĩ đảng cộng sản việt nam lãnh đạo hoạt động thông tin đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2013

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đảng cộng sản việt nam lãnh đạo hoạt động thông tin đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2013, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

214
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu tiêu biểu

1.1.1. Các công trình nghiên cứu chung về hoạt động thông tin đối ngoại

2. CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2000

2.1. Những căn cứ xác định chủ trương

2.2. Chủ trương của Đảng

2.3. Chỉ đạo hoạt động thông tin đối ngoại

2.4. Đổi mới cơ chế quản lý và phối hợp tổ chức hoạt động

2.5. Mở rộng lực lượng và phương thức thông tin đối ngoại

2.6. Đổi mới nội dung thông tin đối ngoại

3. CHƯƠNG 3: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2013

3.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động thông tin đối ngoại và chủ trương của Đảng

3.2. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng

3.3. Chủ trương của Đảng

3.4. Chỉ đạo thực hiện chủ trương

3.5. Tổ chức bộ máy, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý

3.6. Tăng cường lực lượng và phương thức thông tin đối ngoại

3.7. Tiếp tục đổi mới nội dung thông tin đối ngoại

4. CHƯƠNG 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

4.1. Về ưu điểm, thành tựu

4.2. Nhận thức ngày càng rõ hơn tầm quan trọng của hoạt động thông tin đối ngoại

4.3. Không ngừng hoàn thiện chủ trương về hoạt động thông tin đối ngoại

4.4. Bảo đảm sự chủ động, thống nhất và hiệu quả trong chỉ đạo hoạt động thông tin đối ngoại

4.5. Phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong hoạt động thông tin đối ngoại

4.6. Một số hạn chế

4.7. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch hoạt động thông tin đối ngoại chưa đáp ứng được yêu cầu

4.8. Chậm kiện toàn bộ máy chỉ đạo, điều hành quản lý nhà nước về thông tin đối ngoại

4.9. Phương thức thông tin đối ngoại khai thác chưa được hiệu quả

4.10. Một số kinh nghiệm

4.10.1. Hoạch định chủ trương về thông tin đối ngoại trên cơ sở phục vụ đường lối, chính sách đối ngoại và bám sát, gắn kết với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng

4.10.2. Thường xuyên hoàn thiện cơ chế phối hợp chặt chẽ, có chiều sâu và tầm nhìn dài hạn

4.10.3. Chủ động cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời và hợp

4.10.4. Không ngừng đổi mới nội dung và hình thức thông tin, đa dạng hóa phương thức thông tin đối ngoại

4.10.5. Khai thác thế mạnh của các loại hình thông tin trên Internet trong hoạt động thông tin đối ngoại

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo thông tin đối ngoại Việt Nam 1986 2013

Lãnh đạo thông tin đối ngoại tại Việt Nam từ năm 1986 đến 2013 đã trải qua nhiều giai đoạn quan trọng. Thời kỳ này đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ trong chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam, với mục tiêu nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Các hoạt động thông tin đối ngoại không chỉ nhằm quảng bá hình ảnh Việt Nam mà còn để bảo vệ lợi ích quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Đảng đã xác định rõ vai trò của thông tin đối ngoại như một công cụ quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu chính trị, kinh tế và văn hóa.

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển thông tin đối ngoại

Thông tin đối ngoại tại Việt Nam đã có từ những năm đầu của cách mạng. Tuy nhiên, từ năm 1986, khi Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện đường lối đổi mới, hoạt động này mới thực sự được chú trọng. Các chính sách và chiến lược thông tin đối ngoại đã được xây dựng nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ chủ quyền quốc gia.

1.2. Vai trò của Đảng trong lãnh đạo thông tin đối ngoại

Đảng Cộng sản Việt Nam đã đóng vai trò quyết định trong việc định hướng và chỉ đạo các hoạt động thông tin đối ngoại. Các văn kiện của Đảng đã xác định rõ ràng mục tiêu, phương hướng và nhiệm vụ của thông tin đối ngoại, từ đó tạo ra một khung pháp lý vững chắc cho các hoạt động này.

II. Những thách thức trong lãnh đạo thông tin đối ngoại Việt Nam

Trong giai đoạn 1986-2013, lãnh đạo thông tin đối ngoại của Việt Nam đã phải đối mặt với nhiều thách thức. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và truyền thông đã tạo ra áp lực lớn đối với các cơ quan chức năng trong việc cập nhật và cải tiến phương thức hoạt động. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh thông tin từ các quốc gia khác cũng là một yếu tố cần được xem xét.

2.1. Áp lực từ công nghệ thông tin hiện đại

Sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho hoạt động thông tin đối ngoại. Các cơ quan thông tin cần phải nhanh chóng thích ứng với sự thay đổi này để không bị tụt lại phía sau.

2.2. Cạnh tranh thông tin trên trường quốc tế

Việt Nam phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia phát triển trong việc cung cấp thông tin. Điều này đòi hỏi các chiến lược thông tin đối ngoại phải được điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh toàn cầu.

III. Phương pháp lãnh đạo thông tin đối ngoại hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả lãnh đạo thông tin đối ngoại, Đảng Cộng sản Việt Nam đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn trong lãnh đạo đã giúp cho các hoạt động thông tin đối ngoại đạt được nhiều thành công.

3.1. Đổi mới nội dung và hình thức thông tin

Đảng đã chỉ đạo việc đổi mới nội dung và hình thức thông tin đối ngoại để phù hợp với nhu cầu và xu hướng của xã hội. Việc sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại đã giúp nâng cao hiệu quả truyền tải thông tin.

3.2. Tăng cường hợp tác quốc tế trong thông tin

Hợp tác với các quốc gia và tổ chức quốc tế trong lĩnh vực thông tin đã giúp Việt Nam nâng cao khả năng tiếp cận thông tin và chia sẻ kinh nghiệm. Điều này không chỉ giúp cải thiện chất lượng thông tin mà còn tạo ra mối quan hệ tốt đẹp với các nước khác.

IV. Ứng dụng thực tiễn của lãnh đạo thông tin đối ngoại

Các kết quả từ lãnh đạo thông tin đối ngoại đã có những ứng dụng thực tiễn quan trọng trong việc nâng cao hình ảnh và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Những thành tựu này không chỉ góp phần vào sự phát triển kinh tế mà còn tạo ra sự hiểu biết và hợp tác giữa các quốc gia.

4.1. Tăng cường hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế

Thông qua các hoạt động thông tin đối ngoại, hình ảnh của Việt Nam đã được nâng cao đáng kể. Các sự kiện quốc tế và các hoạt động giao lưu văn hóa đã giúp thế giới biết đến Việt Nam như một quốc gia hòa bình và phát triển.

4.2. Thúc đẩy hợp tác quốc tế và đầu tư

Các hoạt động thông tin đối ngoại đã góp phần thu hút đầu tư nước ngoài và thúc đẩy hợp tác quốc tế. Điều này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn tạo ra cơ hội cho sự phát triển bền vững của đất nước.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của thông tin đối ngoại

Lãnh đạo thông tin đối ngoại Việt Nam từ năm 1986 đến 2013 đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin, cần có những điều chỉnh và cải tiến để đáp ứng yêu cầu mới. Tương lai của thông tin đối ngoại sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng và đổi mới của các cơ quan chức năng.

5.1. Định hướng phát triển thông tin đối ngoại trong tương lai

Để tiếp tục phát triển, thông tin đối ngoại cần được định hướng rõ ràng với các mục tiêu cụ thể. Việc áp dụng công nghệ mới và cải tiến phương thức hoạt động sẽ là yếu tố quyết định.

5.2. Vai trò của thông tin đối ngoại trong hội nhập quốc tế

Thông tin đối ngoại sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao vị thế của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế. Sự chủ động và sáng tạo trong hoạt động này sẽ giúp Việt Nam khẳng định được vị thế của mình.

19/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trên mọi lĩnh vực, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thì nhiệm vụ đổi mới, tăng cường hoạt động TTĐN nhằm đáp ứng các yêu cầu mới là một đòi hỏi cấp thiết. Những nghiên cứu về hoạt động TTĐN ở Việt Nam cũng như trên thế giới đã được quan tâm thúc đẩy và đạt được kết quả nhất định. Đã có nhiều công trình khoa học, bài viết nghiên cứu, ấn phẩm và tài liệu dịch thuật về chủ đề này được nghiên cứu, xuất bản. Là một bộ phận quan trọng của công tác đối ngoại, do vậy khi nghiên cứu về quá trình đổi mới TTĐN không thể không nghiên cứu về chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, cũng như việc phải đặt nó trong bối cảnh lịch sử cụ thể và các nhiệm vụ ngoại giao của từng thời kỳ nhất định.

Mặt khác, một số công trình có tính chuyên khảo về ngoại giao nói chung, hay những công trình trực tiếp nghiên cứu về chính sách ngoại giao của Đảng và Nhà nước cũng gián tiếp đề cập đến hoạt động TTĐN ở những mức độ khác nhau. Tổng quan các công trình nghiên cứu tiêu biểu 1. Các công trình nghiên cứu chung về hoạt động thông tin đối ngoại Trên thế giới, vấn đề sử dụng thông tin và truyền thông trong hoạt động đối ngoại phục vụ sự phát triển của đất nước không còn là một vấn đề mới, mà đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Có thể nói, về chủ đề TTĐN với vai trò là một mảng hoạt động của công tác đối ngoại và truyền thông của các nước đã có nhiều công trình được xuất bản, trong đó có một số đã được dịch ra tiếng Việt.Tuch and Marvin Kalb trong công trình Communicating with the World: U.

Public Diplomacy Overseas (Truyền thông với thế giới: Ngoại giao nhân dân Mỹ ở bên ngoài), Institute for the Study of Diplomacy, St. New York, Aug 15, 1990, đề cập đến khái niệm, nguồn gốc và quá trình thực hiện ngoại giao nhân dân của chính phủ Hoa Kỳ, trong đó nhiều hoạt động thuộc về lĩnh vực thông tin đối ngoại. Tác giả cho rằng, ngoại giao đã thay đổi cơ bản so với 100 năm trước đây do sự phát triển của công nghệ thông tin, truyền thông. Qua các hoạt động của phòng văn hóa - Cơ quan thông tin Mỹ (USIA - United States Information Agency) trụ sở tại Washington và cơ quan thông tin Mỹ (USIS - United Information Service) ở nước ngoài, một thế giới mới kết nối công nghệ, báo chí và ngoại giao thành một vòng tròn phụ thuộc lẫn nhau.

Để thực hiện tốt các mục tiêu đối ngoại TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của quốc gia, các chính phủ phải biết tận dụng sức mạnh của văn hóa và thông tin tự do như những phương tiện mềm dẻo, nhanh, mạnh mẽ trong ngoại giao. Cuốn Global Journalism Global Journalism: Survey of International Communication (Báo chí toàn cầu - Khảo sát truyền thông quốc tế), Longman Publishing Group, April 28th 1995, của John Merill, đã nhận định: truyền thông toàn cầu cuối thế kỷ XX nằm trong sự thống trị của các hãng thông tấn, các tập đoàn báo chí lớn. Những tên tuổi như General Electric, Time Warner, Disney Corp., Sony, Thomson Corp.,… cùng các hãng thông tấn như AP, Reuters, AFP không chỉ cung cấp thông tin, các chương trình truyền thông, giải trí, các dịch vụ tin tức cho toàn thế giới mà còn góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho truyền thông nhằm phục vụ các mục tiêu ngoại giao, thương mại của các cường quốc. Philipppe Breton và Serge Proulx trong cuốn sách Bùng nổ truyền thông: Sự ra đời một ý thức hệ mới, Nxb Văn hóa thông tin.

Hà Nội, 1996, tiếp cận ban đầu từ khái niệm “thông tin”. Theo đó, “thông tin” có hai hướng nghĩa: thứ nhất, nói về một hành động cụ thể để tạo ra một hình thái (frome); thứ hai, nói về sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay biểu tượng. Hai hướng nghĩa này cùng tồn tại, một nhằm vào sự tạo lập cụ thể, một nhằm vào sự tạo lập kiến thức và truyền đạt. Nó thể hiện sự gắn kết của hai lĩnh vực kỹ thuật và kiến thức.

Nội dung của cuốn sách còn trình bày các kỹ thuật truyền thông trong lịch sử, các phương tiện truyền thông và kỹ thuật điện tử trong truyền thông, quảng cáo, tiêu thụ và các phương tiện truyền thông, kỹ thuật truyền thông hiện đại trên thế giới và sự bùng nổ thông tin. Trong cuốn Mass Media, Mass Culture (Truyền thông đại chúng, truyền thông văn hóa), Fourth Edition, McGraw-Hill, 1998, James Wilson, Stan Le Roy Wilson khi nêu ra định nghĩa về truyền thông, giúp hiểu hơn về các vấn đề liên quan. Nếu coi truyền thông như một vòng tròn lớn, thì trong vòng tròn lớn đó sẽ có các vòng tròn nhỏ hơn xen và kết nối với nhau. Đó là các “vòng tròn” truyền thông đại chúng, truyền thông đối ngoại, truyền thông quốc tế… với các phương tiện rất đa dạng như báo in, báo nói, báo hình, phim ảnh, internet, báo trực tuyến trên mạng và các phương thức hoạt động như thông tin đối ngoại, thông tin đối nội; truyền thông quản lý xã hội, truyền thông dân số, truyền thông môi trường, truyền thông du lịch… Thussu, D.

với công trình International Communication: Continuity and Change (Truyền thông quốc tế: Liên tục và thay đổi), London, Arnold, 2000, cho TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com biết, khái niệm “communication” có gốc Latin là “to share”. Bởi vậy, truyền thông quốc tế hàm nghĩa là chia sẻ tri thức, tư tưởng và niềm tin giữa những người khác nhau trên khắp thế giới; và bởi vậy, nó có thể trở thành một trong các yếu tố đóng góp vào việc giải quyết xung đột ở cấp độ toàn cầu và tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc. Tuy nhiên, hiện nay đa phần các kênh truyền thông quốc tế lại không được sử dụng vào những mục tiêu trên mà chủ yếu là tập trung vào thúc đẩy lợi ích kinh tế và chính trị của các cường quốc trên thế giới - những người đang nắm giữ và kiểm soát phần lớn các phương tiện truyền thông toàn cầu. Truyền thông quốc tế (còn gọi là thông tin liên lạc toàn cầu hoặc thông tin liên lạc xuyên quốc gia) được định nghĩa là “truyền thông xuyên biên giới” (the communication that occurs across international borders).

Các nhu cầu thông tin liên lạc quốc tế là do những tác động ngày càng tăng và ảnh hưởng của toàn cầu hóa. Là một lĩnh vực nghiên cứu, thông tin liên lạc quốc tế là một chi nhánh của nghiên cứu truyền thông, liên quan đến phạm vi của “chính phủ với chính phủ”, “kinh doanh-to- kinh doanh”, và “người-với-người” tương tác ở mức độ toàn cầu. Cho đến nay, nội dung của khái niệm này đến nay đã rộng ra rất nhiều, từ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và quân sự. (2008), trong công trình “Public Diplomacy and Soft Power” (Ngoại giao công chúng và sức mạnh mềm), The ANNALS of the American Academy of Political and Social Science, 616, pp.

94-109, đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của ngoại giao công chúng, sức mạnh mềm và mối quan hệ giữa chúng trong quan hệ quốc tế hiện đại. Tác giả cho rằng, thông tin là sức mạnh, và ngày nay loài người càng có nhiều cơ hội tiếp cận được sức mạnh này. Những tiến bộ trong công nghệ đã giảm thiểu chi phí sản xuất và lưu hành thông tin. Việc thúc đẩy các hình ảnh tích cực của một quốc gia là việc không mới nhưng các điều kiện triển khai sức mạnh mềm trong những năm gần đây đã thay đổi rất nhanh chóng.

Trong quan hệ giữa các quốc gia, các chính quyền cạnh tranh với nhau và với các tổ chức khác để tăng cường sự khả tín của họ và làm suy yếu sự khả tín của các đối thủ. Liên quan đến thông tin và tuyên truyền ra thế giới, tác giả nhấn mạnh vai trò của ngoại giao công chúng đối với sức mạnh mềm của mỗi quốc gia; việc sử dụng các hoạt động ngoại giao công chúng phải hết sức khôn khéo, phù hợp, để gia tăng sức mạnh mềm và sức mạnh thông minh, chứ không phải biến thành những điều tuyên truyền đơn thuần, mà như thế sẽ không thuyết phục được người khác. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Junhao Hong đã có nghiên cứu nhan đề From the World Largest Propaganda Machine to a Multipurposed Global News Agency: Factors in and Implications of Xinhua’s Transformation since 1978 (Từ cỗ máy tuyên truyền lớn nhất thế giới trở thành Hãng Thông tấn toàn cầu đa mục đích: Những yếu tố ảnh hưởng và hệ quả trong sự cải cách của Tân Hoa Xã từ năm 1978), Taylor & Francis Group publishes, online 4- 8-2011, http://www.com/doi/full/10. Nghiên cứu này đánh giá những thay đổi theo hướng lớn mạnh và vươn ra thế giới của Tân Hoa Xã trong ba thập niên vừa qua dựa trên các tiền đề như chiến tranh lạnh kết thúc, những thay đổi lớn diễn ra ở các hãng thông tấn, các tập đoàn truyền thông lớn trên thế giới và tham vọng muốn trở thành một cường quốc của Trung Quốc.

Mô hình và phương thức hoạt động của Tân Hoa Xã gợi ý cho các cơ quan báo chí truyền thông phải tích cực đổi mới, vừa là cơ quan ngôn luận của chính quyền, vừa cung cấp thông tin cho công chúng trong nước và trên thế giới, đồng thời làm ra lợi nhuận như một tập đoàn thương mại. Kết quả này cũng cho thấy rằng một mẫu hình truyền thông mang tính chất “pha trộn” đang được triển khai một cách lặng thầm nhưng mạnh mẽ ở Trung Quốc thay cho mô hình báo chí xã hội chủ nghĩa thuần túy trước đây. Hai tác giả William Hachten và James F.Scotton trong công trình The World News Prism - Challenges of Digital Communication (Lăng kính tin tức thế giới - Những thách thức của truyền thông kỹ thuật số), Wiley-Blackwell Publishing , New Jersey, USA, 8 edition, October 4-2011, khẳng định rằng: trong thời đại internet và kỹ thuật số, lần đầu tiên trong lịch sử, tất cả các quốc gia, dù xa xôi và khác biệt cách mấy cũng đều có thể bước chân vào thế giới thông tin hiện đại, bởi sự phụ thuộc lẫn nhau của các dân tộc và các quốc gia trên thế giới đang gia tăng hơn bao giờ hết. Internet và tiếng Anh trở thành phương tiện truyền thông quan trọng toàn cầu.

Các tác giả cho rằng hệ thống phân phối thông tin trên thế giới giống như một lăng kính thuỷ tinh, sự thật xuất phát cũng như ánh sáng trắng ban đầu, nhưng qua lăng kính, nó có thể chuyển thành rất nhiều màu sắc khác nhau. Đây là bản chất của tin tức báo chí trên thế giới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ