CHƯƠNG I CO SO LY THUYET I. Khái niệm, phân loại và nguyên tắc xác định hiệu quả của hoạt động đầu tư phát triển 1. Khái niệm Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế- xã hội đã đạt được của hoạt động đầu tư với các chỉ phí phải bỏ ra để có các kết quả đó trong một thời kỳ nhất định. Hiệu quả của hoạt động đầu tư được đánh giá thông qua các chỉ tiêu đo lường hiệu quả.
Việc xác định các chỉ tiêu này phụ thuộc vào mục tiêu của chủ đầu tư (chủ thê hiệu qua) đưa 1a. Hoạt động đầu tư được đánh giá là có hiệu quả khi trị số của các chỉ tiêu đo lường hiệu quả thỏa mãn tiêu chuẩn hiệu quả trên cơ sở sử dụng các định mức hiệu quả do chủ đầu tư định ra. Phân loại Để đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý và nghiên cứu kinh tế, các nhà kinh tế đã phân loại hiệu quả đầu tư theo các tiêu thức sau đây: (1) Theo lĩnh vực hoạt động của xã hội có hiệu quả kinh tế, hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả xã hội, hiệu quả quốc phòng: (2) Theo phạm vi tác dụng của hiệu quả, có hiệu quả đầu tư của từng dự án, từng doanh nghiệp, từng ngành, địa phương và toàn bộ nền kinh tế quốc dân; (3) Theo phạm vi lợi ích có hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế-xã hội. Hiệu quả tài chính hay được gọi là hiệu quả hạch toán kinh tế là hiệu quả kinh tế được xem xét trong phạm vi một doanh nghiệp.
Hiệu qua kinh tế-xã hội của hoạt động đầu tư là hiệu quả tổng hợp được xem xét trên phạm vi toàn bộ nên kinh tế; (4) Theo mức độ phát sinh trực tiếp hay gián tiếp có hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián tiếp: (5) Theo cách tính toán có hiệu quả tuyệt đối và tương đối. Hiệu quả tuyệt đối được tính bằng hiệu số giữa kết quả và chỉ phí, hiệu quả tương đối được tính bằng tỷ số giữa kết quả và chỉ phí. Nguyên tắc đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu phát triển Để đánh giá chính xác hiệu quả của hoạt động đầu tư cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau: (1) Phải xuất phát từ mục tiêu của hoạt động đầu tư. Hoạt động đầu tư không thê xem có hiệu quả khi không đạt được mục tiêu đặt ra.
Phải xác định tiêu chuẩn hiệu quả để đánh giá hiệu quả đầu tư. Tiêu chuẩn hiệu quả được xem là thước đo thực hiện các mục tiêu của hoạt động đầu tư; (2) Khi đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư cần chú ý đến độ trễ thời gian trong đầu tư để phản ánh chính xác các kết quả đạt được và những chi phí đã bỏ ra đề thực hiện đầu tư; (3) Cần sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư; (4) Phải đảm bảo tính khoa học và thực tiễn khi đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư 1. Hiệu quả tài chính của dự án đầu tư 1.
Một số vẫn đề cần xem xét khi đánh giá hiệu quả tài chính của dự án đầu tư Vấn đề đầu tiên cần xem xét khi đánh giá hiệu quả tài chính của dự án đầu tư là Giá trị thời gian của tiền. Tiền có giả trị về mặt thời gian do ảnh hưởng của các yếu tô sau: Thứ nhất, do ảnh hưởng của yếu tổ lạm phát. Do ảnh hưởng của yêu tổ lạm phát nên cùng một lượng tiền nhưng lượng hàng hóa cùng loại mua được ở giai đoạn sau nhỏ hơn giai đoạn trước. Điều này biểu thị sự thay đôi giá trị của tiền theo thời gian (giá trị của tiền giảm).
Thứ hai, do ảnh hưởng của các yếu tô ngẫu nhiên. Giá trị thời gian của tiền biểu hiện ở những giá trị gia tăng hoặc giảm đi theo thời gian do ảnh hưởng của các yếu tổ ngâu nhiên (may mắn hoặc rủi ro). Chăng hạn trong sản xuất nông nghiệp nếu gặp thời tiết thuận lợi sẽ thu được nguồn lợi nhiều hơn. Thứ ba, do thuộc tính vận động và khả năng sinh lợi của tiền.
Trong nền kinh tế thị trường đồng vốn luôn luôn được sử dụng dưới mọi hình thức để đem lại lợi ích cho người sở hữu nó và không đề vốn nằm chết. Ngay cả khi tạm thời nhàn rỗi thì tiền của nhà đầu tư cũng được gửi vào ngân hàng và vẫn sinh lời. Như vậy, nếu chúng ta có một khoản tiền đem đầu tư kinh doanh hoặc đem gửi ngân hàng ở hiện tại thì sau một tháng, một quý hoặc năm. chúng ta sẽ có một khoản tiền lớn hơn số vốn ban đầu.
Sự thay đôi số lượng tiền sau một thời đoạn nào đó thể hiện giá trị thời gian của tiền. Như vậy, giá trị thời gian của tiền được thê hiện thông qua lãi tức. Lãi tức được xác định bằng tông số vốn đã tích lũy được theo thời gian trừ đi vốn đầu tư ban đầu. Khi lãi tức biểu thị theo tỷ lệ phần trăm theo số vốn đầu tư ban đầu trong một đơn vị thời gian thì được gọi là lãi suất.
Lãi suất = Lãi tức trong một đơn vị thời gianVốn đầu tư ban đầu (vốn gốc) x 100% Đơn vị thời gian dùng đề tính lãi suất thường là l năm cũng có khi là l quý, | tháng. Từ khái mệm về lãi suât có thê rút ra khái niệm tương đương của các khoản tiên ở các thời điểm khác nhau như sau: Những số tiền khác nhau ở các thời điểm khác nhau có thê bằng nhau về giá trị kinh tế hoặc tương đương nhau thông qua chỉ tiêu lãi suất. Do tiền có giá trị về mặt thời gian, cho nên khi so sánh, tông hợp hoặc tính toán các chỉ tiêu bình quân của các khoản tiền phát sinh trong những khoảng thời gian khác nhau cần phải tính chuyền chúng về cùng một mặt bằng thời gian. Mặt bằng này có thê là đầu thời kỳ phân tích, cuỗi thời kỳ phân tích hoặc một năm (một quý, một tháng) nào đó của thời kỳ phân tích.
Việc lựa chọn năm (quý, tháng) nào đó làm mặt bằng thời gian để tính chuyển tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thê làm sao vừa đơn giản được việc tính toán, vừa đảm bảo tính so sánh theo cùng một mặt bằng thời gian của các khoản tiền đưa ra so sánh, tổng hợp. Các nhà kinh tế quy ước nếu gọi năm đầu của thời kỳ phân tích là hiện tại thì các năm tiếp theo sau đó là tương lai so với năm đầu. Nếu gọi năm cuối cùng của thời kỳ phân tích là tương lai thì các năm trước năm cuối sẽ là hiện tại so với năm cuối. Nếu xem xét quan hệ giữa 2 năm trong thời kỳ phân tích thì quy ước năm trước là hiện tại và năm sau là tương lai so với năm trước.
Như vậy, tương quan giữa hiện tại và tương lai chỉ là tương đối. Một năm nào đó, trong quan hệ này là hiện tại, nhưng trong quan hệ khác là tương lai. Chúng ta có thê hình dung mỗi quan hệ này như sau: Nếu biêu thị thời kỳ phân tích là một trục thời gian. Đầu thời kỳ phân tích ký hiệu là P, cuối thời kỳ phân tích ký hiệu là F, một năm nao dé trong thời kỳ phân tích la i thi nam ¡ sẽ là tương lai so với đầu kỳ phân tích, là hiện tại so với cuối thời kỳ phân tích.
Ta có thê biêu diễn như sau: PỊ lF p }— Namthti ——> F P< | F Thoi ky phan tich P: Thời điểm hiện tại. F: Thời điểm tương lai. E: l năm nào đó trong thời kỳ phân tích so với năm đầu hoặc những năm trước đó. P: l năm nào đó trong thời kỳ phân tích so với năm cuối hoặc những năm sau đó.
Các khoản tiền phát sinh trong từng thời đoạn (năm, quý, tháng) của thời kỳ phân tích được chuyển về mặt bằng thời gian đầu thời kỳ phân tích hoặc một thời gian nào đó trước nó được gọi là chuyền về giá trị hiện tại, ký hiệu PV (present value). Nếu các khoản tiền này được chuyền về mặt bằng thời gian ở cuối kỳ phân tích hoặc một thời đoạn nào đó sau nó gọi là chuyên về giá trị tương lai, ký hiệu FV(future value). Vấn đề tiếp theo cần xem xét là Công thức tính chuyển các khoản tiền phát sinh trong các thời đoạn của thời kỳ phân tích về cùng một mặt bằng thời gian ở hiện tại hoặc tương lai (đầu thời kỳ phân tích hay cuối thời kỳ phân tích) được xem xét trong từng trường hợp sau: Thứ nhất, trong trường hợp tính chuyển một khoản tiền phát sinh trong thời kỳ phân tích về mặt bằng thời gian hiện tại hoặc tương lai được áp dụng theo công thức sau: FV=PV(1+r) (1) PV=FV+I(r* (2) Trong đó: (1+r)° - Hệ số tích lũy hoặc hệ số tương lai hóa giá trị tiền tệ dùng đề chuyên một khoản tiền từ giá trị ở mặt bằng thời gian hiện tại về mặt bằng thời gian tương lai. 1(1+r} - Hệ số chiết khẩu hoặc hệ số hiện tại hóa giá trị tiền tệ dùng để chuyền một khoản tiền từ giá trị ở mặt bằng thời gian tương lai về mặt bằng thời gian hiện tại.
n - Số thời đoạn (năm, quý, tháng) phải tính chuyển. r - Tỷ suất tính lũy trong công thức (1) và tỷ suất chiết khâu trong công thức (2) hay gọi chung là tỷ suất sử dụng đề tính chuyển. Nó luôn luôn được hiểu là lãi suất ghép (nêu không có ghi chú). Trong trường hợp tý suất thay đối trong thời kỳ phân tích, khi đó công thức (1) và (2) có thê chuyên thành như sau: Thứ hai, trong trường hợp tính chuyển các khoản tiền phát sinh trong từng thời đoạn của thời kỳ phân tích về củng một mặt bằng thời gian hiện tại hoặc tương lai được thực hiện trên cơ sở sử dụng các công thức trên.
Nếu các khoản tiền (A,, Az.An) được phát sinh vào đầu các thời đoạn của thời kỳ phân tích.