TRUONG DAI HOC LAM NGHIEP 'TRUNG TÂM ĐÀO TẠO LÂM NGHIỆP XÃ HỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU MÔ HINH LAM GIAU RUNG BANG CAC LOAI CAY DAC SAN VA LAM SAN NGOAI GO TAI VUNG DEM VUON QUOC GIA BA Vi NGANH LAM NGHIỆP XÃ HỘI MÃ NGÀNH: 303 Giáo viên hướng dẫn: Kiêu Trí Đức Sinh viên thực hiện : Nguyễn Hà Huyền Trang Khoá học: 2002 - 2006 Hà Tây, 2006 MUC LUC Các cụm từ viết tắt Lời nói đầu Phần I. ĐẶT VAN DE Phan Il. TONG QUAN VAN D. Trên thể giới.
MỤC TIÊU - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CUU. Mục tiêu nghiên cứu 3. Mục tiêu chung 3. Mục tiêu cụ thê.
Nội dung nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4. Điều kiện tự nhiên.
Vị trí địa lý, địa hình. Khí hậu thuỷ văn. Dia chat thé nhuéng 4. Đặc điểm kinh tế - xã1 4.
Hiện trạng sử đụng đất. Dân số và lao động. Cơ sở hạ tầng. Hệ thống đường dây điện - thông tin liên lạ sao: lŠ 4.
Giao thông - thuỷ lợi. Y tế và giáo dục. Xác định hiện trạng các mô hình cây đặc sản và LSNG hiện có tại thôn. Mô hình 1: cây Bương mốc.
Mô hình 2: cây Điền trúc. Mô hình 3: Vải thiều + Ba kích + Gừng 4. Mô hình 4: Mơ mai + Củ mài. Mô hình 5: Quế + Keo tai tượng.
Tình hình gây trồng các mô hình cây đặc sản và LSNG tại thôn 4. Tình hình khai thác sản phẩm cây đặc sản và LSNG tại thôn 4. Mô hình bương mốc và mô hình điền trúc 4. Mô hình Vải + Ba kích + Gừng, Mơ mai + Củ mài, Quê +Keo 4.
Kết quả đánh giá hiệu quả của các mô hình cây đặc sản và LSNG tại thôn. Kết quả đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình 4. Kết quả đánh giá hiệu quả xã hội của các mô hình. Kết quả đánh giá hiệu quả cải tạo, bảo vệ đất của các mô hình.
Kết quả đánh giá hiệu quả tông hợp của các mô hình. Đề xuất một số giải pháp đề phát triển các mô hình cây đặc sản và LSNG có hiệu quả tại thôn. Những thuận lợi và khó khăn của thôn. Đề xuất một số giải pháp.
Phần V KẾT LUẬN - TÒN TẠI - KHUYẾN NGHỊ 5. Phụ biểu Tài liệu tham khảo Các cụm từ viết tắt LSNG: Lâm sản ngoài gỗ. NLKH: Nông lâm kết hợp. VQG: Vườn quốc gia.
HGĐ: Hộ gia đình. 'NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn. LOI NOL DAU Để đánh giá được kết quả học tập, đảo tạo tại trường Đại học Lâm nghiệp, với phương châm học đi đôi với hành gắn công tác nghiên cứu khoa học với thực tiễn sản xuất giúp sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, được sự đồng ý của nhà trường, trung tam dao tao LNXH va thay giáo hướng dẫn chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu mô hình làm giàu rừng bằng cây đặc sân và lâm sản ngoài gỗ tại vùng đệm Vườn Quốc Gia Ba Vì”. “Trong quá trình thực hiện đề tài, ngoài sự có gắng nỗ lực từ bản thân tôi đã nhận được sự hướng.
dẫn khoa học của thầy giáo Kiều Trí Đức cùng cán bộ và nhân dân thôn Yên Sơn, xã Ba Vì, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Trong địp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Kiều Trí Đức cùng các Thay, Cô giáo trong trung tâm đào tạo LNXH, các thầy, cô giáo trong trường ĐHLN, cán bộ và nhân dân thôn Yên Sơn, xã Ba Vì, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này. Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành nghiên cứu.Tuy nhiên, do năng lực bản thân và thời gian nghiên cứu có hạn chế nhất định, và là bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, nên đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Vậy tôi rất mong được sự đóng góp những ý kiến quý báu của các Thầy, Cô giáo cùng bạn bè đồng nghiệp để đề tài này được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! Xuân mai, ngày 20 tháng 6 năm 2006 Sinh viên thực hiện NGUYÊN HÀ HUYỆN TRANG Phan I DAT VAN DE Với hơn 20 triệu ha đồi núi là địa bàn sinh sống của 54 dân tộc anh em, cuộc sống của họ dựa chủ yếu vào tài nguyên rừng và đất rừng. Hàng ngày, những người dân miền núi phải khai thác tài nguyên rừng để duy trì cuộc sống. Tuy nhiên, hoàn cảnh nghèo đói buộc con người phải khai thác quá mức tài nguyên rừng đẻ tồn tại. Chính điều này đã tạo nên một nghịch lý: “Để duy trì cuộc sống trước mắt, con người hiện đang sử dụng tài nguyên ở một mức độ sẽ gây nguy hiểm cho sự tồn tại của mình trong tương lai”.
Điều này có nghĩa con người đang khai thác một cách không bền vững nguồn tài nguyên rừng. Trong những thập kỷ qua, việc khai thác phá rừng bừa bãi của cộng đồng các dân tộc thiểu số đã đưa độ che phủ của rừng xuống mức báo động, 27% (Báo cáo dự án GTZ„ 2002). Chính phủ Việt Nam và cộng đồng quốc tế trong những năm qua đã có nhiều nỗ lực để ngăn chặn tình trạng này thông qua các chương trình, đự án phát triển nông thôn miễn núi, trong đó các mô hình nông lâm kết hợp được chú trọng. Đây là giải pháp quan trọng để sản xuất theo hướng bền vững vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao vừa bảo vệ được môi trường sinh thái góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân vùng núi.
Các mô hình trồng kết hợp cây lâm nghiệp và cây ăn quả, cây lương thực,. được đưa vào Ôão chương trình hỗ trợ phát triển nông thôn miền núi đã mang lại hiểu quả nhất định. Tuy nhiên, các mô hình này vẫn chưa đáp ứng, được đầy đủ các nhu cầu cuộc sống của người dân miễn núi. Họ vẫn tiếp tục vào rừng khai thác nguồn cây đặc sản và LSNG bởi lẽ như chúng ta đã biết, các loài cây đặc sản và LSNG thường gắn chặt với đời sống người dân quanh vùng có rừng.
Đây là nguồn sống chính của họ, là cơm, là rau, là thuốc,. của người nghèo, cho nên cấm tuyệt đối người dân hái lượm LSNG ở vùng rừng nào đó là không thẻ. Trong khí đó nguồn cây đặc san va LSNG đang ngày một cạn kiệt. Chính vì vậy, một trong những giải pháp khả thi để giải quyết vấn đề này là phát triển các mô hình cây đặc sản và 1 LSNG.
Cac mé hinh này nhằm đáp ứng nhu cầu trước mắt của người dân đồng thời góp phần bảo vệ và phát triển rừng. Vườn Quốc Gia Ba Vì có tổng diện tích tự nhiên là 6.816ha, vùng đệm 14.144ha nằm trong 7 xã, có 3 cộng đồng dân tộc sông xung quanh núi, trong, đó có 2 cộng đồng dân tộc thiểu số là người Dao và người Mường. Xã Ba Vì là một trong 7 xã miền núi thuộc vùng đệm của vườn, chủ yếu là đồng bào dân tộc Dao sinh sống. Trước những năm 60 số đồng bào này sinh sống trên núi cao, đã quen với tập quán đốt nương, săn bắn và hái lượm, gây không ít hậu quả xấu đối với hệ sinh thái rừng Ba Vì.
Sau năm 1964 được sự quan tâm của Nhà nước, số đồng bào đã di chuyển định cư dưới chân núi, với đời sống còn gặp nhiều khó khăn. Họ vẫn tiếp tục vào rừng khai thác lâm sản đặc biệt là nguồn cây đặc sản và LSNG để phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày làm cho số lượng của chúng trong rừng ngày một ít hơn, việc tìm kiếm chúng mỗi rigày một khó khăn hơn và giá trị đóng góp của LSNG trong kinh tế hộ gia đình mỗi ngày một giảm bớt. Vì vậy, việc nghiên cứu các mô hình cây đặc san va LSNG tai day góp phan làm giàu rừng nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân vùng đệm là việc làm cấp thiết. Từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu mô hình làm giàu rừng bằng các loài cây đặc sản và lâm sản ngoài gỗ tại vùng đệm Vườn Quốc Gia Ba Vì”.
Phan IT TONG QUAN VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 2. Trên thế giới Ở vùng nhiệt đới của nước Mỹ nhiều tổ chức đã bắt trước điều kiện của Từng nhằm đạt được những ảnh hưởng có lợi của hệ sinh thái rừng. Như ở trung Mỹ trong một thời gian dài đã tồn tại phương thức truyền thông là trồng. trung bình 24 loài cây/khoảng đất bằng 1/10ha.
Họ trồng tầng trên cùng là đứa hoặc đu đủ, tầng dưới là cam quýt, thấp hơn là cà phê hoặc cacao, ngô, lạc, sắn,. và sát mặt đất là các loài cây thân bò lan như bí,. Đây là hệ thống kết hợp thân thiện của nhiều loài cây, mỗi một tầng có cấu trúc riêng, ngoại hình tầng thứ giống như rừng hỗn giao nhiệt đới. Ở vùng Châu Á, người Hunnunoo của Philippin có kinh nghiệm sử dụng phương thức du canh một cách kinh tế.
Ở những nơi chặt rừng để canh tác nông nghiệp người ta cân nhắc để lại những cây gỗ nhất định cho tới cuối vụ lúa, nó sẽ tạo sự che bóng, chống được sự phơi nắng quá thái bề mặt đất, các cây gỗ là bộ phận không thể thiếu của hệ thống canh tác người Hunnunoo nó được trồng hoặc giữ lại từ rừng cũ, nó còn có tác dụng cung cấp gỗ xây dựng củi đun và mỹ phẩm (Conklin, 1957). © Chau Phi có khác biệt hơn, ở phía Nam Nigeria người ta trồng khoai, ngô, bí, đậu được che chở của tầng cây gỗ (Forde, 1937). Miền tây của Nigeria, người Yoruba sử dụng hỗn hợp cây hoà thảo, cây dạng bụi và cây gỗ, họ cho rằng hệ thống đó là phương tiện bảo tồn năng lượng của con người bằng cách sử dụng tối đa khoảng không gian có giới hạn. Người Yoruba cho rằng đây là hệ thống Ihông tốn kém nhằm bảo vệ độ phì của đất cũng như chống xói mòn và ngăn chặn sự mặn hoá đất (OJO, 1966).
Khi Miến Điện còn là bộ phận của Ấn Độ là thuộc địa của Anh, ông Upanke đã cho người dân trồng Tếch (Tectona grandis) và cho người dân trồng cây nông nghiệp khi rừng chưa khép tán, ông gọi đó là phương thức Taungya. Sau đó ông truyền lại cho nhà cai trị Anh ở Ấn Độ Dictrick Brandis. 3 Ong Brandis cho rằng đây là phương thức hiệu quả dé gay trồng rừng Tếch (Blanford,1958). Từ đó phương thức này được lan truyền mở rộng ở miền Nam Châu Phi từ năm 1887 (Hayloy, 1957) và sau đó là Châu.
Á và Châu Mỹ La Tỉnh.