phần mở đầu và kết luận, nội dung của Luận văn được chia thành 3 chương: Chƣơng 1. Tổng quan về kỹ thuật xạ trị điều biến liều lƣợng đề cập đến cơ sở vật lý, cơ sở sinh học của phương pháp xạ trị điều biến liều lượng và nguyên lý hoạt động của máy gia tốc tuyến tính trong xạ trị. Kỹ thuật xạ trị điều biến liều bằng hệ Collimator Jaw Only đề cập đến quy trình xạ trị và những yêu cầu cần thiết để triển khai kỹ thuật xạ trị điều biến liều lượng bằng hệ Collimator Jaw Only. Kết quả thực nghiệm tiến hành lập kế hoạch, kiểm tra chất lượng QA trước điều trị và điều trị cho 50 bệnh nhân ung thư trực tràng thấp dùng kỹ thuật xạ trị điều biến liều lượng bằng hệ Collimator Jaw Only.
Dựa trên kết quả thực nghiệm tiến hành thảo luận và rút ra được tính ưu việt của kỹ thuật xạ trị điều biến liều lượng so với kỹ thuật xạ trị thông thường. 2 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ KỸ THUẬT XẠ TRỊ ĐIỀU BIẾN LIỀU LƢỢNG 1. Ung thƣ và các phƣơng pháp điều trị 1. Khái niệm về ung thƣ Trong cơ thể sống, bình thường trong quá trình sinh trưởng và phát triển các tế bào được sinh ra và chết đi theo một cơ chế quản lý chặt chẽ của cơ thể.
Quy luật này để kiểm soát và duy trì số lượng tế bào ở mỗi cơ quan ở mức ổn định. Ngược lại, các tế bào ung thư là các tế bào bất thường, được sinh ra không dưới sự quản lý của cơ thể và chết theo một nhịp độ nhanh hơn các tế bào bình thường. Ung thư được định nghĩa là sự sinh trưởng mất kiểm soát, tạo nên sự tập trung một khối lượng lớn tế bào do sự sinh sản quá nhanh, vượt quá số tế bào chết đi, hậu quả là khối tế bào này dần dần xâm lấn và tàn phá các mô và các cơ quan của cơ thể sống [10, 14]. Như thế, ung thư là bệnh của tế bào sống.
Trong cơ thể chúng ta, nơi nào có tế bào sống, nơi đó có thể có ung thư. Tóc, lông, móng là chất sừng, không phải là tế bào sống nên không có ung thư. Các tế bào ung thư là các tế bào bất thường, và chết theo một nhịp độ nhanh hơn các tế bào bình thường, nhưng cũng không cân bằng được với mức độ sinh sản ra các tế bào mới quá nhanh, do đó khối lượng mô ung thư ngày càng lớn. Sự mất quân bình này do 2 yếu tố chính: Các bất thường di truyền trong tế bào ung thư và sự bất lực của cơ thể chủ trong việc phát hiện và tiêu diệt các tế bào này.
Sự không cân bằng giữa mức độ sinh sản ra các tế bào mới và tế bào chết đi là nguyên nhân dẫn đến khối lượng tế bào ung thư ngày càng lớn, chúng tạo thành những khối u ung thư. Có thể chia khối u thành hai loại: U lành tính và u ác tính. U lành thường không gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh và có thể điều trị bằng phương pháp phẫu thuật loại bỏ khối u. Những tế bào của ung thư ác tính có thể xâm lấm và chèn ép các cơ quan xung quanh làm cho quá trình trao đổi chất của chúng trở lên rối loạn.
Ngoài ra, một số tế bào ung thư còn có thể theo mạch 3 z máu và mạch bạch huyết di cư đến những cơ quan mới khác trong cơ thể, bám lại và tiếp tục sinh sôi nảy nở ra những khối u mới. Hiện tượng này được gọi là sự di căn. Việc chèn ép cũng như xâm lấn vào những cơ quan giữ chức năng quan trọng, điều hòa sự sống như não, phổi, gan, thận khiến các cơ quan này không còn được thực hiện đúng chức năng của nó và dẫn đến gây tử vong cho người bệnh. “Căn bệnh có tỉ lệ tử vong hàng đầu và chiếm gần một phần năm tổng các ca tử vong trên toàn thế giới chính là ung thư”.
Như vậy, ung thư là một căn bệnh rất nguy hiểm và cần phải được điều trị kịp thời khi mắc phải. Các phƣơng pháp điều trị ung thƣ Hiện nay có ba phương pháp chính để điều trị ung thư, đó là: Phẫu thuật, xạ trị và hóa trị. Ngoài ra có thể điều trị kết hợp các phương pháp để đạt hiệu quả mong muốn. Việc lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp là hoàn toàn phụ thuộc vào loại bệnh, vị trí và từng giai đoạn ung thư khác nhau.
Mục đích các phương pháp này là làm sao để tiêu diệt được nhiều nhất các tế bào ung thư mà làm tổn thương ít nhất có thể cho tế bào bình thường ở xung quanh. Phẫu thuật: Là phương pháp điều trị cổ điển nhất nhưng cũng rất công hiệu đặc biệt là với ung thư giai đoạn sớm và khu trú rõ ràng. Khi phẫu thuật, tế bào ung thư được lấy đi càng nhiều càng tốt. Ðôi khi tế bào lành cũng được cắt bỏ để chắc chắn là tế bào ung thư lẫn vào đó sẽ được loại hết.
Phương pháp này dùng hiệu quả nhất với các khối u lành tính hoặc ung thư không di căn. Thông thường phẫu thật được can thiệp, sau đó phải dùng kết hợp với các phương pháp khác. Xạ trị: Là phương pháp sử dụng bức xạ ion hoá để tiêu diệt các khối u. Thông thường xạ trị được dùng cho ung thư không áp dụng được bằng phẫu thuật hoặc khi đã phẫu thuật mà vẫn chưa triệt để, nghĩa là xạ trị sẽ giúp phẫu thuật tiêu diệt tận gốc các tế bào ung thư.
Về cơ bản xạ trị được chia ra làm hai kỹ thuật chủ yếu: Xạ trị chiếu ngoài và xạ trị áp sát. Hóa trị: Là phương pháp sử dụng hoá chất (các loại thuốc đặc hiệu chống ung thư) để điều trị ung thư. Nó được dùng khi ung thư đã lan ra ngoài vị trí ban đầu hoặc khi có di căn ở nhiều địa điểm. Có nhiều loại hóa chất khác nhau.
Mỗi hóa chất có tác dụng riêng biệt với từng ung thư bằng cách làm ngưng sự phân 4 z chia của các tế bào dị thường. Khi không có sự phân bào thì tế bào ung thư sẽ bị tiêu diệt, khối u teo lại. Các phương pháp kết hợp: Ngoài các phương pháp độc lập, để điều trị ung thư hiệu quả hơn, còn có thể kết hợp các phương pháp với nhau. Ví dụ, phẫu thuật kết hợp với xạ trị; phẫu thuật kết hợp với hoá trị; xạ trị kết hợp với hoá trị.
Phƣơng pháp xạ trị ngoài dùng chùm photon 1. Khái niệm và mục đích xạ trị Mục đích của phương pháp xạ trị là nhằm phá hủy các tế bào ung thư và ngăn chặn sự phát triển thêm nữa và sự lây lan của các khối u. Phương pháp xạ trị là tên gọi ngắn gọn của phương pháp điều trị bằng tia xạ trong y học, là một trong ba phương pháp chính được sử dụng hiện nay để điều trị bệnh ung thư cùng với hai phương pháp là phẫu thuật và hóa chất [5, 18]. Xạ trị là quá trình điều trị sử dụng các bức xạ ion hóa hay các tia xạ với liều lượng thích hợp chiếu tới khối u nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư đồng thời gây ra tổn thương nhỏ nhất cho các tế bào lành xung quanh.
Có hai phương pháp xạ trị phổ biến đã và đang được sử dụng là xạ trị ngoài (hay còn gọi là xạ trị từ xa) và xạ trị trong (hay còn gọi là xạ trị áp sát). Xạ trị trong (hay còn gọi là xạ trị áp sát) là kỹ thuật xạ trị mà khoảng cách từ nguồn phóng xạ đến các khối u là rất nhỏ. Trong phương pháp này người ta sử dụng các nguồn phóng xạ có dạng kim, dạng ống, tube để đưa sát lại vùng có khối u. Có ba cách thực hiện kỹ thuật này: Cách thứ nhất dùng tấm áp bề mặt để điều trị các vùng như da mặt, vùng đầu, vùng cổ,…; Cách thứ hai là dùng các applicator để điều trị ở các khoang tự nhiên của cơ thể; Cách thứ ba người ta sử dụng các kim cắm trực tiếp vào trong các khe, kẽ, trong mô,… Xạ trị ngoài hay còn gọi là xạ trị từ xa là phương pháp xạ trị mà nguồn phát tia ở cách bệnh nhân một khoảng nào đó.
Đây là phương pháp rất phổ biến trong điều trị ung thư hiện nay. Phương pháp này được tiến hành với chùm photon từ nguồn phát như nguồn Co60 hoặc chùm bức xạ hãm năng lượng cao được tạo bởi chùm electron được gia tốc bởi máy gia tốc tuyến tính, cho đập vào bia. Xạ trị từ ngoài có thể dùng trực tiếp chùm electron tuyến tính phát ra từ máy gia tốc để điều trị các khối u ngay gần bề mặt da. 5 z Cho tới thời điểm hiện nay, xạ trị ngoài có 3 kĩ thuật chính: a) c) b) Hình 1.
Các kỹ thuật xạ trị ngoài a/ Kỹ thuật xạ trị thông thường b/ Kỹ thuật xạ trị theo hình dạng 3 chiều của khối u c/ Kỹ thuật xạ trị điều biến liều theo hình thái khối u. (1) Kỹ thuật xạ trị thông thường: Kỹ thuật này phổ biến từ trước cho đến nay. (2) Kỹ thuật xạ trị theo hình dạng ba chiều của khối u: Với sự có mặt của ống chuẩn trực đa lá MLC, chùm bức xạ phát ra có thể được điều chỉnh theo hình dạng bất kì của khối u. (3) Kỹ thuật xạ trị điều biến liều lượng theo hình dạng khối u: Đây là kỹ thuật xạ trị tiên tiến nhất hiện nay, hình dáng chùm tia không những có thể điều chỉnh để ôm khít khối u mà cường độ bức xạ chùm tia phát ra còn có thể điều biến được trên từng ô khác khau trên khối u.
Nội dung của Luận văn này đề cập đến kỹ thuật xạ trị điều biến liều lượng theo hình dạng khối u sử dụng chùm photon được tạo ra từ máy gia tốc tuyến tính PRIMUS – SIEMENS. Cơ sở của phƣơng pháp xạ trị dùng chùm photon Chùm photon (tia gamma và tia X) gây ra độ ion hóa trong môi trường nhỏ hơn các loại hạt khác, nhưng độ đâm xuyên lại rất lớn do đó hiện nay được ứng dụng chủ yếu trong xạ trị từ xa, chúng có thể tác dụng lên tế bào ở sâu trong cơ thể, để điều trị các khối u sâu. Với các u sâu trên 3cm, để giảm liều chiếu ở mặt da và ở các mô lành trên đường đi của chùm tia, người ta sử 6 z dụng nhiều chùm, theo các hướng khác nhau sao cho các hướng chiếu được chọn hội tụ tại tâm là khối u cần điều trị.