CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH XẠ TRỊ CHO UNG THƯ CỔ TỬ CUNG 1.1 Tổng quan về ung thư cổ tử cung Ung thư cổ tử cung là một căn bệnh gây ra bởi sự phát triển và phân chia bất thường của các tế bào hình thành nên cổ tử cung. Ung thư cổ tử cung thường phát triển chậm và không có triệu chứng. Ung thư cổ tử cung là loại ung thư thường gặp ở phụ nữ ở các nước kém phát triển, chỉ đứng thứ 2 sau ung thư vú.
Ung thư cổ tử cung là ung thư tiến triển chậm thường do papillomavirus ở người (HPV) gây ra lây lan qua đường tình dục. Thông thường khi mắc phải HPV không gây ra các triệu chứng cho đến giai đoạn muộn, việc chẩn đoán nhiễm HPV có thể được phát hiện bằng phết tế bào Pap hoặc sinh thiết để tầm soát. Điều trị hiệu quả hơn trong giai đoạn đầu và có thể bao gồm phẫu thuật, hóa trị và xạ trị. Ung thư cổ tử cung là một trong những loại ung thư có thể phòng ngừa được.
Các biện pháp phòng ngừa bao gồm quan hệ tình dục an toàn, tiêm vắc-xin phòng ngừa HPV và xét nghiệm Pap smear thường xuyên có thể xác định những thay đổi tiền ung thư sớm. Hình ảnh giải phẫu về ung thư cổ tử cung 3 Ung thư cổ tử cung là loại ung thư phổ biến thứ tư ở phụ nữ, với ước tính khoảng 604.127 ca mới năm 2020, chiếm 6,5% tổng số ca ung thư ở phụ nữ trên toàn thế giới, và một trong ba bệnh ung thư hàng đầu ở phụ nữ <45 tuổi tại 145 quốc gia trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung là một trong 5 ung thư thường gặp ở nữ.664 ca mới mắc và hơn 3.000 ca tử vong do ung thư cổ tử cung; năm 2020 khoảng 4.132 ca mắc mới, với hơn 2.223 trường hợp tử vong [1]. Theo GLOBOCAN (Global cancer observatory) 2020 (một dự án của cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế IARC), tỷ lệ mắc mới ung thư cổ tử cung ở Việt Nam năm 2020 là 6,6 trên 100.000 phụ nữ, chiếm 2,3 % tỷ lệ ung thư chung.
Tỷ lệ tử vong là 3,4 trên 100. Carcinôm tế bào gai (SCC) là kiểu mô học phổ biến nhất, chiếm khoảng 80 đến 90%, còn lại 10 đến 20% ung thư cổ tử cung là carcinôm tuyến. Có 3 phương pháp chính trong điều trị ung thư cổ tử cung: phẫu thuật, hoá trị, xạ trị. Ngoài ra còn có một số phương pháp điều trị khác như điều trị trúng đích, điều trị miễn dịch, tế bào gốc….
Trong điều trị xạ trị ung thư cổ tử cung có kỹ thuật xạ trị IMRT và kỹ thuật VMAT là 2 kỹ thuật điều trị chủ yếu, ưu điểm của 2 kỹ thuật xạ trị trên là bảo đảm liều vào khối u, giảm liều vào cơ quan lành. Tuy nhiên, với kỹ thuật IMRT nhiều góc chùm tia được sử dụng và cường độ của từng chùm tia có thể được điều biến bằng cách sử dụng các bộ chuẩn trực nhiều lá (MLC), cho phép tạo ra các cấu hình liều lượng phức tạp nhưng có độ phù hợp cao, kỹ thuật IMRT thường bao gồm ít hơn 10 góc chùm tia trường cố định, máy chỉ phát tia theo kỹ thuật step and shoot ( các segmment hay các lá chì dừng hẳn rồi phát tia) và kỹ thuật dynamic MLC (phát tia liên tục khi di chuyển các trường chiếu nguyên tố nhưng Gantry không tự động di chuyển). Đối với kỹ thuật VMAT bao gồm một số lượng lớn các góc chùm tia từ quỹ đạo vòng cung và cung cấp liều lượng linh hoạt trong quá trình quay của Gantry. Kỹ thuật IMRT thường sử dụng các trường chiếu cố định, liều tập trung ở các hướng chiếu còn đối với kỹ thuật VMAT máy liên tục 4 định hình lại và thay đổi cường độ của chùm bức xạ khi nó di chuyển quanh cơ thể, một số lượng lớn các góc chùm tia từ quỹ đạo vòng cung và cung cấp liều lượng linh hoạt trong quá trình quay của Gantry, chính vì vậy liều nhận được đối với các cơ quan lành của kỹ thuật VMAT là ít hơn so với kỹ thuật IMRT.
Việc lựa chọn kỹ thuật xạ trị phù hợp cho mỗi bệnh nhân ung thư cổ tử cung ở các giai đoạn bệnh khác nhau là rất quan trọng, để sao cho đảm bảo liều đạt vào khối u và đảm bảo liều nhận được vào cơ quan lành, đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế, phù hợp hoàn cảnh của bệnh nhân, đảm bảo lợi ích cho bệnh nhân.2 Một số nghiên cứu về IMRT, VMAT cho ung thư cổ tử cung Để xây dựng được đề tài này cần một số tài liệu tham khảo, dưới đây là một số nghiên cứu so sánh về kỹ thuật xạ trị IMRT và kỹ thuật VMAT cho ung thư cổ tử cung của một số tác giả: a. Nghiên cứu:”Một nghiên cứu so sánh liều lượng bệnh nhân ung thư cổ tử cung di căn hạch cạnh động mạch chủ được điều trị bằng kỹ thuật xạ trị điều biến thể tích cung tròn so với kỹ thuật xạ trị điều biến cường độ 9 trường.”YaqinWu , BiqingZhu , JingjingHan , HanziXu , ZhenGong , Yongqi nYang , Jian Huang , Emei Lu , National Library of Medicine, 2019 [2] Nghiên cứu trên tác giả đã nghiên cứu so sánh liều lượng của bệnh nhân ung thư cổ tử cung được điều trị bằng kỹ thuật VMAT với kỹ thuật 9F IMRT, tác giả đã lựa chọn 20 bệnh nhân ung thư cổ tử cung. Mục đích để so sánh các chỉ số tương thích liều (CI), chỉ số đồng nhất liều (HI), liều bức xạ phát ra của máy gia tốc (MU), thời gian phát tia (t), và cơ quan lành (OAR) đối với 2 kỹ thuật. Nghiên cứu trên đã cho thấy sự khác biệt về liều lượng và thông số đo liều ở 20 bệnh nhân ung thư cổ tử cung di căn giữa các kế hoạch 9F IMRT và VMAT.
Các kết quả trong nghiên cứu chỉ ra rằng vùng thể tích bia lập kế hoạch (PTV) nhận liều đều đáp ứng yêu cầu về liều lượng. Chỉ số đồng nhất (HI) và chỉ số tương thích (CI) của kế hoạch VMAT vượt trội so với kế hoạch 9F IMRT, thời gian điều trị 9F IMRT nhiều hơn so với VMAT. Các thể tích 5 V40, V50 của trực tràng và V40 của bàng quang trong kế hoạch VMAT ít hơn so với kế hoạch 9F IMRT, số lượng MU trung bình giảm 51% và thời gian điều trị trung bình giảm 31% của VMAT so với IMRT. Tuy nhiên, nghiên cứu trên chưa chọn lựa bệnh nhân cụ thể giai đoạn nào, chưa đề cập đến việc so sánh các bệnh nhân giai đoạn chưa di căn và đã có di căn, để từ đó đánh giá so sánh các kỹ thuật giữa các nhóm giai đoạn bệnh.
Nghiên cứu:”Vai trò của kỹ thuật xạ trị điều biến thể tích cung tròn VMAT trong xạ trị phụ khoa: So sánh liều lượng giữa xạ trị điều biến cường độ với VMAT.” Của nhóm tác giả Penelope Knapp, DipAppSci, Belinda Eva, BAppSci, Gemma Reseigh, BappSci, Adrian Gibbs, Journal of Medical Radiation Sciences, 2018 [3] Nghiên cứu này tác giả đã đề cập vai trò của xạ trị điều biến thể tích cung tròn (VMAT) trong xạ trị ung thư phụ khoa và so sánh liều lượng của xạ trị điều biến cường độ so với VMAT. Tác giả đã lựa chọn 20 bệnh nhân, so sánh 2 kỹ thuật IMRT và VMAT: Liều nhận được vào thể tích PTV, các chỉ số tương thích ( CI), các chỉ số đồng nhất (HI). So sánh liều nhận được của các cơ quan lành (OAR), liều bức xạ phát ra của máy gia tốc (MU), thời gian điều trị (t). Nghiên cứu này đã cho thấy: Không có sự khác biệt đáng kể trong D95 trung bình và chỉ số đồng nhất (HI), chỉ số tương thích (CI) của kỹ thuật VMAT là cao hơn đáng kể so với kỹ thuật (IMRT), liều nhận được của các cơ quan lành (OAR) của kỹ thuật VMAT đều ít hơn so với kỹ thuật IMRT.
Không có sự khác biệt về liều bức xạ phát ra của máy gia tốc (MU), tuy nhiên thời gian phát tia của VMAT ít hơn so với IMRT. Tuy nhiên nghiên cứu chưa thấy việc so sánh các chỉ số đánh giá kế hoạch và cơ quan lành (OAR) của 2 kỹ thuật IMRT và VMAT giữa các bệnh nhân ở các giai đoạn bệnh khác nhau. Chưa thấy việc nghiên cứu bệnh nhân nào cần chỉ định xạ trị IMRT, bệnh nhân nào cần chỉ định xạ trị VMAT. Nghiên cứu:” Kỹ thuật xạ trị điều biến thể tích cung tròn so với kỹ thuật xạ trị điều biến cường độ trường cố định trong xạ trị triệt để đối với ung thư cổ tử cung mà không cắt hạch bạch huyết: Kết quả lâm sàng và liều lượng.” Của nhóm tác giả Mingfang Guo, Erliang Huang, Xianfeng Liu, Ying Tang, National Library of Medicine, 2018 [4] Nghiên cứu này tác giả đã so sánh kỹ thuật VMAT và kỹ thuật IMRT trường cố định đối với ung thư cố tử cung không cắt hạch.
Tác giả đã lựa chọn 80 bệnh nhân, sử dụng biểu đồ liều thể tích để đánh giá sự phân bố liều trong thể tích bia lập kế hoạch (PTV) và các cơ quan nguy cấp (OAR). Nghiên cứu này đã cho thấy: Chỉ số đồng nhất (HI) và chỉ số tương thích (CI) của các kế hoạch VMAT đều vượt trội so với HI và CI của các kế hoạch f-IMRT (p = 0,043, 0,025). Các kế hoạch VMAT dẫn đến giảm V30 của trực tràng và V40 của bàng quang (p = 0,002). Hơn nữa, liều của máy phát ra (MU) cho VMAT ít hơn một phần tư so với f-IMRT.
Thời gian điều trị cho VMAT ít hơn một nửa so với f-IMRT. Tuy nhiên nghiên cứu chưa đề cập đến: Cũng giống các bài báo trên, bài báo này mới chỉ so sánh liều lượng vào thể tích lập kế hoạch (PTV) và liều nhận được của cơ quan lành (OAR), các chỉ số CI, chỉ số HI, liều của máy phát ra (MU), thời gian phát tia giữa hai kỹ thuật IMRT và VMAT đối với bệnh nhân ung thư cổ tử cung nói chung, chưa thấy nghiên cứu so sánh giữa hai kỹ thuật đối với các nhóm bệnh hay các giai đoạn bệnh nhân với nhau. Căn cứ từ các công bố quốc tế, cụ thể 3 bài báo trên, các bài báo đã so sánh hai kỹ thuật IMRT và VMAT trên bệnh nhân ung thư cổ tử cung, các chỉ số đánh giá kế hoạch CI, HI, MU, D95 đã được đưa ra để so sánh, các chỉ số về thể tích nhận liều của các cơ quan lành cũng được đưa vào để so sánh, để cho thấy được ưu điểm và nhược điểm giữa hai kỹ thuật IMRT và VMAT trên bệnh nhân ung thư cổ tử cung.