Đồ án tốt nghiệp: Quy trình và kỹ thuật trồng nấm bào ngư xám trên mạt cưa

Tài liệu đồ án tốt nghiệp về kỹ thuật trồng nấm bào ngư xám trên mạt cưa. Hướng dẫn đầy đủ quy trình từ xử lý nguyên liệu, cấy meo đến thu hoạch.

Chuyên ngành

Nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo khoa học
74
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nấm bào ngư xám và ý nghĩa trồng nấm

Nấm bào ngư xám là một loài nấm quý có giá trị dinh dưỡng cao, ngày càng được nông dân Việt Nam quan tâm. Trong thập kỷ vừa qua, ngành trồng nấm phát triển mạnh mẽ, tạo nguồn thức ăn sạch và giải quyết việc làm cho hàng triệu người lao động. Kỹ thuật trồng nấm bào ngư không chỉ tận dụng các phế thải nông nghiệp như mạt cưa, rơm rạ, bã mía mà còn góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Nấm bào ngư xám chứa đầy đủ protein, các acid amin, vitamin B1, B2, C, PP và các khoáng chất như canxi, sắt, kali, magie. Với điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm của Việt Nam, trồng nấm bào ngư xám trên mạt cưa trở thành lựa chọn kinh tế lợi nhuận cao, vốn đầu tư ban đầu thấp, kỹ thuật không quá phức tạp nhưng hiệu quả cao.

1.1. Đặc điểm sinh học của nấm bào ngư xám

Nấm bào ngư xám sở hữu những đặc tính sinh học độc đặc, thích nghi tốt với các điều kiện trồng trên mạt cưa. Loài nấm này nhạy cảm với môi trường, đặc biệt là độ ẩm, nhiệt độ và thông gió. Tơ nấm phát triển nhanh chóng trên các loại nguyên liệu hữu cơ, có khả năng phân hủy cellulose tốt. Nấm bào ngư xám thích hợp với nhiệt độ 12-20°C, độ ẩm 65-75%, yêu cầu ánh sáng vừa phải để phát triển cơ quan sinh sản.

1.2. Giá trị dinh dưỡng và công dụng thực tế

Nấm bào ngư xám được coi là "rau sạch" với hàm lượng protein cao, không gây xơ cứng động mạch hay tăng cholesterol. Loài nấm này chứa vitamin, khoáng chất cần thiết cho cơ thể con người. Ngoài tác dụng dinh dưỡng, nấm bào ngư xám còn có khả năng chữa bệnh huyết áp, tiểu đường, chống béo phì. Công dụng rộng rãi trong kỹ nghệ lên men, dược phẩm, làm cho nhu cầu tiêu thụ tăng liên tục trên thị trường trong nước và quốc tế.

II. Quy trình phân lập và nhân giống nấm bào ngư xám

Quá trình nhân giống nấm bào ngư xám là bước chuẩn bị quan trọng nhất, quyết định chất lượng vụ mùa. Kỹ thuật nhân giống được chia thành ba cấp độ, từ giống gốc trên môi trường thạch đến giống cấp hai trên hạt, rồi đến giống cấp ba trên cọng mì. Mỗi giai đoạn nhân giống yêu cầu kiểm soát chặt chẽ tốc độ lan tơ, đặc điểm hình thái nấm và tình trạng sức khỏe của tơ. Phương pháp tạo giống gốc từ mô nấm hoang dã hay chủng nấm nhập khẩu, sau đó nhân giống trên các môi trường khác nhau để tạo ra giống công nghiệp chất lượng cao, sạch bệnh, phù hợp với điều kiện trồng tại Việt Nam.

2.1. Tạo môi trường và giống gốc cho nấm bào ngư xám

Tạo giống gốc bắt đầu từ việc lấy mô nấm từ các chủng chuẩn, nuôi trên môi trường thạch có thành phần dinh dưỡng cân bằng. Môi trường thạch phải đạt độ vô trùng tuyệt đối, được tấy bước trong điều kiện vô trùng. Tơ nấm lan trên môi trường thạch nhanh, khỏe, có hình thái đặc trưng. Giai đoạn này cần theo dõi tốc độ lan tơ, ghi chép chi tiết, loại bỏ các chủng nhiễm bệnh hoặc phát triển bất thường.

2.2. Phương pháp nhân giống cấp hai và cấp ba

Nhân giống cấp hai dùng nguyên liệu hạt như hạt lúa mạch hoặc hạt ngô, vừa bảo đảm mầm nấm khỏe mạnh vừa dễ bảo quản. Nhân giống cấp ba trên cọng mì hoặc mạt cưa bột để thích nghi với điều kiện trồng thực tế. Mỗi lần chuyển giai đoạn nhân giống, cần khảo sát tốc độ lan tơ, ghi chép dữ liệu để đảm bảo chất lượng giống nhân rộng ra trại.

III. Quy trình xử lý nguyên liệu và cấy meo trên mạt cưa

Xử lý nguyên liệu mạt cưa là yếu tố sơ cấp quyết định thành công của trồng nấm bào ngư xám. Mạt cưa phải được lựa chọn từ gỗ cứng, tươi, không có nấm hoang dã hay tạp chất. Quy trình xử lý bao gồm sàng rây, phơi khô, sau đó tẩy độc tố bằng nước nóng 80-90°C trong 30 phút hoặc luộc hơi. Nguyên liệu được để lạnh, thoát nước trước khi cấy meo. Giai đoạn cấy meo là ủy thác giống nấm vào mạt cưa đã chuẩn bị, cần bảo đảm tỷ lệ giống phù hợp (10-15% trên trọng lượng ẩm), trộn đều để tơ nấm lan khắp. Sau cấy meo, túi được đặt trong điều kiện tối, nhiệt độ 15-20°C, độ ẩm 70-80% để tơ nấm lan nhanh chóng.

3.1. Lựa chọn và sơ chế nguyên liệu mạt cưa

Mạt cưa phải từ gỗ cứng (gỗ dừa, gỗ tếch) để đảm bảo lượng cellulose cao, nuôi dưỡng nấm tốt. Loại bỏ mạt cưa từ gỗ mềm hay gỗ có chứa chất độc. Sàng rây để loại bỏ bụi, đá, tạp chất. Phơi khô đến độ ẩm 10-15% giúp bảo quản lâu dài. Tẩy độc tố bằng nước nóng giết chết các vi khuẩn, nấm hoang dã nhưng giữ lại các dưỡng chất cần thiết cho nấm bào ngư xám.

3.2. Kỹ thuật cấy meo và nuôi ủ

Cấy meo được thực hiện trong điều kiện vô trùng tối đa, trộn giống đều với nguyên liệu mạt cưa. Tỷ lệ giống 10-15% đảm bảo tơ nấm lan nhanh, tránh lây nhiễm. Đặt túi nấm trong kho có điều kiện kiểm soát: tối, nhiệt độ 15-20°C, độ ẩm 70-80%. Giai đoạn nuôi ủ kéo dài 30-45 ngày, tơ nấm sẽ lan đầy túi, chuẩn bị cho giai đoạn tạo nấm.

IV. Giai đoạn chăm sóc tưới đón nấm và xử lý hiện tượng bất thường

Giai đoạn chăm sóc nấm bào ngư xám sau khi tơ lan đầy túi là khâu sơ cấp để đạt năng suất cao. Túi nấm được chuyển sang nơi có ánh sáng tự nhiên vừa phải, thông gió tốt, nhiệt độ duy trì 12-20°C, độ ẩm 80-85%. Tưới nước là công việc quan trọng nhất, cần phun sương 2-3 lần mỗi ngày để duy trì độ ẩm, tránh rửa trực tiếp làm hỏng nấm. Nấm bào ngư sẽ xuất hiện trong 7-10 ngày, cần chờ cho nấm phát triển đầy đủ rồi mới thu hoạch. Các hiện tượng bất thường như nấm sủi bọt, mục mềm, hay sinh nấm không đều thường do độ ẩm quá cao, thông gió kém, hoặc nhiễm bệnh. Cần cải thiện điều kiện, loại bỏ những chổ bị nhiễm, đảm bảo vệ sinh kho trồng để phòng ngừa.

4.1. Quản lý điều kiện môi trường cho nấm phát triển

Ánh sáng được coi là kích thích quan trọng cho nấm bào ngư xám phát triển, cần ánh sáng gián tiếp 100-300 lux mỗi ngày. Nhiệt độ duy trì 12-20°C là tối ưu, tránh biến thiên quá lớn sẽ gây ảnh hưởng đến tốc độ phát triển. Thông gió được thực hiện 2-3 lần mỗi ngày, mỗi lần 10-20 phút để trao đổi khí CO2 và O2. Độ ẩm 80-85% được duy trì bằng cách phun sương nhẹ, không để nước đọng lên mặt nấm gây bệnh.

4.2. Thu hoạch xử lý bệnh và kinh nghiệm thực tế

Nấm bào ngư xám được thu hoạch khi tròn đủ nhưng còn mềm, chưa cứng vỏ, thường 7-15 ngày sau khi xuất hiện. Cắt từ gốc, tránh làm hỏng túi để tái sử dụng. Xử lý bệnh như sủi bọt hay mục mềm bằng cách loại bỏ phần bị nhiễm, cải thiện thông gió, giảm độ ẩm tạm thời. Kinh nghiệm thực tế cho thấy kiểm soát chặt chẽ môi trường, vệ sinh tuyệt đối, sử dụng giống chất lượng là chìa khóa thành công của trồng nấm bào ngư xám trên mạt cưa.

21/12/2025
Đồ án tốt nghiệp kỹ thuật trồng nấm bào ngư xám trên mạt cưa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 : Giới thiệu về giới nấm: 1.1 Tổng quan về giới nấm: - Nấm ( Fungi, số ít là Fungus) là một giới riêng gọi là giới nấm.Nấm không có diệp lục, sống dị dưỡng bằng các hoại sinh trên xác của thực vật , hoặc các chất hữu cơ rữa nát. - Nấm gồm những cơ thể sống có nhân chính thức (Eukaryor), dạng amip nhày, thể nhày ( Plasmodium) chuyển động bằng giả túc hay dạng ống phân nhánh có màng tế bào bao bọc được tạo thành chủ yếu từ chitin, xenlluloze hay cả hai phần trên và không chuyển động.Sinh sản bằng bào tử.Dự trữ đường dưới dạng glucogen.000 loài nấm được định danh trong số ước tính có tới 1.5 triệu loài dứng thứ hai sau nhóm côn trùng. Nấm có vai trò vô cùng quan trọng , cùng với vi khuẩn dị dưỡng nấm là vật phân hủy chủ yếu của sinh quyển nhờ đó mà ổn định được chu trình vật chất trong từ nhiên nhiên.Tuy nấm có nhiều tác dụng mang lại lợi ích cho 8 con người nấm cũng có nhiều tác hại đối với mùa màng và đời sống con người.Nấm cũng quan trọng về kinh tế y học… - Căn cứ vào mục đích và ý nghĩa kinh tế có thể chia ra các loại: + Các nấm có chứa độc tố ( gọi là nấm độc) + Các loại nấm không chứa độc tố được con người sử dụng làm thức ăn ( được gọi chugn là nấm ăn) + Các nấm gây hại chủ yếu trong sản xuất nông lâm nghiệp thường gặp như nấm gây bệnh xoăn lá ở khoai tây, cà chua nấm gây bệnh rỉ sắt ở đậu tương… + Trong y học có có nhiều loại nấm còn dung làm thuốc chữa bệnh cho người và gia súc Chương 2: Tổng quan về nấm bào ngư xám 2.1 Giới thiệu về nấm bào ngư xám - Nấm bào ngư là tên gọi chung cho các loài thuộc họ Pleurotus. Theo Singer (1975) có tất cả 39 loài và chia làm 4 nhóm.Trong đó có hai nhóm lớn:  Nhóm ưa nhiệt trung bình ( ôn hòa) kết quả thể ở nhiệt độ 10 – 20oC  Nhóm ưa nhiệt kết quả thể ở nhiệt độ 20 – 30oC.

Đây là nấm có nhiều loài được nuôi trồng nhất ở Pháp - Ở Việt Nam Nấm bào ngư trước đây mọc chủ yếu hoang dại và có nhiều tên gọi khác nhau: nấm sò , nấm hương trắng hay chân ngắn ( miền bắc) , nấm dai ( miền nam) , nấm bình cô, Oyster Mushroom.Việc nuôi trồng nấm này bắt đầu khoảng 20 năm trở lại đây với nhiều chủng loại. 9 - Nấm bào ngư có đặc điểm chung là tai nấm dạng hình phễu , phiến mang bào tử kéo dài xuống đến chân cuống nấm gần gốc có lớp lông nhỏ mịn. Tai nấm bào ngư còn non có màu sắc sậm hoặc tối nhưng khi trưởng thành có màu sáng hơn. - Nấm bào ngư xám cũng có những đặc điểm của nấm bào ngư.

Nấm bào ngư xám có kích thước lớn hơn bào ngư trắng, có tai to hơn màu sậm hơn và cuốn cũng to hơn.2 Phân loại:  Nấm bào ngư màu hồng đào ( Pink Oyster Mushroom)  Nấm bào ngư hoàng bạch ( Branched Oyster Fungus)  Nấm bào ngư kim đỉnh ( Citrine Pleurotus)  Nấm bào ngư A ngụy ( Feerule mushroom)  Nấm bào ngư tím ( Oyster Mushroom)  Nấm bào ngư phiến hồng , nấm bào ngư đỏ pháo ( Pink Gill Oyster Mushroom)  Nấm bào ngư cuống dài , nấm bào ngư màu tro ( Long – stalked Pleurotus) 10  Nấm bào ngư Đài Loan, Nấm bào ngư ưa nóng ( Cystidi ate Pleurotus , Abalone Pleurotus)  Nấm bào ngư viên bào ( Angels Wings)  Nấm bào ngư phượng vĩ ( Phoenix- tail Mushroom) Hình 1 Bào ngư phiến hồng Hình 2 Bào ngư vàng 11 Hình 3 Bào ngư xám Hình 4 Bào ngư tím 2.3 Đặc điểm tổng quát của nấm bào ngư xám: - Nấm bào ngư có nhiều chủng khác nhau. Chúng khác nhau về màu sắc hình dạng kích thước, khả năng thích nghi với điều kiện nhiệt độ khác nhau. - Cây nấm có dạng hình phễu lệch gồm 3 bộ phận : mũ, phiến, và cuống nấm. chúng thường mọc tập trung thành từng cụm gồm một số cây nấm nhóm lại với nhau.

- Khi nấm trưởng thành, bào tử nấm chín và phát tán ra khỏi mũ nấm. Các luồng không khí đưa bào tử rãi rác ra xung quanh gặp điều kiện môi trường thích hợp từ bào tử nấm mọc ra sợi nấm cấp 1 ( sợi sơ cấp) phát triển thành từng sợi riêng rẽ. sau một thời gian các tế bào ở các sợi nấm khác nhau giao phối với nhau thành hệ sợi nấm cấp 2 ( sợi thứ cấp). Hệ sợi nấm cấp 2 gồm các tế bào có 2 nhóm.

Sau một thời gian phát triển từ các tế bào 2 nhân mọc lên quả thể và phát triển thành cây nấm hoàn chỉnh 12 Hình 5 Hình dáng nấm sò 13 2.1 Đặc điểm sinh học của nấm bào ngư xám - Chu trình sống bắt đầu từ đảm bào tử hữu tính nẩy mầm cho hệ sợi tơ dinh dưỡng sơ cấp và thứ cấp và kết thúc bằng việc hình thành cơ quan sinh trưởng là tai nấm. Tai nấm lại sinh đảm bào tử và chu trình sống tiếp tục. - Bào ngư xám khi nuôi cấy hệ sợi tơ thường xuất hiện các gai nhọn mang dịch nước đen. Bên trong dịch nước này là các bào tử vô tính (oidium).

Bào tử này nảy mầm cho lại tơ thứ cấp. Hình 6 Chu kỳ sinh trưởng của nấm bào ngư 14 * Sơ đồ vòng tuần hoàn của nấm - Quả thể nấm phát triển qua nhiều giai đoạn Hình 7 Sơ đồ vòng tuần hoàn của nấm a. Dạng san hô b. Dạng dùi trống c.

Dạng phễu lệch e. Dạng lá lục bình - Dạng san hô → dạng dùi trống → dạng phễu → dạng phễu lệch → dạng lá lục bình. - Dạng san hô : quả thể mới tạo thành dạng sợi mãnh hình chum. - Dạng dùi trống : mũ xuất hiện dạng khối trònđường kính cuống và mũ không khác nhau bao nhiêu.

- Dạng phễu: mũ mở rộng trong khi cuống còn ở giữa phễu ( giống hình cái phễu) - Dạng phễu lệch : cuốn lớn nhanh một bên và bắt đầu lệch so với vị trí trung tâm mũ. - Dạng lá lục bình: cuốn ngừng tăng trưởng nhưng mũ vẫn tiếp tục phát triển 15 - Nấm bào ngư là loài có khẳ năng sử dụng lignin mạnh nhất, nhất là thời gian khởi đầu của việc tạo quả thể nấm. Thí nghiệm của Zadrazil (1980) cho thấy hầu hết các cơ chất nuôi trồng nấm bào ngư P.sp florida và P.cornucopiae đều có sự giảm lignin một cách đáng kể. - Ở gỗ mà nấm thường mọc, hầu như rất nghèo đạm.

Vì vậy, để mọc nấm tốt cần có thêm nguồn đạm thích hợp. Nhiều thí nghiệm bổ sung muối nitrat, muối ammonium và urê cho thấy tơ nấm tăng trưởng tốt nhất trên nguyên liệu có thêm urê. Bột đậu nành cũng là nguồn bổ sung rất tốt cho bào ngư. Ngoài ra, mỗi tác giả cũng tìm thấy một loại đạm thích hợp cho nấm.

- Chu kỳ phát triển của nấm bào ngư 16 Hình 8 Chu kỳ phát triển của nấm bào ngư 2.2 Đặc điểm sinh trưởng của nấm bào ngư xám - Ngoài yếu tố dinh dưỡng từ các chất có trong nguyên liệu trồng nấm bào ngư Nhật thì sự tăng trưởng và phát triển của nấm có liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau như: nhiệt độ, ẩm độ, pH, ánh sáng, oxy. - Độ ẩm : Độ ẩm rất quan trọng đối với sự phát triển của tơ và quả thể của nấm. Trong giai đoạn tăng trưởng, độ ẩm nguyên liệu yêu cầu từ 50% - 60% còn độ ẩm không khí không được nhỏ hơn 70%. Ở giai đoạn hình thành quả thể độ ẩm không khí 85% - 90%.

Độ ẩm không khí ở khoảng 7% cho quả thể nhỏ, dưới 60% không ra quả thể, nếu nấm ở giai đoạn phễu lệch hoặc dạng lá thì sẽ bị khô mặt và cháy vàng bìa mũ nấm. Nhưng nếu độ mẩ không khí trên 95% thì tai nấm sẽ bị nhũn và rũ xuống. Bảng 1: Độ ẩm thích hợp cho sự phát triển của nấm bào ngư Độ ẩm tương đối (%) của không khí Loài nấm Độ ẩm thích hợp Thích hợp cho sự Thích hợp cho sự của cơ chất (%) sinh trưởng của hệ phát triển của quả sợi nấm nấm 17 P.ostreatus 60-70 70-80 85-90 - Nhiệt độ : bào ngư xám mọc ở khoảng nhiệt độ tương đối rộng, ở giai đoạn ủ tơ nhiệt độ cần từ 20oC – 30oC.Nhiệt độ ra quả thể là 24oC – 25oC. Bảng 2 Nhiệt độ thích hợp cho ủ tơ và ra quả thể của vài loài nấm bào ngư Loài nấm bào ngư Nhiệt độ thích hợp Nhiệt độ thích hợp Nhiệt độ thích hợp cho tăng tơ ra nấm sản xuất P.cornucopiae 250C 15 – 250C 200C ± 50C - Độ pH : Bào ngư xám có khả năng chịu được giao động pH khá tốt.

Tuy nhiên khoảng pH thích hợp nhất vẫn là khoảng từ 5 -7 - Ánh sáng : ở thể sợi nấm nuôi ngaoì ánh sang không tốt bằng nuôi trong tối. Ánh sang chỉ cnầ thiết trong giai đoạn quả thể. Cụ thể là trong giai đoạn mọc quả thể cần ánh sang nhẹ ( 200 lux), nhằm kích thích nụ phát triển. Giai đoạn phát triển quả thể cần ánh sang khoảng từ 300 lux – 500 lux để thỏa mãn yêu cầu làm quả thể lớn lên.

Nếu gaii đoạn này thiếu ánh sáng thì lượng gốc nấm ít, cuống dài , hình dạng không bình thường. - Không khí : không khí phải được lưu thông tốt, nồng độ CO2 giai đoạn ra quả thể không vượt quá 1%. Nếu nồng độ CO2 cao sẽ có hại cho sự sinh trưởng của quả thể ( cuống dài tai không bình thường, quả thể vàng và thối) 19 Hình 9 Nhà nuôi ủ 2.3 Một số điểm lưu ý trong quá trình trồng nấm bào ngư xám: - Nấm bào ngư rất nhạy cảm với môi trường. Khi nấm ở dạng san hô, nếu nhiệt độ lên trên 320C trong 1 một giờ, nụ nấm bị khô quéo lại như cỏ úa.

Cũng như trong giai đoạn này, nếu độ ẩm tăng lên trên 90% nhiều giờ thì nấm non sẽ bị thối nhũng. 20 Hình 10 Tai nấm bị khô quéo - Đặc biệt nước tưới nhiễm phèn hơi nặng (pH axit), thì tai nấm ngã vàng, tai bị dị dạng, mũ nấm khô nứt. Trường hợp phèn nhẹ cũng làm trên bề mặt mũ nấm có những nốt sần mở ra thành hốc nhỏ. - Nấm bào ngư Nhật còn đặc biệt nhạy cảm với các tác nhân gây ô nhiễm môi trường như hóa chất, thuốc trừ sâu, các kim loại nặng… cả trong nguyên liệu, cũng như không khí nơi nuôi trồng.

Tai nấm thưởng sẽ bị biến dạng hoặc ngừng tạo quả thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ