phần mở đầu. • Phần thân – hay phần giữa. • Phần kết luận – hay phần cuối. Khái niệm năng lực Theo quan điểm của các nhà tâm lý học năng lực là tổ hợp các đặc điểm thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao.
Các năng lực hình thành trên cơ sở các tư chất tự nhiên của cá nhân đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải tự nhiên mà có, phần lớn do lao động, thực hành, do luyện tập mà có. Tâm lý chia năng lực thành các dạng khác nhau: Năng lực chung và năng lực chuyên môn, trong đó: Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều hoạt động khác nhau; Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng cho một lĩnh vực nhất định của xã hôi. Khái niệm năng lực có nguồn gốc La tinh “competentia”. Ngày nay có nhiều khái niệm về năng lực khác nhau: Theo Barnett: “Năng lực là một tập hợp các kiến thức, kỹ năng, thái 18 độ phù hợp với hoạt động thực tiễn.
Chú trọng hơn đến tính thực hành của năng lực”. Rogier cho rằng: “Năng lực là biết sử dụng các kiến thức và kỹ năng trong một tình huống có nghĩa. Đề cập đến tính định lượng của năng lực”. Howard Gardner khẳng định: “Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt độn giảng dạy – học tập và học liệu, đánh giá tổng kết và hướng dẫn học tập bổ sung, môi trường học tập có kết quả và có thể đánh giá và đo được”.
Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả đề cập điển hình như Giáo sư Phạm Minh Hạc: “Năng lực là tổ hợp, đặc điểm tâm lý của con người (còn gọi là tổ hợp thuộc tính của nhân cách) tổ hợp đặc điểm này vận hành theo một mục đích nhất định, tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy”. Các tác giả Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn: “Năng lực là tổ hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với nhũng yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy”. Theo Tác giả Đặng Thành Hưng: “Năng lực là tổ hợp những hoạt động vật chất và tinh thần tương ứng với dạng hoạt động nhất định dựa vào những thuộc tính cá nhân (sinh học, tâm lý, xã hội) được thực hiện tự giác và dẫn đến kết quả phù hợp với trình độ thực tế của hoạt động”. Từ đó có thể nói năng lực là thuộc tính mới của cá nhân tạo thành điều kiện quy định tốc độ, chiều sâu, cường độ của việc tác động vào đối tượng lao động.
tất cả những tăng trưởng cục bộ từ các chức năng sinh học, chức năng tâm lý và giá trị, kinh nghiệm xã hội ở cá nhân theo một chiều hướng nhất định, đạt đạt đén một độ chín nào đó nhờ rèn luyện và trải nghiệm, tích hợp lại tương đối bền vững và chuyến biến dần thành chất khác, tức là thuộc tính mới của cá nhân cho phép làm tốt công việc hay tiến hành hoạt động đạt hiệu quả mong nuốn, trở thành năng lực. Theo từ điển Tiếng Việt, tiếp cận là đến gần, đến sát cạnh, có sự tiếp 19 xúc từng bước bằng những phương pháp nhất định với một đối tượng nào đó. Như vậy, tiếp cận bao hàm ý nghĩa: từng bước, bằng những phương pháp nhất định tìm hiểu một vấn đề, một công việc nào đó. Trong phạm vi đề tài này, cụm từ “tiếp cận năng lực” được hiểu là nghiên cứu vận dụng một số lý luận về dạy học theo TCNL.
Khái niệm kỹ năng thiết kế bài học theo hướng tiếp cận năng lực Kỹ năng TKBH theo TCNL là hoạt động sáng tạo của GV bằng cách vận dụng những tri thức và kinh nghiệm sư phạm trước đó về TKBH kết hợp với các thao tác tư duy, kỹ thuật hành động của cá nhân và những điều kiện tâm lý nhất định để hiện thực hóa thành hệ thống kế hoạch hoạt động dạy, hoạt động học cũng như sử dụng, khai thác phương tiện, tài liệu học tập nhằm giúp cho hoạt động dạy – học đạt được những năng lực cần hình thành hay đạt được chuẩn đầu ra. TKBH theo TCNL sẽ giúp GV chủ động trong việc tiến hành các hoạt động giảng dạy môn học, giúp người học phát triển kiến thức, kỹ năng, năng lực giáo dục theo mục tiêu đề ra và phù hợp với yêu cầu của nghề nghiệp. Thông qua việc TKBH theo TCNL, cán bộ quản lý có thể hỗ trợ GV, trước khi giáo viên tiến hành các hoạt động giảng dạy, hỗ trợ các ý tưởng sáng tạo của GV và hỗ trợ họ thực hiện, các GV khác có thể chia sẻ kinh nghiệm, thông tin và hợp tác trong hoạt động giảng dạy. Lý luận rèn luyện kỹ năng thiết kế bài học theo tiếp cận năng lực cho sinh viên Cao đẳng sư phạm thông qua hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm 1.
Vai trò của rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên Trong công tác đào tạo của bất kì nghề nào cũng cần phải quan tâm đến vấn đề rèn luyện nghiệp vụ. Sự thành thạo, nhuần nhuyễn tay nghề là một yếu tố vô cùng quan trọng, làm tăng hiệu quả hoạt động trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định. 20 Nghề dạy học là nghề đào tạo ra con người có đức, có tài, góp phần quyết định nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. Khác với những ngành nghề khác, đối tượng giáo dục của nghề dạy học là những con người có một thế giới nội tâm phong phú, đa dạng về tình cảm, trí tuệ và nhân cách.
Sự độc đáo về đối tượng hoạt động đã làm cho nghề dạy học trở nên rất phức tạp nhưng cũng rất vinh quang. Cũng như mọi nghề khác, nghề dạy học đòi hỏi một “quy trình công nghệ” riêng. Muốn trở thành người thầy giáo theo đúng nghĩa, giáo sinh cần được đào tạo theo một quy trình nghiêm ngặt. Quy trình đào tạo GV có trình độ CĐSP diễn ra trong suốt ba năm.
Bao gồm một hệ thống việc làm, hàm chứa nội dung cả lí luận và thực hành, nhằm hình thành cho giáo sinh những kĩ năng, kĩ xảo đáp ứng yêu cầu của nghề nghiệp và cuộc sống. Trong những năm qua, các trường CĐSP đã quan tâm tới đào tạo tay nghề cho giáo sinh thông qua các hoạt động dạy học và giáo dục trong nhà trường. Đặc biệt, thông qua học phần Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên, những vấn đề lí luận đã được đến gần hơn với thực tế, SV tự học, tự nghiên cứu và trải nghiệm, qua đó góp phần hình thành kinh nghiệm sống và các kĩ năng dạy học, giáo dục. Học phần Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình đào tạo GV.
Tác dụng đối với bản thân giáo sinh Trong thời gian đào tạo tại trường CĐSP, giáo sinh phải thực hiện nhiều hoạt động khác nhau. Những hoạt động đó có vị trí, vai trò nhất định trong quá trình đào tạo của nhà trường, trong đó hoạt động RLNVSPTX có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng đối với giáo sinh bởi nhiều lí do: Trường CĐSP có chức năng “Dạy chữ, dạy nghề, dạy người”. Đào tạo nghề bởi vậy là một trong ba chức năng không thể thiếu nhằm khẳng định sự 21 tồn tại của trường Cao đẳng. Qua việc tổ chức học tập, nghiên cứu học tập học phần Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, các trường CĐSP đã trang bị cho giáo sinh những hiểu biết sâu sắc về quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là đối với lĩnh vực giáo dục đào tạo; Giúp giáo sinh nắm vững sự đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông, cao đẳng, đại học, phương pháp tổ chức quá trình dạy học, giáo dục học sinh… từ đó góp phần nâng cao tay nghề cho giáo sinh.
Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là hoạt động mang tính chất thường xuyên, liên tục ở mọi nơi, mọi lúc. Bởi vậy, RLNVSPTX được xem là chiếc cầu nối liền giữa lí luận với thực tiễn. Đây là dịp giáo sinh đem hiểu biết của mình về lí luận áp dụng vào thực tiễn giáo dục nhằm phát triển năng lực sư phạm của bản thân. RLNVSPTX góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển năng lực sư phạm của giáo sinh, đây được coi là yếu tố không thể thiếu để tạo ra sự thành công trong sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ của người thầy giáo.
Để có được năng lực sư phạm thuần thục, giáo sinh phải có ý chí học tập, rèn luyện, không lùi bước trước những khó khăn, thách thức của thời đại. Tác dụng đối với trường Cao đẳng Sư phạm Hoạt động RLNVSPTX là một trong những hoạt động quan trọng của trường CĐSP, vì chức năng của nhà trường là đào tạo những người thầy giáo xã hội chủ nghĩa vừa “hồng”, vừa “chuyên” đáp ứng yêu cầu của xã hội thời kì công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. Qua việc tổ chức, chỉ đạo, triển khai học phần Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, trường CĐSP đã tập hợp được đông đảo đội ngũ cán bộ, GV tham gia vào việc đào tạo tay nghề cho giáo sinh. Bằng những hiểu biết và kinh nghiệm nghề nghiệp tích lũy trong nhiều năm, tập thể cán bộ, GV các trường sư phạm đã truyền đạt những bài học bổ ích nhằm hình thành cho giáo sinh những kĩ năng, kĩ xảo đáp ứng được yêu cầu dạy học và giáo dục theo tinh 22 thần đổi mới giáo dục phổ thông đang đặt ra trong giai đoạn hiện nay.
Điều đó có giá trị to lớn không chỉ trong việc rèn luyện tay nghề cho giáo sinh mà còn tạo lập mối quan hệ gần gũi, găn bó giữa thầy và trò - một trong những biểu tượng đẹp nhất của mối quan hệ cộng đồng xã hội.; đem đến cho người thầy nguồn hạnh phúc vô giá và đem lại cho giáo sinh sự cổ vũ, động viên, khích lệ rất thiết thực trong hành trình nghề nghiệp của họ. Tác dụng đối với xã hội Nội dung phong phú, đa dạng của học phần Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên đã làm cho xã hội hiểu rõ hơn tính đặc thù của nhà trường sư phạm trong quá trình đào tạo GV. Đồng chí Lê Duẩn đã nói: “Khoa sư phạm rt khó khăn, phức tạp vì mục tiu của nó là đào tạo con người”.